Cô em gái làm đúng như đã tuyên bố. Suốt ngày hôm đó, cho tới tận trưa, hôm sau tôi không nhìn thấy cô. Sau đó Virginia ra khỏi phòng, gọn gàng trong bộ đồ đi ngựa amazon, sai đầy tớ thắng con Cáo Trắng rồi phóng đi, một mình.
Tôi cảm thấy bất lực với cô em tính khí khác thường, có lẽ tôi không nên lên mặt dạy bảo cô ấy nữa. Virginia không lý gì đến vai trò ông anh, cô rất tự chủ và bao giờ cũng chỉ hành động theo ý mình. Sau câu chuyện chiều qua, tôi chẳng thiết can dự vào việc riêng của cô nữa. Virginia biết chuyện thầm kín của tôi, do vậy mọi lời khuyên của tôi đều sẽ bị cô bác bỏ. Tôi tự nhủ sẽ đứng ngoài cuộc, chờ thời điểm quyết định nhất.
Suốt mấy ngày chúng tôi giữ thái độ lạnh nhạt với nhau. Mẹ tôi rất ngạc nhiên, nhưng không hỏi gì cả. Tôi có cảm giác mẹ không còn chân tình với tôi như trước. Bà rất giận tôi vì vụ đấu súng với Ringgold. Khi biết chuyện, bà buồn vô cùng. Tôi về, bà quở trách tôi rất nhiều và coi tôi là kẻ duy nhất có lỗi trong vụ đó. Tại sao tôi lại cư xử thô lỗ với Arens? Chỉ vì một chuyện tầm vơ đâu đâu! Vì một con nhóc da đỏ hư hỏng! Việc gì tôi phải mếch lòng khi người ta nói tới nó? Những chuyện Ringgold nói có thể thật lắm chứ! Như thế là không tốt, tôi phải cư xử khôn ngoan hơn mới được...
Đúng là mẹ tôi đã nghe mong manh đâu đó, nhưng không biết cô gái da đỏ xinh đẹp kia là ai. Trước đây bà chưa một lần nghe tên Maiuymi. Vì thế tôi khá bình tâm nghe những lời quở mắng gay gắt của bà. Kể ra cũng đã mấy lần quá bực, tôi tính nói toạc ra, nhưng rồi cố kìm lại. Có nói mẹ tôi cũng chẳng tin.
Tôi được biết gia đình Ringgold gần đây có vài thay đổi lớn. Ringgold bố đã chết, chết đúng vào lúc nổi cơn thịnh nộ, đánh đập một nô lệ da đen. Ông ta vọt tăng huyết áp, ngã vật xuống chết ngay, dường như bị Chúa Trời trừng phạt. Ringgold con là người thừa kế duy nhất cả một gia sản khổng lồ - toàn bộ đồn điền bát ngát với ba trăm nô lệ.
Một dạo gã làm bộ đau yếu, đi đâu cũng khoe cánh tay băng bó kín mít, huyênh hoang ta đây đã từng đấu súng. Tuy vậy, những người biết rõ kết cục vụ đấu đều cho rằng Ringgold chả có gì hay hớm để khoe khoang, vênh vác.
Vụ huyết đấu đã không làm thay đổi quan hệ của Ringgold với gia đình tôi. Nghe nói gã thường xuyên sang chơi, thậm chí thiên hạ còn bảo gã là hôn phu tương lai của Virginia nữa. Từ khi gã thừa kế gia sản, trở nên giàu có và thế lực, bà mẹ hám danh của tôi lại càng quí hóa gã hơn. Tôi biết và rất lấy làm tiếc.
Nói chung trong gia đình tôi cũng có gì đó khang khác. Mọi người đối với nhau mất dần tình thân chân thành và ấm áp. Người cha hiền lành và tốt bụng qua đời, để lại cho tôi một khoảng trống không gì bù đắp nổi. Mẹ tôi thì lạnh nhạt, gắt gỏng, làm như tôi là đứa con ngang ngược và hư đốn. Ông bác ngoại cũng a dua theo mẹ, thậm chí ngay cả Virginia, cô em gái rất mực yêu quí của tôi, đôi lúc cũng tỏ ra xa lạ khó hiểu.
Thấy nhà không vui, tôi cố gắng càng ít ở nhà bao nhiêu càng tốt. Phần lớn thì giờ trong ngày tôi đi với Gallaher (tất nhiên thời gian này Gallaher ở nhà tôi). Chúng tôi khá bận rộn với công vụ, lúc rảnh thì rủ nhau đi săn. Thú thực, tôi không còn hào hứng gì lắm với việc đi săn, và Gallaher có lẽ cũng thế.
Công việc hàng ngày của chúng tôi thường đến trưa là xong. Chúng tôi có nhiệm vụ không những chỉ tập họp quân tình nguyện, mà quan trọng hơn là tổ chức huấn luyện cho họ có thể “sẵn sàng chiến đấu”. Khi chúng tôi về, đội tình nguyện đã phiên chế xong, họ bầu những người đã từng phục vụ trong quân đội làm sĩ quan. Chúng tôi chỉ còn việc huấn luyện. Giữa làng có một nhà thờ nhỏ, họ lấy làm trụ sở. Lớp huấn luyện tiến hành tại đó.
Trong đội, phần đông là dân lớp dưới, gồm các điền chủ nhỏ, thợ săn tự do sống ngoài vùng ao đầm với khoản thu nhập nhỏ nhoi kiếm được bằng búa sơn tràng và súng săn. Trong số đó có ông lão Hicmen. Tôi ngạc nhiên thấy trong đội tình nguyện có cả hai nhân vật “tiếng tăm” Spens và Williams. Hai tên này tôi đặc biệt để ý, nhưng thận trọng tránh xa.
Nhiều lính tình nguyện có xuất thân quí tộc. Hiểm họa chiến tranh đe dọa tất cả và vì thế đã liên kết tất cả mọi người. Giới sĩ quan thường là các chủ đồn điền có thế lực. Nhưng do bầu chủ dân chủ, nhiều sĩ quan thực chất còn chưa rành cách đeo ngù vai. Hàm chức bầu ra khá cao, nhiều sĩ quan ngạch bậc còn cao hơn cả tôi và Gallaher. Đại tá, thiếu tá đông không kém binh nhất, binh nhì. Tuy nhiên, tất cả đều phải phục tùng chúng tôi. Thời chiến không hiếm khi một viên trung úy, thậm chí một hạ sĩ quan chính qui chỉ huy cả một đại tá dân quân. Trong đám sĩ quan có nhiều nhân vật khá độc đáo, đã một thời “mài đũng quần” ở võ bị West-Point hoặc có thâm niên dăm ba tháng vác súng dưới sự chỉ huy của “Bố già Hicori”. Số này tự coi mình là các chuyên gia quân sự tài ba, làm việc với họ quả là không dễ. Nhiều lúc Gallaher phải lấy hết ý chí ra chứng minh rằng người chỉ huy ở Xuoni này là cậu ta chứ không phải ai khác. Uy tín của Gallaher dần dần được khẳng định, chính uy danh kiếm thủ khét tiếng và võ sĩ máu me của cậu ta đã góp phần vào việc đó, không kém gì bản thân lệnh ủy nhiệm cậu ta nhận từ tổng hành dinh.
Về các mặt khác, chúng tôi sống hòa thuận với binh lính tình nguyện. Đại đa số anh em rất muốn học quân sự và tự giác phục tùng. Sampan, Whisky và thuốc lá không bao giờ thiếu, nhiều chủ đồn điền quanh vùng tỏ ra rất hào phóng, mến khách. Nếu tôi và Gallaher “khoái” rượu, ham vui thì có lẽ không đâu có điều kiện tốt hơn. Tuy nhiên chúng tôi không quá đà, nhờ vậy rất được kính trọng và công vụ cũng đỡ khó khăn hơn. Nói chung, cuộc sống mới này không có gì đáng phàn nàn, nếu như... không có những trục trặc trong nhà. Khốn thay, nhà tôi bây giờ không còn là mái nhà thân thương nữa!