Sau trận này tâm trạng binh lính bắt đầu thay đổi. Giờ đây không còn ai dám khoác lác, coi thường đối phương, và các sĩ quan đỡ phải nhọc công hãm bớt những cơn xung của đám lính đòi ra trận tìm kiếm vinh quang. Bây giờ không một ai muốn tái phiêu lưu sang bên kia sông Witlacutchi, và như vậy “ổ da đỏ” sẽ không bị khuấy động chừng nào chưa có viện binh chính phủ. Quân tình nguyện sau một trận đã ngã lòng, cuộc sống doanh trại làm họ mệt mỏi và chán nản. Tinh thần hăng hái hôm nào giờ đây xẹp lép, không ai ngờ đối phương da đỏ lại ghê gớm và trận đánh lại ngập máu đến vậy. Đối phương mà họ bấy nay vẫn khinh thường, coi như mọi rợ và yếu đuối, hóa ra lại mạnh hơn họ. Tuy rất căm và rất muốn trả thù, binh lính tất thảy đều cảm thấy nể nang và khiếp sợ đối phương.
Trong trận Witlacutchi quân đội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã thiệt hại gần một trăm sĩ quan và binh lính. Người ta ước đoán thiệt hại bên da đỏ còn lớn hơn nhiều. Tuy nhiên không bao giờ người ta có thể nhìn thấy các tử sĩ da đỏ.
Đương nhiên, trong trận đánh khốc liệt ấy, phía da đỏ cùng có nhiều chiến binh tử trận, nhưng thiệt hại của họ ít hơn chúng tôi nhiều. Mặc dù vậy, các nhà viết sử của chúng tôi đã bóp méo tất cả, tuyên bố đấy là “thắng lợi” vĩ đại của quân đội chính phủ. Bản báo cáo của tướng Clints giờ đây vẫn còn trong tủ sắt lưu trữ, là một mẫu tài liệu quân sự hết sức ngộ nghĩnh. Trong báo cáo tướng Clints đã liệt kê tỉ mỉ từng sĩ quan, mô tả họ như những anh hùng vô song. Đúng là một di tích hiếm hoi của máu hiếu danh và khoác lác!
Nói thật đúng thì các chiến binh da đỏ đã làm chúng tôi chấn động ghê gớm. Trong toàn quân bao trùm không khí thất vọng lẫn căm hờn phải nén chịu. Clints, viên tướng già tốt bụng mà các sử gia vẫn ca ngợi là “bạn lính”, giờ đây hết được coi là vị tướng tài.
Giả sử Oskeola có điều gì đó căm ghét Clints, thì sau trận này anh có thể hoàn toàn mãn nguyện và buông tha cho vị tướng già. Clints vẫn sống, nhưng uy tín cầm quân của ông đã chết.
Khi quân đoàn biên phòng được thay tư lệnh, chúng tôi lại hy vọng giành chiến thắng. Tư lệnh mới là tướng Hans. Nói đúng ra, Hans không được chính phủ chính thức bổ nhiệm, nhưng vì Florida là một bộ phận trọng vùng chiến thuật do ông phụ trách, ông tình nguyện nhận chỉ huy trực tiếp quân đoàn biên giới. Cũng như tư lệnh tiền nhiệm, Hans hy vọng giành vinh quang và những vòng nguyệt quế. Nhưng cũng cùng số phận với Clints, ông đã phải ngậm ngùi chiến bại, vỡ mộng đắng cay.
Quân đoàn chúng tôi, với lực lượng tăng cường từ Luisiana và các bang khác, được lệnh hành quân tác chiến. Tư lệnh quyết định tổ chức một cuộc càn quét mới vào “ổ da đỏ”.
Chúng tôi tới bờ sông Amazura, nhưng không qua sông nổi. Con sông phù thủy ấy là mối bất hạnh thê thảm đối với danh dự và mạng sống của chúng tôi. Lần này, người qua sông là chiến binh da đỏ.
Cũng gần như ngay tại địa điểm cũ, có chăng chỉ hơi lui xuống hạ lưu một chút, chúng tôi bị quân da đỏ tấn công. Sau mấy tiếng đồng hồ ác chiến chúng tôi buộc phải co các tiểu đoàn kiêu hãnh của mình lại. Quân đoàn bị vây hãm suốt chín ngày ròng rã, không ai dám liều mạng thò cổ ra ngoài rào. Nguy cơ chết đói bắt đầu rình rập, rồi xộc thẳng tới trại cố thủ của chúng tôi. Nếu không có thịt ngựa nuôi quân suốt ngần ấy ngày, có lẽ nửa đơn vị trong trại “Izard” đã hy sinh vì đói.
Chúng tôi được giải vây và thoát chết là nhờ một đội quân lớn do tướng Clints (lúc này vẫn chỉ huy đồn King) điều tới kịp thời. Viên cựu tư lệnh dẫn quân từ đồn King, bí mật áp sát phía sau quân da đỏ. Nhờ cơ động và tập kích bất ngờ, tướng Clints đã giải thoát chúng tôi khỏi tình thế hiểm nghèo.
Ngày chúng tôi được giải vây còn có một sự kiện quan trọng nữa - cuộc thương lượng đình chiến với hình thức hết sức độc đáo.
Sáng sớm hôm đó, khi trời mới chớm rạng, từ phía sau chúng tôi chợt có tiếng gọi:
- Ê các người! Hello!
Tiếng gọi phát ra từ bên trại đối phương.
Họ lại gọi lần nữa, và chúng tôi trả lời. Chúng tôi nhận ra giọng nói oang oang như lệnh vỡ của Abram, thủ lĩnh đen, người trước đây đã làm phiên dịch trong các cuộc đàm phán.
- Các ông cần gì? - Chỉ huy ra lệnh hỏi lại.
- Chúng tôi muốn nói chuyện, - bên kia đáp lại.
- Chuyện gì?
- Chúng tôi muốn chấm dứt trận đánh.
Đề nghị của đối phương quá đỗi bất ngờ, và cũng tốt đẹp biết bao. Nhưng như thế nghĩa là thế nào? Không lẽ quân da đỏ cũng bị đói y như chúng tôi? Hay họ mệt mỏi vì trận mạc? Chắc không có lý do nào khác có thể buộc họ đình chiến đột ngột như vậy. Từ trước tới giờ họ chưa một lần bại trận, trái lại, trong tất cả các trận đánh vừa qua, họ luôn giành chiến thắng.
Tuy nhiên, có thể còn một lý do nữa. Chúng tôi đang nóng lòng từng phút, chờ viện binh của tướng Clints. Chúng tôi nhận được mật báo quân tiếp viện đã tới rất gần. Nhờ tăng viện, chúng tôi không những sẽ phá vỡ vòng vây, mà còn đủ sức phản công, thậm chí đè bẹp quân da đỏ. Có lẽ đối phương cũng đã biết điều đó và muốn thỏa thuận đình chiến thật gấp, trước khi viện binh của tướng Clints đến kịp chăng?
Chỉ huy của chúng tôi chấp nhận đề nghị đàm phán, trong thâm ý ông hy vọng sẽ giáng một đòn quyết liệt vào lực lượng da đỏ kháng chiến. Ông ta đang e ngại một điểm: đối phương kịp rút hết trước khi quân tăng viện đến nơi. Việc đàm phán đình chiến sẽ cầm chân đối phương tại chỗ. Chính vì thế chúng tôi dõng dạc trả lời Abram, rằng chúng tôi không phản đối thương lượng.
Giờ đàm phán được ấn định ngay khi mặt trời vừa sáng. Mỗi bên sẽ cử ba đại diện.
Trước trại chúng tôi có một bãi cỏ không lớn lắm, chạy tới sát rừng cây. Trời sáng. Ba đại diện da đỏ từ trong rừng đi ra. Đó là ba thủ lĩnh mang trang phục dân tộc. Chúng tôi nhận ra họ - Abram, Koa-hadzo và Oskeola.
Các thủ lĩnh dừng bước ngoài tầm bắn, đứng sát vai, đối diện thẳng cổng trại. Phía chúng tôi cử ba sĩ quan, trong số đó có hai người thạo thổ ngữ da đỏ. Tôi là một thành viên trong số đó.