Cô nhìn mọi người bên ngoài cửa sổ. Trên con đường thường lệ vẫn dành cho xe buýt và xe hơi, các tín đồ Thiên chúa giáo đang ngồi làm lễ Misa. Nơi quảng trường Gwanghwamun xa xa kia, Đức Giáo hoàng đang làm lễ, biển người đến làm lễ đông nghẹt cả một khu Gwanghwamun và Jongno.
“Sáng mai 5 giờ mọi người tập trung lên đường đấy. Nghe nói kể cả lên đến Seoul rồi mà muốn giữ được chỗ cũng tốn thời gian lắm.”
Mẹ hào hứng như trẻ con được đi dã ngoại. Mẹ bảo biết đâu sẽ đứng dự lễ Misa ở phía tòa nhà văn phòng nơi cô làm việc, và bảo cô chịu khó để ý nhìn ra ngoài cửa sổ tìm mẹ. Cô tì trán vào cửa sổ quan sát mọi người, nhưng phía dưới mười lăm tầng nhà, chỉ thấy một loạt những khăn trùm đầu Misa màu trắng.
“Chắc cũng chẳng thấy rõ được mặt Đức Giáo hoàng đâu, thà cứ xem trên ti vi còn rõ hơn. Sao mẹ phải khổ sở đi từ sáng sớm làm gì.”
“Vậy là con vẫn chẳng hiểu gì cả. Đấy là lễ Misa do Đức Giáo hoàng cử hành cùng với bao nhiêu người như thế. Có khi đây là lần cuối cùng trong đời mẹ cũng nên. Thật là tạ ơn Chúa, Michaela.”
Hai mươi lăm năm trước, cô theo mẹ lên Seoul dự lễ Misa do Đức Giáo hoàng từ Ba Lan sang cử hành. Lễ Misa được diễn ra tại quảng trường Yeouido mà giờ không còn nữa, nghe nói khi ấy ở đó đã có sáu trăm năm mươi ngàn tín đồ tham dự. Những gì cô còn nhớ về ngày hôm ấy, đó là mùi vị của viên kẹo mận mà mẹ đã đút vào miệng cô. Sợ nhỡ đâu cô bị hóc, mẹ đã cắn viên kẹo thành từng miếng nhỏ rồi đút vào miệng cho cô. Hôm đó trời thu tuy ấm áp nhưng cũng thật mát mẻ, cô nằm trong lòng mẹ, chảy nước dãi đầy kẹo ngọt mà ngủ. Lớp vải áo hanbok satin cưng cứng của mẹ cọ vào má cô.
Bức ảnh kỷ niệm chụp hôm đó, mẹ treo lên bức tường trong phòng khách. Trong ảnh, mẹ mặc hanbok màu hồng phấn, trùm khăn lễ màu trắng và đang mỉm cười, còn cô đứng bên cạnh, mặt mũi vô cùng nhăn nhó. Mặc chiếc quần bó trắng cùng chiếc váy trắng mà mẹ đã gọi đi bạn bè khắp trong xóm, vất vả mãi mới mượn được, cô đang ngái ngủ đứng bám vào vạt váy mẹ.
Vừa nhìn bức ảnh đó, mẹ vừa kể lại thời tiết hôm đó thật dễ chịu, đoàn linh mục diễu hành mặc lễ phục trắng đẹp biết bao, gia đình cô đã được ban ân sủng lớn đến nhường nào. Mẹ còn bảo biết bao nhiêu người muốn đi mà không đi được kia kìa, nên cô phải biết là Đức Chúa trời đã yêu thương cô đến mức nào. Mẹ bảo cô phải biết rằng cô đã nhận được bao nhiêu thứ từ Đức Chúa trời, vì vậy ngay cả khi gặp chuyện buồn cũng phải mang lòng biết ơn Chúa.
Chuyện gì mẹ cũng theo kiểu như vậy. Tạ ơn Chúa vì kim chi muối ngon, tạ ơn Chúa vì giá thịt lợn giảm nên được ăn thỏa thích, tạ ơn Chúa vì chữa khỏi cái mụn nổi trên ngón chân, tạ ơn Chúa vì ban cho sức khỏe để có thể làm việc được, tạ ơn Chúa vì có tiền đi ăn tiệm, tạ ơn Chúa cả vì đã hiểu ra rằng: khi mọi việc không được suôn sẻ thì phải thấy biết ơn khi mọi việc đang suôn sẻ.
Trong bản trường ca tạ ơn đó, cô lại nhìn thấy hiện thực khốn khổ của mẹ. Bởi nếu là người có thể đi ăn tiệm bất cứ lúc nào thì đã chẳng cần phải tạ ơn Chúa vì một việc như vậy. Nếu là người có thể ăn thịt lợn thỏa thích bất cứ lúc nào thì đã chẳng cần phải tạ ơn Chúa vì thịt lợn hạ giá. Nếu như có tiền, nếu như có bố mẹ hay chồng giàu thì đã chẳng cần phải tạ ơn về việc có thể chịu đựng được cơn đau mà đứng sà sã suốt mười tiếng đồng hồ một ngày để làm việc. Cô mong thà rằng mẹ cứ thành thật mà bất mãn với tình cảnh của bản thân còn hơn. Bởi vì cô cảm thấy sự biết ơn của mẹ đối với hiện thực tồi tệ ấy có gì đó giống như một trò lừa gạt.
Xong việc, cô ra cửa sổ nhìn thì thấy mọi người đã đi hết, chỉ còn xe cộ đang qua lại. Cô đứng im nhìn mọi người đi lại trên vỉa hè và tự nhiên thấy thắc mắc không biết mẹ đang ở đâu.
“Mẹ đến nhà bác người quen. Có một bác trước sống ở xóm mình rồi sau chuyển lên Seoul mà. Có nói con cũng không biết đâu. Thật là tạ ơn Chúa.”
Mẹ lên kế hoạch đóng cửa hiệu làm đầu ba ngày hai đêm để đi thăm thú Seoul. Mẹ bảo thứ Bảy sẽ dự lễ Misa do Đức Giáo hoàng cử hành, Chủ nhật với thứ Hai thì đi Myeongdong với tháp Namsan và tòa nhà 63 tầng, nếu có thể thì mẹ cũng muốn thử lên tàu du lịch trên sông Hán [23] nữa. Cô thấy giận mẹ chẳng chịu nghĩ cho tình cảnh bận bịu của cô mà cứ thế tự dưng lên Seoul làm gì.
Cô gửi gắm hy vọng vào cụm từ “bác người quen” mà mẹ nhắc tới. Có khi mẹ cùng với bác người quen đi chơi Seoul rồi cũng nên. Tại vì mẹ cũng không nói là sẽ lên ở cùng với cô. Sau khi kết thúc lễ Misa, không thấy mẹ gọi điện như thế này, nhiều khả năng là mẹ đã gặp bác người quen và cùng đến nhà bác đó rồi.
Mẹ mới tới nhà cô ở Seoul có một lần. Cô sống cùng bạn cho tới năm hai mươi bảy tuổi nên mẹ không tới thăm được, phải đến sau khi cô ở một mình, mẹ mới lên chơi nhà cô. Cái thùng đá mẹ mang theo đựng đầy thịt ướp, cá rim, lá tía tô xanh muối, ớt bột, kim chi, lá củ cải, dầu vừng thơm... Mẹ mang theo cái thứ nặng như tảng đá đó bắt hết xe buýt tới tàu hỏa, rồi tàu điện ngầm để đến thăm cô, nghĩ đến chuyện đó, đừng nói là cảm thấy biết ơn, cô còn thấy bức bối trong ngực nữa.
“Tủ lạnh gì mà bé thế này hả?”
Đứng trước cái tủ lạnh mini chất đầy bia lon, mẹ thở hắt ra.
“Cái này phải làm sao đây. Ớt bột mà không bỏ vào tủ lạnh là nó cũng đầy bọ cho mà xem.”
Mẹ mở nắp cái hộp hút chân không đựng thịt, ngửi mùi rồi nói:
“Hôm nay phải ăn hết cái này đấy, Michaela.”
Cô và mẹ nướng thịt ăn liền hai bữa trưa với tối. Cô đã no bụng rồi nhưng mẹ bảo phải mau ăn hết không thịt hỏng và bắt cô phải ăn thêm. Mẹ lấy hết bia lon ra khỏi cái tủ lạnh, mấy hộp cá rim, lá tía tô muối, bột ớt, kim chi rau cải... mẹ bọc lại rồi xếp vào tủ. Nhiều đồ quá nên không đóng được cửa tủ lạnh, vậy là mẹ lấy ra mấy khúc cá rim bảo cô ăn đi. Cô cũng ngồi ăn như mẹ bảo.
Mẹ không ngủ một đêm mà lại chuẩn bị ra bắt tàu về ngay. Mẹ không biết nghỉ ngơi là gì. Giá thuê tiệm tăng lên nhưng tiền cắt tóc, tiền làm đầu, mẹ vẫn tính y như mười năm trước nên làm ăn chẳng để ra được bao nhiêu. Cô bảo sẽ tiễn mẹ ra ga Seoul, nhưng mẹ cứ khăng khăng bảo dạo này cô thiếu ngủ nên cứ ở nhà ngủ bù đi, mẹ sẽ đi một mình. Mẹ đi rồi, cô bị đau bụng dữ dội. Cô nôn hết những thứ đã ăn, toàn thân ớn lạnh, mồ hôi đầm đìa, và cuối cùng phải vào viện cấp cứu.
Mẹ thật chẳng biết nghĩ cho con cái gì cả.
2.
Michaela không gọi điện. Chắc là nó bận quá chăng? Bà đưa tay áo thấm mồ hôi trên trán rồi mới chợt nhớ ra bộ hanbok này là đồ đi mượn. Bắt đầu từ lúc đợi lễ Misa, bà đã nghĩ có khi phải trả tiền giặt là cho bộ hanbok này rồi. Cái áo mặc phải giữ gìn cho sạch sẽ, vậy mà ở nách áo, mồ hôi chảy ròng ròng nên hết buổi trưa thì nách áo cuối cùng cũng hiện lên vết ố thật gớm ghiếc.
Vốn mượn từ một người chị em tín hữu cùng hội giáo dân Legio (Đạo binh Đức Mẹ), bộ hanbok này không phải là hanbok bình thường. Đó là loại hàng cao cấp mà chị tín hữu đó được bên thông gia tặng vào dịp con trai chị ấy kết hôn, váy màu lam và áo màu lông gà con. Bộ hanbok đó nếu không phải dịp lễ Misa trọng đại thì chị ấy cũng không lấy ra mặc, vậy mà chị ấy đã vui vẻ cho bà mượn để mặc vào lúc làm lễ Misa do Đức Giáo hoàng cử hành. Bà nghĩ bụng, nếu đem hiệu giặt là mà cũng không sạch được thì phải đền tiền thôi. Trên vai bà đang đeo chiếc túi thể thao. Bây giờ phải tìm chỗ ngủ đã.
Bà bảo với mọi người đi cùng là sẽ ngủ ở nhà của Michaela. Bà còn bảo lần đầu tiên trong đời, bà sẽ đi chơi Seoul một chuyến ra trò, rồi lại còn đến tháp Namsan với đi du thuyền trên sông Hán nữa. Mọi người bảo Michaela trông lạnh nhạt vậy mà lại là đứa chu đáo tình cảm. Họ còn bảo đúng là đứa con gái bõ công bà cả đời vất vả.
Mọi người nói đúng. Michaela là đứa con gái lúc nào cũng cứng cỏi vững vàng. Con gái vất vả tự sức mình bám trụ lại Seoul như vậy, bà thấy biết ơn mà cũng thấy thật xót xa. Người ta ai cũng cho con đi học thêm ở trung tâm còn bà thì không cho con đi học nổi, đồng phục thì thay vì hàng hiệu, bà lại mua hàng chợ rẻ tiền cho con mặc. Chỗ tiền trút hết vào tài khoản, bà đem đóng tiền vào học đại học và học phí năm đầu cho Michaela, nhưng tất cả chỉ đến đấy là hết. Kỳ nghỉ hè đầu tiên về quê, con bé bảo từ giờ sẽ tự tay kiếm tiền học phí, và bảo bà đừng làm việc quá sức nữa.
Trước đứa con gái như vậy, lúc nào bà cũng thấy thật chẳng còn mặt mũi nào. Mỗi khi nghĩ mình làm mẹ mà chẳng lo cho con được đàng hoàng, bà lại thêm quyết tâm không trở thành gánh nặng cho con. Một tháng, bà gửi tiết kiệm 300 ngàn won để dành làm tiền cưới xin cho Michaela sau này. Bà định ngay cả sau khi Michaela kết hôn rồi, bà cũng vẫn sẽ phải tiếp tục dành dụm tiền để phòng khi già yếu.
“Con sẽ không kết hôn đâu mẹ.”
Hồi nhỏ, Michaela đã nói như vậy.
“Trẻ con đứa nào nói vậy thì sẽ lấy chồng trước đấy.”
Khi ấy, bà thấy con bé mặt mũi phụng phịu nói vậy thật đáng yêu. Con bé hồi đó đến năm ba mươi tuổi bây giờ cũng vẫn nói cùng một câu như thế, bà bắt đầu thầm lo sợ không biết con bé có nói thật lòng hay không.
Bà thấy không có cô dâu tương lai nào được như Michaela. Học đại học trên Seoul, ra trường là tìm được việc làm, giỏi lo liệu cuộc sống, lại còn dành dụm được cả tiền đặt cọc căn phòng đang sống [24] . Tuy tính nó không phải dạng niềm nở xởi lởi nhưng lễ độ và cũng rất biết ăn nói. Nghe con bé nói chuyện thường ngày thôi cũng thấy đúng là được ăn học ở Seoul. Con bé mà muốn kiếm một anh chàng nhà giàu thì chắc hẳn cũng đã kiếm được rồi, có đẻ con thì giờ chắc cũng đã đẻ được hai đứa rồi.
Bà không thể hiểu nổi tại sao Michaela lại bỏ con đường dễ dàng để chọn con đường khó khăn vất vả như vậy. Nghĩ xong, bà lại thấy có chút day dứt “Hay là tại mình?”. Cũng phải, với Michaela, bà đúng là một bà mẹ thật chẳng ra gì.
Bà bước đi và lên tàu điện ngầm. Bà định sang khu Mangwon-dong nơi con gái ở và thử tìm chỗ trọ bên ấy. Biết đâu sáng mai Michaela sẽ gọi điện cũng nên, biết đâu lại được ăn trưa cùng với con bé. Bà không đủ dũng khí để chủ động gọi cho Michaela. Chẳng phải ngay cả lễ Quang Phục [25] , ngay cả thứ Bảy nó cũng phải làm việc ở công ty sao? Nó bận như vậy, bà không muốn tạo gánh nặng cho con. Bà chỉ mong gặp mặt con được một lần thôi, nhưng ngay cả việc đó cũng là tham lam quá, nghĩ vậy, bà cố dằn lòng.
Cũng đã có thời mà bà muốn gặp con gái lúc nào cũng được. Hồi đó, đi làm về nhà là con gái bà sẽ chạy ra reo lên vui sướng “Mẹ ơi!”. Ôm con vào lòng, bao nhiêu đau đớn mệt nhọc đều dịu hết, và ngày hôm sau, bà lại có sức mạnh để làm việc tiếp. Trên đời này, liệu ai có thể yêu bà tới mức đó? Liệu ai sẽ chạy ào ra ôm chầm lấy bà với vẻ mặt rạng rỡ xinh đẹp như thế chứ?
Thời đó đã qua rồi, nhưng bà không thể quên được tình yêu mà mình được nhận từ Michaela. Người đời thường nói công ơn cha mẹ như trời biển, nhưng bà thấy, chính tình yêu mà đứa con dành cho bà mới là như trời biển. Tình cảm mà Michaela hồi nhỏ dành cho bà, đó là một tình yêu thuần khiết và ấm áp không thể tìm thấy ở đâu khác trên thế gian này.
Cái motel trông như quán ăn Tàu, tiền trọ một đêm là tám mươi ngàn won. Người đàn ông ngồi ở bàn trực nhìn bà với con mắt đáng ngờ và nhắc lại:
“Đã bảo là tám mươi ngàn won mà. Giá cuối tuần đấy ạ.”
Bà liếc nhìn bảng giá dán trên kính cửa sổ bên cạnh chiếc bàn. Đúng như lời người đàn ông nói, trong tuần là sáu mươi ngàn won, cuối tuần là tám mươi ngàn. Người ta bảo giá cả ở Seoul đắt cắt cổ, đúng là cấm có sai. Bà thử đến hai motel khác gần đó nhưng giá cả đều bằng với chỗ đầu tiên, hoặc thậm chí còn đắt hơn. Chân bà phồng rộp lên bên trong đôi hài thêu. Bà buộc chặt lại dải nơ đã bung hết trên áo và đi ra trạm xe buýt. Mồ hôi ướt sũng nách áo giờ đang chảy xuống tận tay áo. Chắc sẽ phải đền tiền rồi. Mà bà thậm chí còn chẳng ước chừng được cái áo này giá bao nhiêu nữa.
Bà ngồi xuống ghế ở trạm xe buýt và lên tiếng hỏi người phụ nữ trung niên bên cạnh:
“Ở gần đây có phòng tắm hơi nào không ạ?”
“Cứ lên chuyến xe buýt mà tôi sắp bắt đi ạ. Tôi xuống sau nên tôi sẽ chỉ trạm cho chị xuống trước. Chị đi đám cưới ở đâu ạ? Chị từ đâu lên đây?”
Vốn nghĩ người Seoul toàn là những kẻ nhỏ nhen bủn xỉn nên bà đã cảnh giác, nhưng gặp được người nghe mình nói và giúp đỡ mình nên bà cũng nhẹ cả lòng. Bà khoe với người phụ nữ trung niên rằng trưa nay đã đi dự lễ Misa của Đức Giáo hoàng. Bà bảo thực ra đã được diện kiến Đức Giáo hoàng lần này là lần thứ hai rồi. Vai bà vươn thẳng hẳn lên vì tự hào.
“Năm 89 tôi cũng tham dự lễ ở quảng trường Yeouido đấy. Hồi đó Đức Giáo hoàng Joannes Paulus Đệ Nhị...”
“Ơ vậy sao chị không về cùng với mọi người ở nhà thờ?” Người phụ nữ ngắt lời bà mà hỏi. Giọng điệu có vẻ như chẳng mấy quan tâm đến Đức Giáo hoàng.
“Tôi phải đi gặp chỗ người quen.”
“Vậy ra chị không có con cái sống ở Seoul. Nhưng dù vậy đi nữa, chị định mặc quần áo thế này mà đến nhà tắm hơi sao?” [26]
“À không, không phải vậy.”
“Đến đây rồi, chị xuống đây đi ạ.”
Người phụ nữ bảo bà xuống xe mà tay như đẩy vào lưng bà. Bà giơ tay vẫy chiếc xe buýt đang chạy đi. Trong lòng thầm nghĩ người Seoul xem ra có phải ai cũng nhỏ nhen ích kỷ đâu.
3.
Mẹ không gọi điện.
Hôm qua chắc mẹ đã vui lắm nhỉ? Vì được tham dự lễ Misa cùng với vị Giáo hoàng thậm chí còn chẳng nhìn thấy mặt đó mà chắc hẳn mẹ đã kêu lên tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa biết bao lần – nghĩ đến đây, cô bật cười. Mẹ đúng là người đơn giản. Mẹ không nghĩ phức tạp về những việc xảy ra, và cũng không nghĩ xấu về con người. Sự đơn giản tới mức ngờ nghệch đó đã khiến mẹ phải sống một cuộc đời khốn khổ. Phải nuôi người chồng bất tài, phải đóng vai trò trụ cột trong nhà, vậy mà mẹ vẫn coi đó là chuyện đương nhiên. Thời niên thiếu, nhìn bố nằm dài ở nhà, còn mẹ thì nai lưng ra làm quần quật, cô thấy hai người giống như mối quan hệ giữa ký sinh trùng và vật chủ vậy.
Cuộc đời bố là một chuỗi những lần tìm việc rồi bỏ việc không bao giờ dứt. Thể trạng đã yếu ớt mà thời còn trẻ, bố lại xả thân vào phong trào lao động, đi làm trí thức lao động ở nhà máy rồi đêm đến đi dạy lớp kiểu bình dân học vụ buổi tối. Nhiều lần bố đang dạy học thì máu mũi đột nhiên tuôn ra, hồi ấy, là học trò của bố, mẹ nước mắt lưng tròng vì thấy tội nghiệp cho bố vô bờ bến. Chẳng biết là ai đang giúp ai nữa, ông thầy giáo bạ đâu cũng lăn ra xỉu như vậy, mẹ còn phải cõng cả thầy giáo của mình chạy đi tìm người giúp, lúc hẹn hò, mẹ dốc hết tiền dành dụm đi cắt thuốc bổ cho bố. Sau lễ cưới cũng không đi tuần trăng mật. Tại vì cưới xong là bố sống đời lao dịch trong tù. Cái gọi là niềm vui mới cưới chỉ là một tuần một lần gặp nhau trò chuyện trong trại giam mà thôi.
“Hồi đó thật đúng là tạ ơn Chúa.”
Mẹ đã nói như vậy về quãng thời gian đó. Mẹ thường bảo trước hôm đi thăm bố trong tù, ngay từ buổi sáng mẹ đã háo hức tới mức không sao ngủ yên được. Ngày nào cũng vậy, sau giờ làm, mẹ lại viết bưu thiếp cho bố, tổng cộng được hơn năm trăm tấm.
Sau khi ra tù, bố được người quen giới thiệu vào làm ở một vài công ty nhỏ, nhưng chỉ làm được một thời gian ngắn là bỏ. Bố cũng nhận việc từ bên nhà xuất bản, làm hiệu đính và biên dịch. Tất nhiên là chẳng kiếm được gì nhiều nhặn, và khi xong được một quyển sách thì bố đổ bệnh nặng, phải nằm liệt trong bệnh viện. Đối với cô, bố là người hoặc nằm trong bệnh viện truyền dịch, hoặc ngồi mà đưa bàn tay chỉ còn da bọc xương cầm thìa khuấy cháo loãng. Với tấm thân tàn tạ như vậy mà bố vẫn tham gia không thiếu một cuộc biểu tình lớn nào ở Seoul, hồi ấy cô đang học cấp II, bố còn khuyên cô đọc các bức thư trong ngục của Kim Dae Jung [27] và sách của Ham Seok Heon [28] .
Lúc ấy, cô đã nghĩ “Rút cuộc đây là cái trò gì thế này?”. Kim Dae Jung thành tổng thống hay Lee Hoi Chang [29] thành tổng thống thì chuyện đó có liên quan gì đến cuộc đời của chúng ta chứ? Để kiếm tiền đóng cho chuyến đi với lớp ở trường của cô mà mẹ đang phải nai lưng ra uốn tóc cho các bà các cô. Ngồi ở bàn ăn, bố nói thế này. Tư bản đang bỏ rơi người nghèo, sau này, sự sụp đổ của tầng lớp trung lưu sẽ ngày càng trầm trọng, và sẽ có nhiều người rơi vào cảnh khốn cùng hơn.
Vậy thì sao nào? Bố, bây giờ thủ phạm khiến cho cái nhà này rơi vào cảnh khốn cùng không phải là xã hội, cũng chẳng phải tư bản đâu, mà chính là bản thân bố đấy. Bản thân mình còn chẳng kiếm nổi miếng ăn cho ra hồn, để vợ phải đứng cả ngày trong cái tiệm làm đầu hơn hai mươi mét vuông, người như vậy thì có tư cách gì mà nói thế chứ? Vậy nhưng mẹ còn khiến cô thấy khó hiểu hơn cả bố. Mẹ đi làm về, thay quần áo rồi hỏi han một ngày của bố. Hôm nay anh có mệt không, cuốn sách anh đang đọc thế nào... Cô thấy tại mẹ cứ chấp nhận tất cả như vậy nên bố mới không trụ được với đời và suốt ngày chỉ mơ mộng hão huyền. Cô thấy mẹ không biết tự yêu lấy bản thân mẹ nên mới bị người như bố lợi dụng. Đây chẳng phải tình yêu hay gì hết, mà chỉ là sự bóc lột từ một phía mà thôi.
Cô gọi điện cho mẹ. Có tiếng tổng đài báo điện thoại đang tắt. Chắc chắn là mẹ không mang theo đồ sạc pin. Như thường lệ, nếu điện thoại tắt thì mẹ sẽ chủ động gọi điện trước. Mẹ sẽ mượn điện thoại người khác để kể cô nghe cảm tưởng về lễ Misa và nói kế hoạch ngày hôm đó, vậy mà giờ không có tin tức gì thì thật là lạ. Cô gọi điện cho bác Scholastica.
“Hôm qua bác không đi Seoul được. Bác bốc thăm bị trượt mà. Đừng lo cho mẹ. Bà ấy lần nào mà chả quên mang đồ sạc điện thoại. Để xem nào, cháu biết số của tín hữu Elizabeth [30] không? Đúng rồi, cái bác trong dàn đồng ca ấy.”
Cô gọi điện cho bác Elizabeth.
“Hử? Cháu nói gì thế? Mẹ cháu bảo ngủ ở nhà cháu cơ mà. Mẹ cháu không đến nhà cháu à? Điện thoại cũng không gọi? Ôi chao, chuyện gì thế này hả trời. Nhà bác người quen ấy hả? Mẹ cháu có người quen ở Seoul sao? Ừ, rõ ràng mẹ cháu bảo với các bác là ngủ ở nhà cháu mà.”
Trong lúc cô gọi điện cho bác Elizabeth, bản tin thời sự trên TV chiếu cảnh quảng trường Gwanghwamun. Camera đang quay cảnh quầy vận động ký tên yêu cầu hiệu lực hóa Luật đặc biệt về vụ phà Sewol [31] . Phía sau quầy vận động đó có một cái lều, một cụ già cùng với một phụ nữ trung niên đang ngồi cạnh nhau dưới cái lều đó. Dù chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi thoáng qua, cô cũng lập tức nhận ra ngay người phụ nữ trung niên đó chính là mẹ. Ngay cả cái túi thể thao bên cạnh người phụ nữ đó cũng rõ ràng là đồ của mẹ. Rút cuộc sao mẹ lại ngồi kia cơ chứ? Không kịp cả rửa mặt, cô lao ra khỏi nhà.
4.
Cái nhà tắm hơi mà người phụ nữ ở trạm xe buýt chỉ cho bà hóa ra lại nhỏ hơn bà tưởng. Bà cởi bộ hanbok cứng đơ, dành thời gian kỳ cọ hết ghét trên người. Bà thấy có mấy bà mẹ đưa con gái đến chơi nhà tắm hơi nhân dịp ngày nghỉ. Nhìn mấy đứa bé chạy nhảy tung tăng như con cún con, bà bất giác bật cười. Mấy bà mẹ trẻ cho con ngồi lên chiếc ghế phòng tắm, sau đó xát xà phòng khắp người cho con. Bọn trẻ cũng tự mình hăng hái xát xà phòng lên lưng cho mẹ.
Một lúc nào đó, mình cũng sẽ được làm bà ngoại nhỉ? Nghĩ đến đứa cháu có lẽ một lúc nào đó sẽ được ôm trong lòng, ngực bà nghẹn lại. Cuộc đời mở ra một ước mơ mới cho bà. Dù chỉ là một mơ ước ít khả năng xảy ra, nhưng ôm giấc mộng đó trong lòng, bà lại có thêm sức sống và ăn cũng thấy ngon hơn.
Mỗi khi cảm thấy việc được sống giây phút này giống như một may mắn lớn lao, bà lại nghĩ tới người chồng đã quy tiên mười ba năm trước. Nghĩ tới chồng, bà lại cảm giác như có một quả tạ nặng nề kéo lê qua lòng mình. Chồng bà không được nhìn thấy Michaela vào đại học, cũng không được thấy con bé lớn lên ra dáng một thiếu nữ đoan trang. Và cũng không được thấy Đức Giáo hoàng làm lễ Misa ở Gwanghwamun nữa, đúng là như vậy... Cả đảo Jeju mà ai cũng đi ấy, ông ấy cũng chưa một lần đến. Liệu còn ai đáng thương như thế nữa không, nhưng nghĩ tới việc giờ đây linh hồn đó đã được yên nghỉ ở một nơi không còn đau đớn nữa, bất giác bà lại rơi nước mắt.
Mọi người trong xóm thương bà vì phải sống với người chồng không lo nổi vai trò trụ cột trong nhà. Michaela bảo chính sự bất tài của ông ấy đã làm bà phải khổ. Đúng là như vậy. Kể từ khi gặp ông ấy, cuộc đời đã đòi hỏi bà phải phục tùng gấp hai, ba lần. Hơn bất cứ ai, bà đã sống tất bật không còn lúc nào để thở, ngay cả ngắm cảnh lá đỏ cũng chưa đi được một lần. Số bà đâu phải đi tù với vào bệnh viện đâu mà cứ phải lui tới hai chỗ đấy, rồi để bù đắp vào cái tài khoản lúc nào cũng như bị thủng đáy, bà đã phải lao động không một ngày ngơi nghỉ.
Vậy nhưng bà không đồng ý với việc người khác nói chồng bà không chịu cố gắng. Đọc sách, viết lách, tới những nơi mà ông ấy có thể giúp được – đó là cái nghiệp của ông ấy rồi, và trong những công việc ấy, ông ấy là người cần mẫn hơn bất cứ ai. Không thể kết tội ông ấy là người bất tài, vô giá trị chỉ vì những việc ông ấy làm không đem lại đồng nào.
Bà nghĩ trên đời này cần có nhiều kiểu người. Cần có người uốn tóc, nhưng cũng cần có người như ông ấy. Nếu như có những người chồng kiếm tiền lo cho gia đình, thì cũng có những người chồng làm việc nhà và chăm sóc con cái. Sống trên đời, bà chưa bao giờ thấy ai tình cảm và tinh tế như vậy cả. Ông ấy là một người trong sạch như nước suối, bà không thể bảo ông ấy hãy trở thành nước bồn tắm bẩn đục được. Có lẽ trông ông ấy giống như người chẳng được tích sự gì trên thế gian này. Nhưng bà thấy, nhiều người tài cán trên đời này, không phải tất cả những việc làm của họ đều thực sự có ích cho đời đâu.
Ngồi bóc trứng luộc ăn trong phòng nghỉ của nhà tắm hơi, bà thấy tĩnh mạch nổi ngoằn ngoèo trên bắp chân. Bó tĩnh mạch phồng lên tới mức trông như một cái bướu màu xanh. Nhìn khó chịu quá nên bà đắp khăn che cả hai chân. Sau khi bắt đầu mở tiệm làm đầu được hơn một năm là bà bắt đầu có triệu chứng này rồi, nhưng chẳng có thời gian chữa trị nên bà cứ để kệ như vậy, bây giờ đã thành ra khá nghiêm trọng rồi. Một lần nọ, có một khách hàng nhí năm tuổi đã kêu lên “Mẹ, chân cô kia nhìn sợ quá” rồi òa lên khóc, từ đó về sau, dù trời nóng đến đâu đi nữa bà cũng vẫn chỉ mặc quần dài.
Thời sự trên ti vi đang đưa tin về buổi lễ Misa hôm nay. Hình như có khoảng một triệu người đã tập trung tham dự. Bà đứng ở chỗ phố Jongno 3 nên không được tận mắt nhìn thấy Đức Giáo hoàng. Lúc Giáo hoàng đi diễu hành, do đám đông cách xa quá nên bà cũng không thấy được. Một vài nam tín hữu cao lớn bảo dù xa nhưng vẫn nhìn thấy Đức Giáo hoàng đi qua, nhưng bà vóc người thấp nhỏ nên rút cuộc cứ tha hồ mà ngắm lưng với đầu người đằng trước mà thôi.
Trên màn hình lớn, Đức Giáo hoàng liên tục dừng lại. Giáo hoàng dừng lại để đặt tay lên đầu những em bé và chúc phúc. Thế rồi đến một góc phố nọ, một người đàn ông cất tiếng gọi Đức Giáo hoàng đầy khẩn thiết, Giáo hoàng nhìn người đó và bước xuống, đi tới nơi người đó đang đứng. Đức Giáo hoàng nắm lấy tay người đó và cúi đầu im lặng lắng nghe người đó nói. Linh mục đứng bên cạnh Giáo hoàng hình như đang dịch và truyền đạt lại lời của người kia. Những người xem hình ảnh đó qua màn hình lớn cất tiếng hò reo khắp nơi. “Đúng là Đức cha xuất thân di dân mà.” Tín hữu Susana ngồi bên cạnh bà lúc đó đã bảo vậy.
Người đàn ông đang nói chuyện đầy tha thiết với Đức Giáo hoàng kia, khuôn mặt gầy gò của ông ấy làm trong lòng bà dậy sóng. Đức Giáo hoàng đã rời khỏi chỗ đó và tiếp tục diễu hành, tuy nhìn hình ảnh đó nhưng khuôn mặt người đàn ông kia cứ đọng lại như khắc sâu vào tâm trí bà.
Ông ấy đã nói gì với Đức Giáo hoàng nhỉ? Trong thời gian ngắn ngủi như vậy, ông ấy đã phải dùng những lời lẽ gì để truyền tải nguồn cơn nỗi niềm ẩn ức của mình? Phải kêu lên xin Đức Giáo hoàng hãy nhìn đến mình một chút, cảm giác ấy ra sao nhỉ? Phải khẩn nài một con người đến từ nửa kia của trái đất rằng xin hãy lắng nghe lấy lời tôi – tâm trạng đó là như thế nào nhỉ?
Dù được ban phước tham dự lễ Misa do Đức Giáo hoàng cử hành, ngay cả trong lúc tận hưởng niềm vui đó, trong lòng bà vẫn không cảm thấy vui sướng một cách trọn vẹn. Bà chỉ muốn rẽ biển người đi tới chỗ người đàn ông kia và ôm lấy ông ấy. Bà thấy buồn cho tình cảnh của mình, chẳng tài nào có thể chia sẻ nỗi lòng đau khổ của ông ấy. Bản tin trên ti vi không nói rõ về cuộc đối thoại giữa ông ấy và Đức Giáo hoàng.
Trong lúc bà ngồi xem ti vi, những người nằm trong phòng nghỉ lần lượt đi về. Cô bán hàng ở căng tin tắt đèn quầy và nhà ăn. Do là một nhà tắm hơi nhỏ nên có vẻ như không nhiều người tụ tập thức đêm hay ngủ lại trong phòng nghỉ. Nhìn quanh thì thấy có ba người nằm đó, tất cả đều là nam giới. Một cậu khoảng ngoài ba mươi, một người tuổi xế chiều với một ông già tóc bạc, tới 11 giờ thì một người trong số đó tắt luôn cả ti vi. Nằm giữa chỗ toàn nam giới thì làm sao ngủ được. Bà thử tìm phòng chuyên để dành cho khách ngủ nhưng cái nhà tắm hơi nhỏ này đến cả phòng đó cũng không có. Vừa lấy khăn tắm che đằng sau bắp chân, bà vừa đi ra phòng thay đồ.
Phòng thay đồ vỏn vẹn có một dãy tủ đựng đồ hình chữ U, một dãy tủ ngang cùng với một cái phản. Một người phụ nữ trông khoảng ngoài sáu mươi đang nằm chiếm hết cả cái phản rộng mà ngủ, rớt dãi chảy đầy. Sàn phòng ấm nhưng vì gió từ điều hòa mà không khí trong phòng khá lạnh. Bà bấm thử nút điều chỉnh nhiệt độ điều hòa, nhưng có vẻ như nó đã được đặt cố định nên không thấy có gì chuyển biến. Bà đi ra chỗ dãy tủ hình chữ U. Xem ra đành phải ngủ ở khoảng trống chỗ dãy tủ này, vậy nhưng một cụ già vừa tắm xong đã đang nằm chỗ đó mất rồi. Bà bỏ chỗ đó, ra nằm xuống chỗ lối đi định ngủ thì cụ già kia đi đến và bảo sẽ ngủ chỗ lối đi này.
“Chị cứ vào trong mà ngủ đi. Tôi ở đâu cũng ngủ được tốt ấy mà.”
Bà xua tay bảo không sao nhưng cụ già vẫn cứ nhất định nằm luôn xuống chỗ lối đi và làm bộ như ngủ rồi. Bà ngồi bên cạnh và nhìn khuôn mặt cụ già. Một cụ già với mái tóc cắt ngắn bạc trắng, cái miệng mím chặt chẳng còn chiếc răng nào, vóc dáng nhỏ bé khoảng chừng 1m50. Cụ già chỉ còn da bọc xương nên xem ra chỉ cần nằm trên sàn năm phút thôi là cũng đủ ê ẩm cả người, vậy mà cụ già vẫn bình thản nằm trên sàn nhà tắm hơi mà cố ngủ – hình ảnh này khiến bà cũng đoán được phần nào những vết thương lòng trong cuộc đời cụ già. Đồng bệnh tương lân, cụ già này xem ra cũng không phải người ít thăng trầm.
“Cụ ơi, cụ dậy đi ạ.”
Cụ già vẫn tiếp tục giả vờ ngủ.
“Bà lão này đúng là không phải vừa đâu nhỉ. Cụ ơi, cụ cứ ngủ thế này là sẽ đau nhức hết cả người đấy ạ. Mà bà lão này không lạnh hay sao? Cái điều hòa kia sao lại thế cơ chứ. Người cao tuổi đang cần ngủ mà nó lại vậy.”
Bà lấy ra hai chiếc khăn bông từ trong chiếc túi thể thao để trong ngăn tủ đựng đồ. Trên chiếc khăn trắng có thêu dòng chữ màu xanh “Kỷ niệm lễ Misa được Đức Giáo hoàng Francisco ban phúc. Nhà thờ Ilwoldong...” Đó là loại khăn to dài thường thấy trên phim điện ảnh Mỹ. Người quản lý bên nhà thờ đặt hàng nhầm size nên tất cả mọi người phải nhận cái khăn to đùng và ai cũng bực mình. Tín hữu Gemma bảo sẽ không dùng cái khăn nên mang theo chỉ tổ nặng thêm và cho bà luôn, vậy là bà thành ra mang theo hai cái khăn to tướng bên người.
“Cụ ơi, cụ đắp tạm cái này vào mà ngủ ạ.”
Cụ già vẫn nằm co ro bất động trên sàn nhà trần trụi. Bà đắp cái khăn to lên trên tấm thân nhỏ bé của cụ già. Sau đó, bà lại chỗ gần tủ đựng đồ, nằm đắp cái khăn còn lại và ngủ. Bà cũng là bậc thầy trong việc đặt lưng ở đâu cũng ngủ được ngon lành. Bà chìm vào giấc ngủ say, khuôn mặt người đàn ông bà nhìn thấy ở lễ Misa buổi sáng lại hiện lên. Ngộ nhỡ mình mất Michaela như đã lạc mất ông ấy thì mình sẽ sống thế nào?... Chỉ nghĩ thế thôi mà nước mắt bà đã dâng lên. Ông ấy đã nói gì thế nhỉ? Bà muốn được nghe giọng nói của ông ấy, cái giọng nói mà sáng nay bà đã không nghe được.
Nghe tiếng máy sấy, bà mở mắt ra thì thấy trên sàn có một hộp sữa.
“Sữa đó tôi để cho chị nó uống đấy. Tôi mua cho tôi, nhân tiện mua luôn cho chị nó.”
Cụ già quanh miệng đầy nếp nhăn đang ngồi cười trên tấm phản.
“Cái khăn chị nó đắp cho tôi ấm thật đấy. Chị nó từ nhà thờ Ilwoldong lên à? Đi xa thế lên tận đây cơ à? Hôm qua chị nó dự lễ Misa hả? Nhưng sao lễ xong không về mà lại ngủ ở đây?”
Bà dụi mắt rồi đi ra phía tấm phản. Có lẽ vì lắp răng giả vào mà trông cụ già trẻ hơn tới năm, sáu tuổi so với lúc nhắm mắt ngủ.
“Chị nó này. Tôi cũng từng thấy Đức Giáo hoàng rồi đấy. Hồi năm 1989 ấy, ở bên Yeouido. Đúng là vinh hạnh thật ấy chứ.”
“Hồi đó cháu cũng tới dự đấy ạ.”
Bà mừng rỡ như gặp được người quen. Bà cùng với cụ già ngồi trên tấm phản, chia sẻ hồi ức về cái ngày mùa thu rạng ngời năm 89 đó. Để kỷ niệm việc chị em tín hữu gặp được nhau, cụ già bảo cùng đi ăn sáng, vậy là bà cùng với cụ già đi ra ngoài, tới quán cơm canh giá đỗ gần nhà tắm hơi.
Canh nóng, bà cho thêm tép muối, ớt Cheongyang và cả nước kim chi củ cải vào ăn và thấy ấm cả bụng, nhẹ cả người. Mải ăn nên tới lúc vơi tới nửa chỗ cơm canh rồi, bà với cụ già kia vẫn chưa nói với nhau về việc tại sao họ lại ngủ ở nhà tắm hơi, hay tên họ của nhau là gì. Đến lúc trong bụng đã lưng lửng, bà hỏi cụ già:
“Nhưng sao cụ lại ngủ ở nhà tắm hơi ạ? Cụ định đi đâu?”
“Chị nó này, tôi ấy mà... cũng chẳng có bạn bè đâu. Vốn dĩ tôi cũng chẳng phải vui vẻ xởi lởi gì nên mới thế, nhưng sống đến tuổi này thì bạn bè nếu có cũng chết cả rồi, chẳng còn sống được mấy người.”
Cụ già múc thìa canh thổi phù phù rồi húp, sau đó nói tiếp:
“Giờ thì chỉ còn lại một người bạn mà tôi thực lòng quý mến. Cũng sáu mấy gần bảy mươi tuổi mới gặp nhau, mà người đó khác tôi lắm. Tôi thì khó tính lại hay gắt gỏng, nhưng người đó thì sao cũng được. Dù có việc gì cũng chỉ cười cho qua, thật là tốt tính lắm. Bà ấy là người không nhìn thấy cái xấu ở người khác. Chuyển nhà đến xóm đó chưa được bao lâu thì tôi gặp cháu gái bà ấy ở sân chơi trẻ em. Bà ấy cũng chăm cháu cùng tuổi với cháu tôi mà. Quen nhau rồi mới biết đều là chỗ chị em tín hữu cùng một nhà thờ. Thế rồi chúng tôi dần dần thân nhau. Vì tình cảnh cả hai chúng tôi đều góa bụa, đang ở với con cái. Ngày nào hai chị em cũng gặp nhau. Chúng tôi nói chuyện đời, và nói cả những chuyện buồn. Mà nghe chuyện của tôi, bà ấy đã khóc cùng với tôi đấy. Sống trên đời này, tôi chưa gặp người như thế bao giờ. Gia đình con trai tôi chuyển lên Seoul, còn tôi vẫn ở lại xóm đó một mình. Bà ấy thành chị em với tôi. Con gái cũng đi làm nên bà ấy đi đâu cũng dẫn theo đứa cháu gái đó. Được mỗi mụn cháu nên bà ấy yêu cháu như cục vàng, con bé đó cũng giống bà ngoại nó, nhưng sao mà đẹp với hiền được như thế. Gặp ở nhà thờ là con bé mừng rỡ chào hỏi, nhét bánh kẹo vào tay tôi rồi hỏi bà có chịu khó ăn uống không, con bé đó như thế đấy...”
Nói đến đây, cụ già đột nhiên khóc òa lên thành tiếng như trẻ con. Vài hạt cơm trong miệng vương vãi cả ra ngoài. Mới sáng ra đã có cụ già ngồi khóc ầm ở quán ăn, mọi người xung quanh im lặng nhìn cụ già. Khóc như thế một lúc, cụ già lau nước mắt, xì mũi rồi cầm nước lên uống.
“Sống đến tám chục tuổi đầu, tôi những tưởng bao nước mắt đã khô cạn cả rồi. Vậy mà hóa ra không phải. Không phải chị nó ạ. Bà ấy, người bạn đẹp đẽ của tôi ấy ngồi đấm ngực như mất trí, nhưng tôi cũng chẳng thể làm được gì cho bà ấy cả. Đứa cháu gái đang khỏe mạnh lại chết như vậy, bà ấy làm sao mà chịu đựng nổi. Nhìn hình ảnh cuối cùng của con mình, con gái bà ấy quẳng hết công việc đang làm và bắt đầu chạy đôn đáo khắp nơi. Nó phải tìm ra lý do vì sao con mình chết chứ, đúng không. Bà ấy cũng bắt đầu cùng con gái đến Gwanghwamun, đến tòa thị chính, đến Yeouido. Chẳng liên lạc được với bà ấy nữa. Hôm qua tôi cũng đến Gwanghwamun tìm bà ấy, hết xe về nên tôi ra nhà tắm hơi.”
Khi cụ già nói xong hết thì bà cũng đã đang khóc cùng với cụ già rồi.
“Hôm nay tôi cũng sẽ đi tìm bà ấy.”
5.
Điện thoại của mẹ vẫn tắt. Lên xe buýt đi ra Gwanghwamun, cô nhớ lại hình ảnh người phụ nữ vừa rồi cô thấy trên ti vi. Người phụ nữ đó mặc chiếc quần màu xanh bạc phếch, và mặc chiếc áo phông màu hồng phấn cô mua tặng dịp sinh nhật lần trước. Và cả mái tóc uốn nhuộm nâu lưa thưa chẳng còn được mấy sợi. Người phụ nữ xuất hiện trên ti vi đó chắc chắn chính là mẹ của cô. Rút cuộc mẹ đang làm gì ở đó nhỉ? Cô thấy chẳng còn gì để nói với cái tính không bao giờ ngừng lo chuyện bao đồng của mẹ.
Cô xuống xe ở trạm Gwanghwamun và định băng qua vạch cho người đi bộ, nhưng trước vạch kẻ đường, một đám người cổ đeo biển viết chữ “Cùng tham gia tuyệt thực 1 ngày” đang đứng phơi giữa trời nắng chang chang. Một người đàn ông ngoài ba mươi và hai cô gái trông khoảng ngoài hai mươi. Người đàn ông đang đứng nhìn người qua đường, trên lưng anh ta đeo tấm biển viết lời kêu gọi làm sáng tỏ sự thật về vụ phà Sewol. Hai cô gái trẻ đang phát tờ rơi cho người qua lại, cô tránh họ và băng qua đường.
Trên quảng trường, nhiều người đang vận động ký tên. Mấy tháng trước, trên đường đi ra hiệu sách Kyobo, cô cũng đã ký tên. Đã bốn tháng kể từ khi xảy ra vụ việc, vậy mà tình hình thực tế về những sự việc đã xảy ra ngày hôm đó vẫn chưa được làm sáng tỏ, gia đình những người tử nạn đang yêu cầu đưa ra bộ luật đặc biệt đảm bảo quyền điều tra, quyền khởi tố cho họ. Đảng đối lập trở mặt như trở bàn tay, cùng với Đảng cầm quyền tuyên bố thỏa thuận loại bỏ các hạng mục yêu cầu của gia đình các nạn nhân, khi ti vi đưa tin về việc đó, cô đã tắt luôn ti vi.
Như vậy đấy. Dù có vận động lấy chữ ký, dù có xuống đường biểu tình đi nữa, những tiếng nói đó dường như cũng đã dần dần trở thành tiếng nói của thiểu số. Giờ ăn trưa, có ai đó nhắc tới sự cần thiết của bộ luật đặc biệt đó thì lại phải nghe câu “Nói mãi không chán à?”, vậy là đành ngậm miệng, lúc ấy, cô đã cắn chặt môi. Cô ba mươi mốt tuổi, những người ở độ tuổi như cô hợp sức lại cũng chẳng thể thay đổi được một điều gì. Thế gian này trông thật kiên cố, như thể cô có quăng mình lăn xả vào nó cũng chẳng mảy may suy suyển. Không phải cứ biết sai sót ở đâu là sẽ có thể thay đổi được – cô đã vỡ lẽ ra điều này ở tuổi hai mươi.
Bố cô bảo, chính sự thờ ơ của số đông người tốt đối với thế gian đã hủy hoại thế gian này. Mặc dù bố nói đúng, nhưng cô không muốn chiến đấu chống lại thế gian này. Cô không muốn leo lên một võ đài nơi thắng bại đã quá rõ ràng. Đối với cô, thế gian này là nơi dù không hài lòng cũng vẫn phải cúi đầu mà bước vào, đó là nơi dù khiến cho bản thân mình lạc lõng và tha hóa thì cũng vẫn phải thuận theo mà sống tiếp. Thay vì va chạm và đấu tranh, cô muốn gia nhập vào đó. Cô muốn được xã hội này đón nhận.
Khi đi qua Gwanghwamun, cô thường rảo bước nhanh hết mức nhưng hôm nay thì không thể làm thế được. Vừa chầm chậm đi quanh quảng trường, cô vừa nhìn quanh tìm ngôi lều giống với cái đã thấy trên bản tin thời sự. Đám đông đang vận động ký tên và phát tờ rơi, trong số đó có nhiều người trẻ hơn cô tưởng. Không tránh được nên cô đành nhận mấy tờ rơi, và bảo với họ là trước đây cô đã ký tên rồi.
Đột nhiên, cô thấy thắc mắc không biết cuộc đấu tranh này liệu sẽ kéo dài đến bao giờ? Dư luận thì ngày càng nguội dần rồi. Nếu cuộc chiến đấu cứ kéo dài như thế này thì bên bị thiệt sẽ chỉ là các nạn nhân mà thôi. Chẳng phải là tổng thống đã nói sao? Rằng phải khép lại quá khứ và tiến tới tương lai. Ánh nắng gắt quá làm cô cứ phải nheo mắt lại.
Đứng trước ngôi lều là một người phụ nữ mặc quần màu xanh và chiếc áo phông màu hồng phấn. Cô đặt tay lên vai người đó.
“Mẹ.”
Người phụ nữ quay lại nhìn, nhưng không phải mẹ.
“Bác là ai ạ?” Cô hỏi.
“Cô à. Con gái tôi hôm đó cũng đã ở trên phà đấy.”
Người phụ nữ nói. Ngoài khuôn mặt, người đó vô cùng giống mẹ. Cái quần xanh giống tới cả độ bạc của vải, còn chiếc áo phông hồng thì giống tới cả thương hiệu lẫn thiết kế. Cả đến đôi sandal màu be người đó đi cùng chiếc túi thể thao bên cạnh, tất cả đều giống đồ của mẹ. Cả chiếc nhẫn thánh đeo ở ngón trỏ bên phải, cùng với chiếc vòng tràng hạt đeo ở cổ tay bên trái cũng giống y hệt đồ của mẹ. Cả những nốt ruồi hình chòm sao Bắc Đẩu trên cổ, cả vết sẹo trên trán cũng giống. Đến cả giọng nói thấp trầm nhẹ nhàng cũng giống y như giọng nói của mẹ.
“Xin cô đừng quên con tôi. Cô không được quên con tôi đâu đấy.”
Người phụ nữ đó nói vậy rồi chạy tới chỗ những người đang qua lại quảng trường. Cô đứng chôn chân tại chỗ như thể vừa bị va vào cái gì. Một đoàn khách du lịch theo hướng dẫn viên đi về phía bức tượng đồng của tướng quân Lee Soon Shin. Tiếng cười vang lên ầm ĩ, cô đưa mắt tìm bóng dáng người phụ nữ vừa rồi đã lẫn vào trong đám đông.
“Con gái tôi hôm đó cũng đã ở trên phà đấy.”
Giọng nói đó rõ ràng là của mẹ.
Giọng nói đó đâm thẳng vào lồng ngực cô.
6.
Bà cùng cụ già lên chuyến xe buýt tới Gwanghwamun. Bên ngoài cửa sổ xe, phong cảnh Seoul cũng thật là đẹp. Những đôi vợ chồng trẻ cùng con cái đi chơi ngày Chủ nhật, những cô gái trẻ bước trên phố, để lộ đôi chân trắng trẻo và mịn màng, hình ảnh đó trông thật tươi mát và xinh đẹp. Trên phố xá ở Seoul đầy những nam thanh nữ tú như thể từ ti vi bước ra. Bà nghĩ tới Michaela – đứa con gái xinh đẹp hơn bất cứ ai trên đời này. Đã định bụng kiểu gì cũng phải gặp mặt con một lần rồi về, vậy mà bà linh cảm có lẽ không thể làm như thế nữa rồi.
Sau khi xảy ra chuyện đó, bà thường xuyên phải lau nước mắt. Lúc nói chuyện với khách làm đầu, lúc đi chợ, lúc nghĩ tới con gái đang ở trên Seoul... nước mắt bà lại lặng lẽ rơi. Ruột gan bà đau đớn và như có lửa đốt. Bà nghĩ tới khoảng thời gian ngắn ngủi mà những người đó còn được sống. Đó là những sinh mạng có thể cứu được, và cũng có đủ thời gian để cứu, đáng ra tất cả đều đã có thể bình an vô sự, vậy mà lại để tuột mất họ ngay trước mắt, thật không thể nào tin nổi.
Bà cảm thấy một nỗi giày vò khôn tả. Cả khi nghĩ tới sự đáng thương của họ, bà cũng thấy thật đau khổ. Bởi vì khi nghĩ tới những con người tội nghiệp đó, bà lại không muốn rũ bỏ cảm giác giày vò trong lòng mình. Tai nạn xảy ra chưa được bao lâu thì tới lễ Phục sinh. Tuần lễ Phục sinh là khoảng thời gian mà bà thích nhất trong suốt một năm, vậy mà năm nay bà không thể nào hưởng lễ như trước nữa. Đức Jesus sống lại – tin mừng đó cũng không chạm được tới tim bà mà cứ thế trôi dạt đi thật xa. “Chị, xin chị vui lên. Đang là lễ Phục sinh mà.” Ngay cả câu nói đó, bà cũng cảm thấy giống như hành vi bạo lực cản trở nỗi đau buồn dành cho những con người ấy.
Thời gian vẫn cứ thế trôi qua, nỗi đau trong lòng cũng nguôi ngoai dần. Những khách hàng trước đây giận dữ rơi nước mắt về chuyện đó bây giờ cũng không đề cập đến việc ấy nữa, có khách hàng lại còn thể hiện sự mệt mỏi đối với những người không quên được sự việc đó nhanh chóng. Nghe những người đó nói mà bà thấy tự lòng mình cũng bị tổn thương. Bà im lặng cuốn lô, cắt tóc. Bà mời họ cà phê. Bà thật lòng không muốn ghét ai cả.
Bà nhìn cụ già đang ngồi ngủ gà gật bên cạnh. Cụ già này biết bao lần đã mất đi người mình yêu thương nhỉ? Mỗi lần nhìn thấy các cụ già, bà lại cảm thấy một niềm tôn kính như vậy. Bởi sống thọ cũng chính là tiễn những người mình yêu thương ra đi trước và chỉ còn lại một mình vò võ. Bởi sống thọ chính là dù có trải qua những việc như thế đi nữa thì cũng vẫn phải hằng ngày thức giấc, ăn cơm và lại một mình đi tiếp con đường.
Đối diện với cái chết của bố mẹ và người chồng, bà cảm thấy như một phần của bản thân mình cũng đã chết theo. Trong lòng bà, cái phần đã chết đi ấy đã biến mất khỏi thế gian này cùng với những người đã khuất. Suốt một thời gian, bà không thở được cho ra thở, ngủ không yên giấc, ăn cũng không nuốt nổi. Sau những ngày mắt mở chong chong thức suốt đêm mà khóc đến cạn nước mắt, bà còn lại cuộc sống thiếu vắng họ và cái thế giới mà họ đã để lại cho bà mà đi. Tất cả những thứ đó đều quý giá đối với bà. Những con người đó vẫn sống trong bà, bà muốn cho họ thấy một thế giới tốt đẹp, bà muốn cho họ thấy bản thân bà đã tốt đẹp hơn trước đây. Bà muốn soi tỏ cho họ thấy chỉ toàn những điều tốt đẹp trong cõi lòng nhờ nỗi buồn mà trở nên thanh sạch của bà.
Bà đánh thức cụ già đang dựa vào vai bà mà ngủ và cả hai xuống xe. Khách du lịch Trung Quốc đang kéo từng đoàn đi qua quảng trường Gwanghwamun. Trên các sợi dây căng giữa các thân cây buộc những ruy băng màu vàng đã ố bẩn đang bay phấp phới. Một vài thanh niên đang vận động lấy chữ ký. Trời nóng thật. Bà lấy chai nước trong cái túi thể thao ra, đưa cho cụ già và sau đó bà cũng uống. Đi được năm bước, cụ già lưng còng đứng lại nghỉ một lúc, sau đó đi năm bước nữa, rồi lại đứng nghỉ một lát. Tình trạng của cụ già thật đáng lo.
“Chị nó à, xin lỗi chị. Tôi vốn đi bộ cừ lắm, vậy mà hôm nay lại thành ra thế này cơ chứ.”
“Cụ cứ thư thả mà đi. Cũng có phải thi chạy đâu ạ.”
“Chị nó định đi thăm thú Seoul mà tại tôi nên chị nó lại đâm ra khổ thế này.”
Hai người đang đứng trước vạch sang đường thì hai cô gái trẻ tiến lại, trên cổ họ đeo tấm biển viết dòng chữ “Ký tên kêu gọi áp dụng Bộ luật đặc biệt về vụ phà Sewol”. Một người cầm tờ rơi, người kia cầm bút bi và file đựng giấy ký tên, dưới ánh nắng, khuôn mặt cả hai đang đỏ ửng lên. Hai cô gái giúp dìu cụ già băng qua vạch kẻ đường.
“Cảm ơn hai cháu.” Sang đường xong, bà nói với hai cô gái.
“Cô với bà xem giúp tờ rơi nhé. Mọi người đã ký tên chưa ạ?”
Cụ già gật đầu, còn bà nhận lấy tờ giấy cô gái đưa và ký tên.
“Chúng tôi đi tìm người. Là bà Kim Ip Boon. Cụ đây là bạn của bà ấy, mà con gái của bà ấy tên là gì vậy cụ ơi?” Bà hỏi.
“Là Lee Myung Soon. Lee Myung Soon Maria.”
“Người nhà tên là Lee Myung Soon.” Bà nói.
“Chỉ nghe tên như thế thì không biết được đâu ạ. Có phải nạn nhân là học sinh không ạ?”
“Vâng.”
“Vậy có thể cho cháu biết tên của học sinh đó không ạ? Thường thì sẽ gọi tìm bố mẹ dựa theo tên học sinh đấy ạ.”
Cụ già đứng im nhắm mắt lại rồi nói:
“Tôi không nhớ tên con bé. Tại từ nhỏ đã gọi nó là Michaela rồi. Từ hồi nó còn bé tẹo cho đến tận bây giờ cũng chưa lần nào gọi tên thật của nó cả. Bà ngoại nó cũng chỉ gọi là Michaela thôi. Cứ ngồi được một lúc là lại lẩm bẩm một mình “Michaela ơi...”.”
Bà đứng lặng nhìn miệng cụ già phát âm ra cái từ “Michaela.” Michaela là tên thánh khá phổ biến cho con gái.
Sau ba lần sảy, bà mới mang thai được đứa con gái hiện giờ.
“Tôi sẽ cầu nguyện Thánh Michaela cho chị.”
Một khách làm đầu mà giờ bà không còn nhớ mặt đã nói với bà như vậy. Vị khách đó quả quyết rằng Thánh Michaela đẩy lùi mọi bóng tối trên thế gian này sẽ bảo vệ cho sinh mạng bé bỏng đang lớn lên trong bà. Tám tháng sau, con gái bà chào đời bình yên, bà gọi con là Michaela. Tên con bé là Soo Jin, nhưng không hiểu sao bà thích gọi là Michaela hơn. Bà tin cái tên đó sẽ có thể bảo vệ được cho con.
Kể từ sau khi sinh con, ánh sáng đã chiếu rọi vào tận trong cõi lòng u ám của bà. Con gái bà đã bước vào cả những góc lạnh lẽo nhất trong lòng bà, xoa dịu và sưởi ấm. Những kè chắn, tường rào bà dựng lên, chỉ cần con gái bà chạm tay vào là đã đổ sụp, tiếng cười của con bé trở thành cơn mưa rào trút nước xuống lòng suối khô cạn. Dù bao nhiêu tình cảm đều cho đi hết cũng không hề bất an, không hề lo sợ rằng biết đâu tình cảm đó không được đáp lại. Tình cảm của con thật ấm áp biết bao.
Bằng hơi thở, bằng ánh sáng của riêng mình, con bé đã bảo vệ cho bà. Con bé đã bảo vệ không cho bóng tối trên thế gian này đến thì thầm bên tai bà. Bà thấy bọn trẻ đứa nào cũng là thiên thần hộ mệnh cho cuộc đời của bố mẹ chúng. Không một ai có thể cướp mất những thiên thần đó từ trong lòng của bố mẹ chúng. Không một ai.
Bà dìu cụ già đi ngang qua quảng trường tìm mẹ và bà ngoại của Michaela. Và bà mong con đường mà những người đó phải đi sẽ không quá xa, không quá nặng nề. Bà không muốn họ sẽ bị tổn thương thêm nữa.
“Mẹ ơi!”
Michaela gọi bà. Bà lau nước mắt đang chảy và thầm gọi con trong lòng.
Michaela.