Nỗi Niềm

Lượt đọc: 559 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

Làm sao lại không căm giận toàn thể loài người của một thời tuổi trẻ bị vùi dập gãy nát, của một tuổi thơ qua đi trong nhiễu loạn và mất mát chẳng để lại một chút gì, không một miếng rẻ rách, không một thứ đồ chơi hay một cuốn sách nhỏ để ta nhớ về nó. Không, chẳng có một thứ gì hết. Nada. Trong đống hành lý 20 kg bị cân đi cân lại dành cho mỗi một người khách hồi hương - cái từ này làm chị hãi hùng mỗi khi phải nhắc đến nó - không có lấy một chút gì gọi là kỷ niệm cá nhân cho chính mình; bù lại, một quyết định được rút ra nhanh chóng trong những giờ phút cuối cùng, họ đã đem theo một chiếc nôi nấu Couscous. Nó đã được xếp gọn vào đống hành lý. Mặc cho con gái phản đối, cha chị đã buộc nó vào cùng với chiếc va li của chị. Cả nhà bị lục tung, mọi thứ bị đảo lộn, lần cuối cùng chị đi khắp lượt căn phòng, chậm rãi nhìn kỹ từng thứ đồ vật như để khắc sâu chúng vào tâm khảm, chị dưa tay vuốt ve chúng, sờ mó vào từng mẩu cửa số trước khi đóng chúng lại, cố ấn sâu vào thớ thịt, vào móng tay mình những mẩu sơn xám rơi ra, tự làm đau mình, thêm một nỗi đau nữa nhưng đậm đà mùi thơm của cây vả mọc cao bên cạnh cửa sổ và mùi thơm của cây hoa anh đào hồng trong sân.

Nếu như họ đã có một ảo tưởng khi ra đi là để tìm lại được một quê hương xứ sở, thì ngay lập tức những giây phút đầu tiên cập cảng Marseille họ đã thất vọng buồn nản, vẫn cũng là một thứ biển, trên đầu vẫn cũng một trời cao, nhưng muôn thuở không bao giờ là cùng một đất nước được. Trong các ngôi nhà, trong các khu chung cư, luôn có một cái gì đó hẹp hòi, cổ lỗ, một cái gì đó hôi khét, đắng ngắt, một cái gì đó khó nuốt trôi và đầy vẻ ngượng ngùng e ngại, được phản ánh rõ ràng trong thái độ của người dân bản địa, họ coi gia đình chị là dân ngoại quốc xa lạ, là những kẻ đến xin xỏ, nài van, những kẻ bị mắc bệnh dịch hạch. Bọn họ không cùng một cộng đồng!

Chị phát hiện ra rằng gia đình mình không phải là người Pháp, rằng họ đang đòi thuộc về một đất nước mà họ chỉ được biết qua các hình ảnh, một đất nước trong ba màu xanh đỏ trắng không giống như đất nước mà từ đó họ đã xuống tàu ra đi. Chị đã phát hiện quá muộn là giữa thế giới của những người A-rập và những người bản địa này đã có, đã được dựng lên những bức tường kiêu ngạo, những hình ảnh của một thứ lịch sử chưa bao giờ tồn tại. Giống như chị bây giờ mới nghĩ đến, lẽ ra tất cả bọn họ nên tập trung lại xung quanh một thực tế địa lý, khả dĩ và chắc chắn hơn, nó đang kêu gào quyền đồng nhất: Chỉ cần hé mở mắt, phập phồng lỗ mũi, cảm nhận được những trận gió sa mạc làm khô làn da hoặc ngược lại, cái lạnh ẩm ướt kéo đài của mùa đông ở miền Ðịa Trung Hải, làm bạn lạnh cóng, những bàn chân trần trên nền nhà bếp lát gạch sành xanh trắng.

Mùa hè đáng nhớ năm 1962 ấy, họ đã phải chịu đựng nước Pháp ròng rã, giữa Marseille và Avignon, sau đó giữa Avignon và Cảng Dê, ở Cảng Dê họ bị lạc. Cảng Dê đẩy họ đi Toulouse. Và chính từ Toulouse họ tới được Bordeaux, nơi mà họ đã tự huyền hoặc được ngửi mùi đại dương như một thứ mùi của tự do, nhưng đó chỉ là sự hít thở hương vị của thành phố lớn, nhựa đường mềm nhũn, những tấm cửa sắt luôn khép chặt và những tên trông coi khách sạn ngạo nghễ. Họ đã chọn khu Phương Ðông, không những nó ở gần ga mà còn bởi quang cảnh đổ nát của nó, giá hết sức rẻ mạt. Sự cùng quẫn tự quảng cáo cho chính mình. Ngay cả khi nó sạch sẽ... Bà ngoại chị đã nói thế. Bây giờ nó lại không sạch, nên bọn đàn bà bắt đầu rửa dọn, còn lũ đàn ông di dạo trong thành phố để xem xét tình hình, và... để mua báo. Babette nhớ những tấm đệm mút được lật ngược lại, những vết bẩn loang lổ trên các tấm ga trải giường và họ chỉ rửa những chỗ đáng nghi ngờ, sàn nhà được quét sạch, bụi dính đầy giữa hai đầu tấm bìa cứng, tờ báo được gập gọn lại dùng làm xẻng hót.

Ngay lập tức Babette đã hiểu rằng họ sẽ lại ở túm tụm, trong nhóm cộng đồng này gồm bốn người đàn bà và ba người đàn ông, phải lo chỗ ở cho bảy người, bảy lỗ miệng phải nuôi ăn, có lẽ họ sẽ chẳng có lối thoát nào hết. Nếu như lúc đó chỉ có một mình trên chặng dường lưu lạc, chị đã có thể dễ dàng tìm được một chỗ trên tàu. Một thiếu nữ ở tuổi 16, tóc dài phủ kín bờ vai, dáng người mảnh dẻ; và bộ ngực phổng phao, thì luôn tìm được một chỗ ngồi. Buổi tối, có lẽ sẽ có một người đàn ông nhường chỗ để cô có thể ngả lưng một chút trong lúc anh ta ra ngoài hành lang hút thuốc, và có lẽ anh ta sẽ thỉnh thoảng ghé nhìn qua vai mình để quan sát cô. Chắc cô cũng sẽ he hé mà nhìn ngắm anh ta qua hai hàng mi. Nhưng ở bất cứ một cửa nào trên tàu, khi cửa mở, chị đến dẫn đầu cả một đoàn người trong gia đình, nhễ nhại, tuyệt vọng và rời rạc, một gia đình chỉ còn dựa dẫm được vào chị, và đầu tiên là họ cố gắng sắp xếp những chiếc va li mà lẽ ra họ phải để chúng ở cuối hành lang toa tàu, nhưng họ lại kéo chúng vào trong phòng ngồi vì sợ chúng sẽ bị đánh cắp.

Lẽ ra, chị cũng có thể giả đò bị lạc và bỏ mặc cả nhà ở Marseille, nhảy tàu đi Paris, lìa bỏ hy vọng được hưởng gió biển. Đành phải bịt chặt mũi như khi ta nhảy xuống nước, và phải nhắm nghiền mắt để nhảy vào một nước Pháp thù nghịch, tương phản với đất nước mà họ đã phải rũ áo ra đi. Một đất nước thực sự xa lạ lẽ ra đã không để lại cho chị một cảm giác lờ lợ chua loét của một vùng đất có hơi hướng dây mơ, rễ má họ hàng chẳng còn biết từ đời nảo đời nào, và mọi quan hệ gia đình bị cắt đứt hẳn với nó. Giống như mẹ thì chăm sóc bà, rồi bà lại lo lắng cho đứa em gái: - Có ai nhìn thấy con nhỏ ở đâu không? Chị phải chịu trách nhiệm mang vác chiếc nồi nấu Couscous của gia đình. Chị nhớ rằng có một việc nhục nhã là phô ra một cái thùng giặt mà bọn anh em trai thì đùn đẩy đứa này cho đứa kia, không chịu mang vác cái vật khổng lổ như bụng bà chửa ấy. Babette buộc nó lại đằng sau lưng như kiểu một cái ba lô, để có thể xách chiếc va li của chị bằng tay được nhẹ nhàng, sau đó lại còn thay phiên với mẹ để xách chiếc va li của bà ngoại.

Chị nghĩ đến lúc hồi hương không còn chiếc nồi nữa mọi sự sẽ dễ dàng hơn nhiều, không còn sự mong muốn tuyệt vọng của mẹ tin rằng một ngày nào đó bà lại xây dựng xung quanh mình một tổ ấm gia đình. Chị phải mang theo chiếc nồi đó, mặc dù sự tức tối lộ rõ trong ánh mắt, với một ý chí sắt đá tuyệt đối không nhân nhượng: Tôi rời bỏ đất nước Algérie, nhưng tôi không bao giờ lại có thể rời bỏ được chiếc nồi nấu Couscous!

Babette dũng cảm tự nguyện xếp chiếc nồi lên lưng để tránh cảnh cãi cọ chắc chắn sẽ xảy ra giữa cha mẹ, rồi đến nước mắt của bà và những lời đã kích khích bác của lũ anh trai. Babette buộc nó vào giữa hai bả vai, bởi chị yêu mẹ, và trên một phương diện nào đó cũng như thể chị đang cõng mẹ.

Chính tại Cảng Dê, khi người kiểm tra vừa giải thích lại vừa chế diễu họ rằng họ đã nhầm hướng và trong điều kiện như vậy chuyến đi sẽ kéo dài gấp hai lần và kinh phí còn tăng gấp đôi, cái nhìn của Babette về cuộc đời đã thay đổi. Lần đầu tiên chị hiểu rằng sức mạnh và khả năng ứng biến không bao giờ thuộc về phía đàn ông, và sự kém cỏi lại thuộc về phía đàn bà. Chị đã chứng kiến cảnh bố và hai anh trai đi hỏi thăm đường trên sân Cảng Marseille, và cuối cùng chẳng có được một thông tin khả dĩ nào trong đám hỗn độn ấy. Họ hỏi đi hỏi lại những người bộ hành đồng cảnh như họ, rồi kết bạn, lấy lại niềm hy vọng. Trong tàu, bố đã giải thích cho cả nhà về chặng dường mà một người gốc Mostaganem đã hướng dẫn cho ông hồi sáng. Chỉ có cái tên Mostaganem là có vẻ thật nhất. Babette đến tra tấm bản đồ nhóm đặt ở cuối toa tàu, chị phát hiện: Cảng Dê thực ra chỉ là một ngõ Cụt, nằm xa con lộ lớn dần từ Marseille đến Bordeaux. Nhưng lúc đó, lời nói và sự phán xét của bố đối với chị còn có giá trị hơn nhiều so với cái thực tế lồ lộ trên bản đồ.

Cha Cohen của chị lúc đó có thể là người khoẻ mạnh nhất trong khu phố nơi ông ở, là người cha bất di bất dịch trong gia đình, nhưng ông lại không biết đi tàu. Ông kéo theo một gia đình lang thang vật vờ do sự quyết định nóng vội của mình mà chuyến đi đó chỉ là một khúc nhạc dạo đầu. Ông nhầm lẫn luôn luôn nhưng với thái độ hách dịch, lại luôn có hai con trai đi kèm trong mọi công việc, bề ngoài chúng làm tăng oai phong mỗi khi ông cần hỏi han hay thỉnh cầu điều gì, còn trong gia đình chúng luôn biện bạch cho sự thất bại của ông.

Sự ngờ vực luôn ở trong tim đàn bà. Kín đáo, các bà không bao giờ nói ra chuyện đó, thậm chí ngay cả khi họ có thể nói ra được, họ chằng thể nào thay đổi được tình thế, họ lại còn rất sợ làm tổn thương lòng kiêu hãnh của người cha, làm ông ngã xuống từ vị trí tôn kính do chính bọn họ đã tôn lên. Khi ông vấp ngã, mọi người an ủi ông, than vãn về số phận đó. "Chúng ta là những người không gặp may", họ nhắc đi nhắc lại. Sau khi đã xòe rộng những ngón tay thẳng, môi mím chặt, lũ đàn bà tiếp đón sự rủi ro và làm cho nó một chiếc tổ êm ái. Giữa lòng gia đình. tất cả lại như hướng hết về nó. Babette thấy sự rủi ro đó ngày một mập mạp lên giống như một con mèo già trút mùi hôi thối xuống cái đệm lông vũ của nó. Cuối ngày, mọi người lần lượt đến vỗ béo thêm cho nó: người này thì bị từ chối việc làm, người kia thì bị điểm kém, kẻ khác thì bị tai nạn xe máy, người nữa thì bị đau dây thần kinh. Được ních cho đầy bụng, không còn chịu đựng nổi. Sự rủi ro nôn thốc nôn tháo, mọi người lại lo cho nó, bắt nó ăn thêm, ít nhất là phần của người cha.

Gloria đã tỏ tường hết mọi điêu. Babette đã có thời gian kể cho chị nghe cũng với nỗi cay đắng giận dữ, nhưng Gloria cũng luôn làm cho Babette hiểu rằng tha hương lại là một sự may mắn của họ, rằng sự thành công về mặt xã hội của họ đã bù đắp lại cho sự bất hạnh của một thời thơ trẻ, hay một thời thanh xuân “bị xáo trộn”. Nếu như ngay từ lúc bạn đến Bordeaux người ta đã báo cho bạn rằng ba mươi năm sau bạn sẽ trở thành Trưởng phòng quan hệ quốc tế của trường Ðại học Missing H. University bạn đã ký cả hai tay ấy chứ!

Lẽ dĩ nhiên là thế, chị sẽ ký cả hai tay!

Gloria còn thêm một lý lẽ nữa mà qua sự thành đạt cá nhân của mình, chị cố gắng làm cho Babette hiểu và chấp nhận sự độc lập ở Algérie: Nếu như Babette vẫn cứ ở lại quê nhà, liệu chị có được cái may mắn là đến trường đại học không? Không đời nào cha Cohen lại đồng ý để cho đứa con gái một thân một mình ra đi lập nghiệp ở Alger. Trong trường hợp tốt nhất là có được một suất ở trong ký túc xá, có lẽ chị sẽ chọn trường sư phạm, nhưng còn sau đó thì sao?... Sẽ lại lấy một người chồng trong trong phạm vi quen biết của gia đình, chắc sẽ với Cohen thứ hai, trẻ hơn bố chị và đã kịp lộ rõ thói hống hách cửa quyền.

Babette công nhận rằng về điểm này thì Gloria có lý. Nền độc lập ở Algérie đã bịt miệng bọn đàn ông bị thua hai lần trong đất nước của họ và trong gia đình họ, do vậy kéo theo sự độc lập của những đứa con gái họ, nhưng của những đứa con gái biết nắm thời cơ. Việc còn lại của những người cha và những người anh trai là phải làm quen với một mối nghi ngờ nặng nể về giới tính mà họ tiếp tục làm đè nặng xuống những người đàn bà trong gia đình.

- Em biết tỏng tong chị làm gì ở ngoài đường, - thằng em trai út đã phủ đầu chị ngay từ mấy tháng, trước khi họ xuống thuyền đi Pháp.

- Tao làm gì ấy à? Chị bẻ lại, ngạc nhiên, khi nhận ra thái độ kiêu căng nhường ấy nơi một thằng bé mới lớn, tao đi học, tao làm việc!

- Chị mà làm việc, tưởng em mù đấy à! - Thằng em út tiếp tục nói với cái nhếch mép dâm đãng.

Đến Pháp, là bắt đầu cuộc săn lùng đứa em gái bỡ ngỡ và choáng ngợp trước cảnh phồn hoa đô hội, luôn bị trách mắng là nói dối - để dấu giếm nơi em thường đến, lúc nào cũng chậm trễ, luôn phải lau sạch những vết son phấn còn sót lại trong hành lang, và luôn dấu đôi giày ban của mẹ trong túi mua đồ ăn khi đi chợ để làm cho ra vẻ quyền quý. Ðồ điếm! Bọn chúng đã găm lên như thế vào mặt em, rồi những cái tát trời giáng còn hằn rõ, chúng túm tóc, dọa ném em ra ngoài của sổ. Babette biết lũ đàn ông đánh phụ nữ như thế nào: đầu tiên bọn chúng to con hơn, chúng đánh phần phía trên đầu mà các bà các có rụt cổ lại giữa hai bả vai, sau đó bên cạnh sườn và vào bụng đang để trống vì phải che mặt. Tao đập vỡ mũi mày ra, như vậy mày còn có thể chạy dông mãi ngoài phố được không!

Nanh vuốt của sự rủi ro lại nhú ra, và nó lại nhảy cẫng lên vì vui sướng. Trong nhiều tháng trời, những tháng trước ngày chết của đứa em gái út, lũ anh trai dồn hết sức lực để theo dõi em. Thay vì tìm kiếm việc làm, chúng theo em trên phố, chúng nhảy xổ vào em như loài chó săn để hòng bắt quả tang em. Hoảng loạn, em dẫn chúng đến tận hang ruột của mình, một siêu thị Monoprix, nơi em vẫn thường mua thuốc đánh lông mi, một rạp chiếu bóng nơi em xem phim tình thay vì đến trường.

Bệnh cận thị mà Babette mắc phải ngày căng trở nên trầm trọng kể từ khi chị đến trường đại học, nó cho những dấu hiệu hết sức lo lắng về mắt, làm chị thoát khỏi sự kiềm toả tức thời của lũ anh trai, đinh ninh rằng với cặp kính, chị là liều thuốc chống lại tình yêu. Sự cà khịa quấy rầy về giới tính của lũ anh trai mà người em gái buộc phải cúi đầu phục tùng thì Babette lại coi là một sự thích chí khinh miệt đối với các nữ học giả mắt lé.

Ðừng có trả lời, mẹ nói, người luôn tìm cách bảo vệ sự yếu hèn của bọn đàn ông, tìm cho chúng những lý do, lấp liếm sự kém cỏi của chúng, nghe chúng nói dối quanh và xem chúng cố tìm cách đánh thức sự rủi ro dậy hay không. Đừng giả nhời, con ạ, con thật dũng cảm, ngoan ngoãn và khoẻ mạnh, con gái ạ. Rồi bỗng nhiên, bà nhìn ngắm đứa con gái: Trời đất ạ, con gái yêu của mẹ, đừng có mà lớn nhanh như thế. Làm thế nào mà tìm nổi cho con một tấm chồng đây? Bà hết lòng mong muốn chị giữ cho bằng được vẻ bề ngoài dịu dàng thanh mánh, “Yếu liễu đào tơ, tên mi là Ðàn bà”. Quá nhiều bằng cấp, quá nhiều học vị, con yêu của mẹ, ngực con nở quá, háng con rộng quá. Đừng có mặc đồ chẽn, mặc đồ thường thôi, cài cúc áo vét vào kìa.

Ngay cả khi họ thật khác xa nhau, Babette vẫn yêu mẹ vô cùng. Chị là đứa con duy nhất của bà không cau có nhăn nhó vì xấu hổ khi mang chiếc nồi to tướng cồng kềnh. Chị tới từ một thế giới khác, một thời kỳ khác đang lẩm nhẩm hát những bài ca của Tim Rossi và thích nhảy đầm. Buổi khiêu vũ mà ở đó những người đàn bà cuốn chặt, ôm ghì nhau, trao cho nhau những sự âu yếm, mà bọn đàn ông chẳng bao giờ trao cho họ. Vui sướng vì được nhảy, sợ hãi đàn ông. Đi dạo tay trong tay và… một cái nhìn thâm nhập từ 300 năm trước đây từ đất nước Tây Ban Nha - cái nhìn giữa những hàng mi, có che một chiếc quạt, nhẹ nhàng nhanh nhạy - họ nhìn bọn đàn ông, giữa vùng ngực và dây lưng, trên dạ dày, nơi góc nhọn của vạt áo gi-lê, trên dây đeo đồng hồ. Không ở phần trên vì sợ cho là khiêu khích, không ở phần dưới do tính kín đáo. Bù lại, ở nhà, họ đòi hỏi những đứa con phải nhìn thẳng vào mắt họ.

Mắt bà tối xầm, khi lại lấp lánh, sôi sục, một sự săn lùng sự thật kiểu: Hãy nhìn thẳng vào mắt và nói cho mẹ nghe. Sức mạnh tiềm tàng. Sự hiện diện có hiệu nghiệm tức thời, sau đó lại mau chóng bị lấy lại! Con người và sự vật sống trong một sự thù hận liên miên. Cứ phải tuyệt đối là hẳn người này hay hẳn người khác. Chuyển từ nụ cười qua nước mắt, từ âu yếm qua chửi rủa thóa mạ. Yêu thương, thù ghét.

Chị trở nên rụt rè. Chị không dám ra khỏi nhà. Nhìn thế giới qua khung cửa kính, buổi sáng là cửa kính nhà bếp, buổi tối là màn hình ti vi. Chị là những bộ quần áo của lũ đàn ông và nhờ em gái đi mua đồ thay mình. Với cặp mắt mình, em không biết chọn lựa, lại không dám nhờ vả người khác chọn thay mình, và em còn sợ cả người bán hàng không trả lại tiền thừa, số tiền thừa mà em chỉ dám đếm lại khi đã về đến nhà để rồi phát hiện ra rằng mình đã bị đánh cắp, hay thậm chí ngay cả khi em không bị thiếu tiền! Bọn chúng đã ăn cắp tiền của em, em vừa nói nước mắt đã rưng rưng nơi khóe mắt và em lại còn khóc to hơn nữa khi Babette tìm lại được một đồng xu bị thất lạc khi cùng kiểm lại số tiền thừa với em. Khi em gái qua đời, rồi đến lượt bà ngoại cũng về nơi thiên cổ, chị đành phải tập lại thói quen đi xe buýt một mình. Chị tới bến xe buýt từ rất sớm với một chiếc khăn trùm kín đầu buộc gọn phía dưới cằm, nắm chặt ví tiền trong tay, nhắc đi nhắc lại số cửa, số đường, số ngôi mộ mà chị đã viết bằng bút bi vào lòng bàn tay.

- Mình nhận ra mình là người Do Thái tới mức nào, - Babette nói và đưa mắt nhìn Gloria. - Tuyệt đối không phải là người Pháp, lại càng không phải là pied-noir. Do Thái, thực sự là dân Do Thái.

- Thế là cậu hiểu ra rằng mình cảm nhận mình là người da đen. - Gloria nói, đột nhiên muốn giảng hòa!

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của paule constant