Nỗi Niềm

Lượt đọc: 537 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

Ê hấp, - Babette làm điệu bộ kính chào tiếng động phát ra từ máy điện thoại do Gloria vừa đặt xuống. – Có người nào đấy muốn đi nhờ ra sân bay à?

Aurore quên bẵng là giờ khởi hành đang đến gần. Chị thấy hình như mình vẫn còn cả mùa xuân dài thức dậy ở phía trước. Thậm chí chị còn tự hỏi liệu có phải mình lại muốn ra đi. Ở những nơi chị dừng chân, chị luôn bị ám ảnh để tìm cách trụ lại ở đó. Chị đã từng mong ước điều đó ở New Delhi, trong một khách sạn dành cho những nhà trí thứ quốc tế, ở đó có một thứ trà đen mà ta có thể dùng vào bất kỳ giờ nào, ngày cũng như đêm, và chị vẫn có thói quen tra thêm một chút đường khi uống. Phòng chị quay về phía công viên công cộng, nơi thường có từng đàn chim vẹt xanh thẫm tới hót ríu rít. Chị đã phải lòng đất nước Ấn Độ bởi vì, ngay trên con đường dẫn ra sân bay một chú bò tót đen tuyền nằm ngay trên đường nhựa, và một con lạc đà to lớn đội trên đầu một chiếc yên thồ đẹp tựa như vương miện đĩnh đạc, bệ vệ đi qua đường. Ngồi trên thảm cỏ cạnh đại lộ Chiến Thắng, chị chiêm ngưỡng những chú khỉ treo mình lơ lửng để chơi với những khẩu súng nhựa và những chiếc khăn gấm, cũng có vẻ máy móc như trò múa rối Người đẹp ngủ trong rừng.

Cũng giống như ở đây, chị ở cùng với toàn là phụ nữ, người Tây phương, nhà báo, nhân viên của phòng văn hóa: tất cả các bà, các cô đều ít nhiều có những nỗi thất vọng, họ chạy trốn khỏi đất nước vì những nỗi buồn tình. Các bà không ngừng kể cho nhau nghe về nỗi cô đơn chán chường, mà bằng mọi giá họ muốn quên đi, họ tìm cách động viên nhau bằng cách nói rằng họ vẫn còn trẻ để có thể gặp lại tình yêu và làm lại cuộc đời. Họ vội vã cấp tập và vụng về, sẵn sàng vui thú ngay với một thứ tự do vừa dành lại được, mà họ chưa có dịp tận hưởng. Họ hỏi nhau không biết bọn đàn ông trốn đi đâu.

Có một cái gì đó rất quyến rũ Aurore khi chị nhìn những người phụ nữ này, họ đã tạo được cho mình một sự nghiệp hết sức vẻ vang, từ bỏ tất cả mọi thứ mà họ đã có được bằng sức mạnh của chính mình để mong muốn số phận của những người mà ngày trước họ đã khinh bỉ, khi những người này bỏ dở học hành để lấy chồng. Các cô tưởng tượng ra hình ảnh của những người đàn bà này đang trị vì một gia đình đông đúc, song các bà lại chẳng biết tý gì về sự vỡ mộng của họ, về cảm giác mất mát và thiếu hụt trong cuộc sống. A, những đứa con, có những đứa con, các cô thốt lên. Con trẻ là thành lũy cuối cùng chống lại nỗi cô đơn.

Một đêm, một bà cố vấn thương mại đưa Aurore về nhà, bà ta lái xe cũng tàn bạo như ở Paris và họ đã bị kẹt lại đằng sau cái, mà theo họ có vẻ như một chiếc xe tải chạy không đèn. Aurore đã nhìn thấy hình nổi trên nền trời đêm cả nửa phần sau của một con voi khổng lồ, và chi đã hiểu rằng mình muốn về trung tâm thành phố, lấy lại danh nghĩa làm người để trèo lên con tàu Noé huyền thoại, nơi mà những người đàn ông đang chen chúc bám vào các thành cửa sổ, trên thang dây, trèo lên nóc giành giật chỗ với bọn khỉ.

Đối với Aurore, dưới hình thức hoa mỹ hơn, Middleway – trường đại học Oxford thu nhỏ của người Mỹ này, với sự đa dạng và phong phú về thể loại đã có thể hiện dưới một hình thức khác của con tàu Noé mà chị mong muốn thực sự được trèo lên. Hôm trước, trong khi đi thăm vườn thú, chị đã rất ngạc nhiên ghen tỵ với những con thú nhốt trong lồng mà người ta gọi đó là không gian sống. Những nơi ấy mới thật là rộng rãi, thoáng mát, được bảo về bằng những lớp kính dày không còn những hàng rào sắt như ở châu Âu. Nếu như người ta cho chị một chỗ nhỏ ở đó, thì chị sẽ tình nguyện ở giữa những con đười ươi và tinh tinh ngay. Điều đó như đã trở thành lệ, kể từ khi chị còn bé tý, chưa có một lần nào đi chơi ở vườn thú mà chị lại không tìm cách chọn cho mình một vị trí, và chạy đôn đáo tìm gặp người giữ vườn, cầu khẩn họ chấp nhận ý kiến của mình. Dì Mimi đã nắm thóp được trò chơi này, bà nhận thấy ở đó một đầu óc khéo tính toán và chính nó đã gỡ rối cho bà trong nhiều công chuyện, nhưng cũng chính nó luôn dẫn dắt bà đi hết phòng trẻ này đến phòng trẻ khác: Ở đây các cháu sẽ thoải mái hơn để mà viết! Nhưng ai đã từng ngồi viết trong phòng trẻ? Và những tác phẩm nào đã được hình thành từ nơi đây?

Ngôi nhà cháy của Aurore mãi mãi không bao giờ được xây cất lại. Chị luôn tìm kiếm nơi chốn và nếu có đủ sức, chắc chị đã có thể gây dựng lại, để viết, chị đa nói ngay sau đó như một sự đảm bảo. Khi chị đến thăm những miền đất lạ, những vùng duyên hải mới tinh khôi, khi máy bay vừa chạm đất, chị liền đánh dấu ngay một eo đất giáp biển, nơi chị có thể độc quyền sở hữu nó mà không gây ảnh hưởng gì đến vẻ đẹp của thiên nhiên; một hòn đảo nhỏ trong quần đảo này chẳng hạn, nhưng phải là hòn đảo nhỏ nhất, một hòn đảo trơ trụi chưa có chân người; những trang trại mênh mông của xứ Basque chìm trong đổ nát: Mái thủng lỗ chỗ, mặt tiền loang lổ: ngôi nhà mà những người canh giữ không còn sử dụng nữa nằm sâu phía cuối vườn, một ngôi nhà thực sự chỉ có độc một chiếc cửa ra vào chật hẹp với một cánh cửa sổ duy nhất và một khoảng vườn.

Ngay trước lúc khởi hành đi Middleway, chị đã gợi ý với một số bạn để mua lại ngôi nhà trái mà họ không còn sử dụng đến nữa, một túp lều được dựng lên trên nền đất trần, để chứa bừa cáo, cuốc xẻng nhưng nó lại nằm trong một khu vườn tuyệt đẹp với một giàn nho xinh xắn mà vào mùa hè chị có thể sử dụng làm nơi viết. Chị cảm nhận được sự bối rối của họ với ý nghĩ rằng bước đầu là chiếc lều này, sau đó chị sẽ còn muốn nới rộng ra. Họ đo lường mối quan hệ tình bạn giữa họ với Aurore không vượt quá niềm vui được đón tiếp chị ba lần trong một năm để ăn tối. Gặp chị vào các mùa xuân, hạ, thu; và có thể vào mùa đông cùng với một chảo lửa lớn: Bởi các bọn nhà văn mảnh mai kiểu này có sức chịu đựng ghê gớm lắm! Tất cả những bằng chứng đó đối với họ là không thể chấp nhận được: - Ô không, Aurore, chị xứng đáng với một tòa lâu đài kia! Cô nàng này đang cần một cái chuồng tàm tạm thì có, một cái chuồng khỉ hay chuồng của tất cả các loại thú khác trong sở thú của Middleway.

Ở Paris, chị sống trong một cái ổ chuột mà, anh Bác sĩ – người mà thỉnh thoảng chị vẫn chia sẻ một phần đời, thường hoa mỹ gọi là xưởng vẽ. Nó chỉ là một phòng duy nhất, đó là tất cả những gì mà chồng chị để lại. Nó gần sông Seine đến nỗi mà độ ẩm đã làm tróc lở từng mảng ván lót sàn, tường vôi rộp lên bong ra; nó làm kẹt chị, khuỷu và cổ tay đè lên mặt giấy cong queo như thể chị vừa mới bôi lên đổ mồ hôi và nước mắt của mình. Tuy nhiên, chị muốn ở lại đây và anh Bác sĩ thì hoàn toàn đồng ý với chị, nó mang lại sự tự do cho chị - một hàm ơn nho nhỏ đối với cuộc đời nghệ sĩ. Không có gì ngoài những đồ dùng cần thiết: Những bóng đèn trần, tường sơn trắng, một cái bàn, một cái ghế, một tấm đệm, một bồn tắm đặt trên góc tấm thảm lót sàn. Một trai phòng thực sự, Gloria đã nói thẳng ra nhận xét của mình trong lúc lùng sục vào tất cả mọi nơi chốn; chị ngắm nghía những hình ảnh lỗi thời một cách thích thú của một kẻ ngoại quốc học tiếng bản xứ theo kiểu “Mì ăn liền”, song lại muốn hiện thực ở đây và chống lại mọi thứ. Với một cái chao đèn thì chắc chắn chị ấy sẽ nói về một RẠP HÁT XINH XẮN, Aurore tự nhủ; còn với một chậu hoa đặt bên cửa sổ thì chắc hẳn rằng chị ấy sẽ đề cập đến MIMI PINSON.

Gloria đã xâm nhập vào được một nơi mà Aurore chưa hề tiếp ai bao giờ, chị từ chối ngay những cuộc hẹn tại đó, vội vàng chạy xuống gặp gỡ mọi người khi họ bấm chuông và gọi ầm ĩ tên chị từ tầng trệt: Tôi xuống ngay! Và chị ngăn lại ở cầu thang làn sóng tràn lên không gì cưỡng lại được của những vị khách không mời mà đến. khi không phải đi công tác, chị có thể nằm dài hàng giờ trên tấm đệm, mắt dán chặt vào vầng sáng trên trần nhà, hoặc trầm mình trong bồn tắm chờ hơi nước rất nóng bốc lên, tan ra, bám vào tường tạo thành những giọt nước nhỏ xíu rồi lăn dài trên bờ tường lát men trắng; khuôn cửa sổ, nơi chị nhìn thấy bức tường trước mặt chỉ cách chỗ chị đứng chừng hai mét, được chạm khắc, đắp nổi bởi muôn vàn những bãi phân chim bồ câu. Những hình hài ghê sợ do phân chim có chất a-xit đã ăn mòn, đục sâu vào đá tạo lên, từng khối nhão nhoét uế tạp mà chỉ cần một chỗ nào đó có chút lồi lõm là đọng ngay lại, và cả cái khối bùng nhùng, nhớp nhúa ấy ngự trên mặt thềm lung lay này trông giống như một cái ống khói lò sưởi nhão nhẹt.

Khi mua cái “ổ chuột” này với người chồng cũ, họ cũng có thể lựa chọn một căn hộ khác nằm cùng khu chung cư, giữa một căn hộ nằm ở tầng trệt cạnh sân đối diện với một gian bếp của một quán bar chuyên chế biến món đặc sản khoai tây rán mà người hầu bàn lực lưỡng thường chế biến ngay trên sân nhà, và căn hộ nằm ở tầng hai này đối diện với một bức tường sáng lóa của một khu nhà cao tầng đã bị bỏ hoang, người bán đã cho dọn sạch tất cả các đồ trang trí bằng một đợt tu sửa mau lẹ làm cho ánh nắng mặt trời chảy tràn trên tường. Vì lẽ đó, họ đã tậu “cái ổ chuột tối thui” này, nhưng ánh nắng mặt trời không bao giờ đến được bức tường sáng lóa đó, và lúc này nó đã bị mang bệnh phong hủi do thời gian. Nhưng chị cũng không hề nuối tiếc căn hộ ở tầng trệt, bởi con số tiêu thụ khoai tây rán ở quán bar tăng trưởng rất nhanh, nhiều đến nỗi mà hàng sáng chiếc sân nhỏ đã trở thành vựa chứa khoai tây. Còn tối đến, cái nắp cống bị ứ nước lóng lánh toàn dầu rán khoai.

Sau mỗi lứa ra ràng, ngược hẳn với ý kiến của Leila – người luôn ủng hộ chăm sóc chim bồ câu, Aurore không còn biết phải làm gì để xua đuổi những tên xâm lấn mới. Đó là chủ đề chị thường đưa ra bên bàn khám của anh Bác Sĩ nhằm thu thập thêm nhiều ý kiến có thể giúp được chị. Chẳng ai thờ ơ với chủ đề này. Tay Nhân Viên Thuế Vụ kể rằng hắn đã đặt những túi bóng đựng đầy nước lên trên mái nhà, ngay phía dưới những nơi mà lũ chim ra ràng dùng làm tổ, rồi bất ngờ làm nổ tung chúng lên. Một cựu sinh viên trường đại học tài chính lại giải thích rằng hồi ở trường, anh ta thường bắt lũ chim câu, ấn vào hậu môn chúng một quả pháo đã được châm ngòi, sau đó thả ra làm chúng nổ tung giữa bày đàn đông đúc. Một nhà báo nữ nhớ lại và kể rằng người chồng đầu tiên của chị - một luật sư còn rất trẻ, vậy mà không một ngày nào đi làm về anh ta lại không rẽ vào một công viên, bắt vài ba con làm thức ăn cho bữa tối. Điều đó làm chị ghê tởm, song chị vẫn vặt lông và chế biến như thường. Một nhà chuyên nghiên cứu về độc dược lại tiết lộ cho họ điều bí mật: nếu ăn thịt chim bồ câu trong ba mươi ngày liên tiếp có tác dụng đầu độc máu,còn hiệu quả hơn rất nhiều lần so với bất kỳ chất thạch tín nào, và có thể đưa vị hôn thê không còn chút mặn nồng nào nữa về cửa chúa mà không để lại một dấu vết nào hết. Nhà báo nữ đột nhiên trở nên trầm tư như thể chị đang đứng trước một cơ hội đã bị tuột mất.

Câu chuyện về quả pháo nổ tung gây ấn tượng cho Aurore bởi lẽ nó tự hé lộ ra ngoài thói dã man tàn bạo, hành động nhỏ mọn điên rồ và tính toán. Bởi phải dũng cảm mới có thể tra tấn một sinh vật sống như vậy, ấn vào hậu môn nó một trái pháo mà phải nằn nì mãi mới mua được trong một cửa hàng đặc biệt. Trong một buổi khiêu vũ của sinh viên trường y, Aurore đã mang về một chiếc ống thổi bằng bìa cứng mạ vàng và một loạt những viên đạn giấy nhiều màu. Khi nhìn chị nhét chúng vào đầy các túi, anh Bác Sĩ đã cho chị là đồ trẻ con! Chị đã có một loại vũ khí có thể chiến thắng được chúng. Chạy hối hả về phía cửa sổ khi về đến nhà, hết sức dướn cổ thổi. Những con chim bồ câu nghểnh cổ nghiêng ngó, ngạc nhiên nhìn chị và còn pha chút bực bội, giống như anh Bác Sĩ hồi nãy bị một nữ sinh viên nội khoa phủ đầy mình những mảnh giấy hoa nhỏ li ti bay lả tả!

Có lẽ cả súng ngắn lẫn súng săn cũng không làm cho lũ chim câu lo sợ, chúng biết rằng chúng được khoảng không gian chật hẹp ngăn cách Aurore và chúng che chở. Hơn nữa từ hai, ba năm nay, chúng quyết định tấn công cửa sổ, nơi khi viết chị vẫn thường tựa vai phải vào. Chị uổng công đe dọa chúng, chúng luôn say sưa tán tỉnh nhau hàng giờ, đứng bất động bên nhau trong tiếng gù gù tưởng chừng như không bao giờ dứt. Chúng còn không thèm đếm xỉa đến những cái hua tay loạn xạ của chị để xua đuổi chúng, giờ thị chị chỉ còn cách là đứng lên, tay lăm lăm chiếc quản bút vẫn còn chưa chấm mực đập vào cửa kính. Chúng chỉ rời đi khi chị mở toang cả cánh cửa sổ, chờ đợi để chơi trò khủng bố mà mà trò chơi này buộc chị phải đứng bám riết bên thành cửa sổ.

Chúng thông thuộc hết cả thói quen của chị mà chị không nghi ngờ gì, chúng biết chị sẽ đi công tác và bỏ mặc bậu cửa sổ cho chúng trong nhiều ngày trước khi chính chị biết điều đó. Thế là chúng tha hồ nhởn nhơ, với vẻ mặt hoan hỉ, xòe rộng đôi cánh hơn thường lệ chao qua đảo lại trước mặt kính. Và nếu như mọi người chậm trễ đến đón chị, chúng bày tỏ sự sốt ruột bằng cách giận dữ xòe đuôi dụi túi bụi vào bức tường trước mặt. Tiếng chuông cửa reo báo hiệu rằng cuối cùng thì người ta cũng đến, chúng vội vàng đổ xô lại, chị vẫn còn đứng bên cầu thang cạnh cửa ra vào đang nửa đóng nửa mở, thì chúng đã bay ào đến làm chị bị phân tán, nửa muốn quay lại để xua đuổi chúng, nửa lại không muốn người khách có mặt trong phòng mình, mà lúc này người đó đang lộp cộp bước lên cầu thang. – Tôi xuống ngay đây! Chị gào to hết cỡ và xách đồ chạy xuống. Và lũ chim đã kịp tí tởn với nhau.

Chúng nghiêng nghé nhìn ngó khi chị tắm, khi người không được khỏe chị thường tắm hai hay ba lần trong một ngày và điều đó lại càng làm cho tấm ván sàn bong mau lẹ hơn. Buổi sáng chị mở mắt ra dưới cái nhìn đỏ au của chúng. Chúng biết rằng chị sẽ không ra khỏi giường, hay ra khỏi bồn tắm để xua đuổi chúng: quá ốm yếu, quá chậm chạp, quá lười biếng, chúng khinh rẻ chị. Chị nhắm mắt lại để khỏi nhìn thấy chúng, đôi khi chị còn dùng cả hai ngón tay bịt chặt lỗ tai để khỏi phải nghe thấy những tiếng gù vang vọng. Chị hy vọng những mùa đông thật lạnh sẽ đóng băng hết bọn chúng, hoặc những mùa hè thật nóng sẽ thiêu đốt hết. Chúng vẫn cứ ngày một đông hơn.

- Chuyện này không đùa được đâu, - anh Bác Sĩ nói với chị, - chị đã nhiễm một loài vi rút sống ký sinh trên cơ thể những loài chim… do bởi chị rất yêu quý các loài động vật, chị bảo vệ tổ chim, giúp cho trứng nở, nuôi dưỡng nhưng chim non mồ côi, nên anh ta tỏ ý nghi ngờ và hoàn toàn không muốn tin khi chị nói rằng chị ghét cay ghét đắng lũ chim và cho rằng chúng làm hoen ố bầu trời. Thế tại sao em lại không muốn dọn đến ở cùng tôi?

Anh Bác Sĩ là chủ nhân một căn hộ rộng rãi tràn ngập ánh nắng mặt trời gợi ý với chị.

- Em có thể đặt bàn viết trong phòng trẻ!

Chị đã phải nhập viện vào khoa của anh do những căn bệnh nhiệt đới. ngay từ lần đầu tiên chị gặp anh, chị vừa từ Bresil trở về, anh đã nghĩ đến một căn bệnh do một thứ vi rút sống ở loài vẹt gây ra. Anh vào phòng chị cùng với một tốp sinh viên, đeo một chiếc tạp dề màu trắng bó sát hông làm cho anh có vẻ như cao lớn và mảnh mai. Cặp kính trễ xuống chỏm mũi, mọi người kêu anh là giáo sư. – Gần đây chị có bị con chim vẹt nào mổ không, chị có trong gian phòng chung với những lồng chim vẹt không? Hôm sau anh quay lại gặp chị cùng với hai người nữ y tá để thông báo rằng người ta sẽ chuyển chị sang khoa phổi, căn bệnh này chỉ là do vi rút chim bồ câu của paris gây ra: Chị ở phố sông Seine, thảo nào! Sau đó anh quay lại: một căn bệnh do vi rút chim gây ra trên một vùng đất ẩm với một cuộc sống nhiệt đới. Chị đi du lịch nhiều lắm phải không? Anh giải thích rằng anh vẫn giữ chị lại ít ngày nữa để theo dõi.

Căn bệnh này cũng lạ lùng như người dân Paris, cũng dai dẳng và khó chịu. Chưa có một tối nào anh rời bệnh viện mà lại không tới để chào tạm biệt chị. Anh bận một bộ đồ com-lê kiểu ông hoàng xứ Galle, chị nghe thấy tiếng chìa khóa kêu lách cách trong túi anh. Anh không có thời gian để đọc những cuốn sách của chị, nhưng anh lại mang đến cho chị những cuốn sách mà anh viết Người bệnh, thuốc ký ninh và cơn sốt , một câu chuyện về ngành thuốc đã gây tiếng vang cho uy tín cá nhân của anh trong viện hàn lâm y học. Một hôm, anh đến bên ngồi bên giường chị, với vẻ khỏe khoắn chị gập đầu gối lại, anh nhận thấy thời kỳ dưỡng bệnh của chị tiến triển rất tốt. Cầm tay chị bắt mạch, anh tuyên bố: Anh hơi phân vân không biết có nên cho em xuất viện hay không.

Thế là xong, Aurore thốt lên. Những câu chuyện tình không làm chị thấy hưng phấn và chị cũng đã gần với lứa tuổi và tâm trạng của nữ phu nhân Lafayette, người ái ngại xót thương cho những người bạn khi họ dính dấp vào những cơn hiểm họa của ái tình. Nhưng mối tình này cũng không hẳn có dáng dấp của một mối tình thực sự. Anh Bác Sĩ cũng đã cống hiến cho niềm say mê ấy một cuộc hôn nhân, hai đứa con lúc này đã lớn, và một mối quan hệ với một nữ diễn viên nổi tiếng, Aurore chỉ là người thay thế nữ minh tinh, một cuộc phiêu lưu nghiêm túc hơn, kém phần rực rỡ hơn, nhưng lại có phần bền chặt hơn.

Anh giới thiệu chị với đồng nghiệp:

- Mọi người có biết Aurore Amer không?

Họ không biết chị, anh hình như bị choáng:

- Em hiểu không, bọn họ lại không biết em!

Phản ứng thông minh nhấn chìm thêm Aurore trong hỗn độn của sự vô danh, bởi cũng chẳng để làm gì khi cố tạo ra một dáng vẻ giống người nổi tiếng và được đăng ảnh trên báo chí, cũng giống như bọn trộm cướp giết người, để rồi cái tiếng thơm thoáng qua ấy lại nhấn chìm ta vào hư không.

- Và em vẫn còn hiểu biết lắm về chuyên ngành y, - anh Bác Sĩ tiếp tục nói.

Vẫn là chuyện đã xưa lắm rồi. Cả hai bắt đầu nghĩ đến chuyện bình thường hóa mối quan hệ của họ, vẫn ở thời kỳ ai không biết đọc, không biết viết thì cũng không biết lấy vợ lấy chồng. Anh luôn có Viện hàn lâm y học trong đầu: viện này nằm không xa nhà chị là bao, đến nỗi mà mỗi lần anh nói về nó thì anh lại nhớ đến Aurore thì anh lại nghĩ đến nó, và điều đó thì ngày càng trở nên thường xuyên hơn. Họ chưa đạt tới đỉnh cao của hạnh phúc, nhưng Aurore cũng lấy làm hài lòng khi kết thúc những chuỗi ngày dài lẻ bóng đơn côi. Về cuối đời, là một phu nhân đáng kính của một thành viên viện hàn lâm vẫn đáng giá hơn là trở thành một người mẹ của lũ chim câu, một mụ phù thủy già với những cử chỉ điên loạn, bởi vì có cả hàng chục người làm chứng là chị bị điên, và người ta vẫn thường nhìn thấy chị vung tay lia lịa bên thềm cửa sổ và chửi bới một bức tường mù. Lũ chim câu chờ đợi giây phút người ta đến đem chị đi trong sự ngượng ngập để tràn vào trong phòng bằng ô cửa sổ vỡ, để có thể ngủ trên bàn viết và ị lung tung vào những trang bản thảo.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của paule constant