Trong bức thư « Đầu Pháp chánh-phủ », tiên-sinh nói tình tệ quan trường rạch ròi cặn kẽ, vẽ cả cái trạng-thái nhu-gian càng-ác, không một chút nào ; bọn ấy căm bụng cắn răng, toan sao cũng trả đũa lại cho được mới chịu, mà chính tiên-sinh cũng tự biết rằng, chắc có một ngày kia mình phải vào chỗ địa ngục !
Năm 1908 (Mậu-Thân), dân Trung-kỳ nổi lên xin xâu, đầu phát từ tỉnh Quảng-Nam, rồi lan khắp cả mấy tỉnh, quan trường sẵn cừu tiên-sinh, nhân dịp nầy mới thừa cơ báo phục : cho rằng ngày nay dân biến là bởi bọn xướng dân-quyền mà thành ra, mà tiên-sinh chính là người xướng thủ, lại giao thông với người bội quốc là Phan-bội-Châu ! Thương với Khâm-sứ Kinh, đánh điện ra Thống-sứ Hà-Nội, bắt tiên-sinh giải về Huế, tiên-sinh không ăn mấy ngày, Khâm-sứ giao qua Hộ-thành giam, rồi lập Tòa Hội-đồng vấn xử, quan Tây, quan Nam đều đủ cả, đổ tội dân biến cho tiên-sinh.
Tiên-sinh nói rằng : « Các ngài ngồi trên đầu dân, lại ăn lộc nước, mỗi ông mỗi tháng, hoặc năm trăm đồng, hoặc hai ba trăm, dưới nữa cũng một trăm tám chín chục, bổng ấy không phải máu mủ của dân sao ? Thế mà cứ ngồi yên ăn lịt, không lo vì dân mở đường sinh kế, toan việc công lợi để cho cùng vô sở xuất, không biết lấy chi nộp thuế, đến rủ nhau làm hạ sách đi yêu-cầu như thế, ấy là tội tại các ngài ; các ngài không biết tội thì chớ lại đổ cho người khác sao ? »
Các quan giận lắm, muốn kết án tử hình, quan Tây không chịu. (Nghe đâu có Hội Bảo-trợ Nhân-quyền binh-vực, và cũng có một ông quan Nam không ký tên) mới giảm đằng, kêu án xử tử phát Côn-Lôn, ngộ xà bất nguyên.
Tiên-sinh về Kinh nghĩ rằng chắc chết. Đến khi giải ra cửa Đông-Nam mới hay rằng đi đày Côn-Lôn ! Có ngâm bài tuyệt cú :
« Xiềng sắt lang tang ra cửa đông,
Ngâm nga ngợi hát lưỡi còn không.
Giống nòi mòn mỏi non sông lặng,
Ai để Côn-Lôn ngã tấm lòng ! »
Sau tôi gặp một người quen làm việc ở Kinh nói rằng : Án tiên-sinh có lấy câu « nô-vị » trong bài điều trần làm chứng, kiết rằng : « Nô vị nhất ngữ dĩ hiển nhiên vô quân thượng chi tâm », nghĩa là một câu « nô-vị » đã rõ là không biết có vua. Nay xét trong bài ấy nói « nô vị » là chỉ cả dân cả nước, không phải chỉ vua thế mà đến kết tội được, có nực cười không !)
Cuộc dân biến năm 1908 là một vở tuồng rất hoạt động, trong lịch-sử nước ta mấy ngàn năm chưa tầng có, mà cũng một vở tuồng rất bi thảm nữa. Một bầu nước yêm-điềm, ngọn triều đâu tràn tới, máy động-cơ vừa nhúc nhích, dây đảng ngục đã bò lan, áo khăn ngồi đầy lao, xiềng gông đi khắp xứ ; từ đó đảo Côn-Lôn là một hòn cù-lao giữa biển, cách biệt trong đất, thuở nay người Pháp lấy làm một nơi đày tù tội, nay mới có vết chưn bọn quan to quốc-sự phạm nầy, mà tiên-sinh chính một người đầu tiên trong bộ sử Côn-Lôn quốc-sự tù !
Năm 1908 (Mậu-Thân) tháng Tư, đày ra Côn-Lôn, khi mới ra giam tạm ở khám trong banh (Bagne tức nhà giam tù), không bận đồ tù, không ăn cơm tù, cũng không phải làm công việc tù, mỗi ngày sớm mai và chiều ra trước hiên đi bách-bộ độ một đôi giờ, được năm bảy ngày, Tham-biện cho ra ở ngoài làng An Hải tự-do sinh-lý. Mỗi tuần lễ, ngày chủ-chật, tới nhà giấy gardien-chef trình diện một lần mà thôi, tiên-sinh học nghề đồi-mồi và đi câu đi lưới chơi cũng được thong thả.
Côn-Lôn (Poulo-Condre) là một hòn đảo ở phía đông-nam biển Sài-Gòn, tàu thủy ở Sài-Gòn đi độ 16 hay 17 giờ thì đến, trước kia thuộc tỉnh Vĩnh-Long. Từ thuộc về Pháp, lấy làm một nơi giam tù. Lục tỉnh, Bắc-Kỳ, Cao-Mên, Ai-Lao, tù án nặng thường giam tại đó ; duy Trung-Kỳ không có, vì còn thuộc chính trị hình luật Annam. Quan Cai-trị có một Tham-biện, một Kỳ-mục, một Gardien chef và lính canh tù ; có một quan Binh (quan Hai) coi hơn trăm lính tây, một sở dây-thép. Đại khái chính thể cũng vì tù tội mà đặt ra, nên hình phạt tra xét nghiêm nhặt khác trong đất nhiều lắm. Đồ dùng phần nhiều ở Sài-Gòn chở ra, mỗi tháng có hai kỳ tàu đi về. Ở đó công việc chi cũng người tù làm cả, đủ các sở, thợ mộc, thợ hồ, nuôi heo, làm ruộng, v.v… có hai tiệm buôn của người Tàu, có nhà đèn (phare), có vô-tuyến-điện, v.v… Theo trên giấy má việc quan thì đảo đó cũng như một hạt ở trong Nam-Kỳ, khác ở đó là chỉ cai-trị người tội mà thôi.
An-Hải là một làng thổ nhân hiện còn bây giờ, cũng y như người Lục Tỉnh, có Lý-dịch đủ được bảy tám nhà, thường có tù án lưu-xứ hoặc an-trí thì cho ra ở làng đó.
Một mình tiên-sinh, trăm mũi tên châu vào, song bởi thế mà quan lại oán, cũng bởi thế mà người Tây (những người có lòng bình-đẳng bác-ái) kính trọng. Tiên-sinh ở Côn-Lôn xem người Tây có một cách biệt-đãi. Ở gần hai năm, có thư ông Babut chủ báo ĐẠI-VIỆT gởi thăm và tin sẽ được tha về. Ít lâu thời Thống-đốc Sài-Gòn ra tới tận nơi tiên-sinh trọ, thăm hỏi một cách ân-cần, rồi ít lâu, giấy lại tha về. Về đến Sài-Gòn mới biết rằng Hội Nhân-quyền Bảo-trợ vì mình kêu oan, mà Thủ-tướng nước Pháp là Ông Poincaré nhận lời. Tiên-sinh ở Côn-Lôn gần ba năm, lúc về là năm 1911.
Ở Sài-gòn chính-phủ có đặt một tòa Hội-đồng, Tham-biện Mỹ-Tho, ông Couzineau, bị cử làm chủ tọa, có đủ Đề-hình, Chưởng-lý. Ông Couzineau đọc bài diễn-văn có câu rằng : « Thay mặt cả dân nước Pháp, trả cái tự-do lại cho ông ». Lại hỏi tiên-sinh muốn nói điều gì ? Tiên-sinh ước lược phát-biểu chính-sách liên lạc Pháp-Việt và yêu-cầu mấy điều rồi xuống ở Mỹ-Tho, (Tiên-sinh xin : 1) Ân xá bọn quốc-sự-phạm, 2) Trị tội Phạm-ngọc-Quát, vì giết ông nghè Trần-quí-Cáp là người vô tội, 3) Xin đi Tây).
Ở Mỹ-Tho tuy tiếng rằng tự-do, mà thực thì nhà nước còn có ý trông nom quản cố, tiên-sinh không bằng lòng, cho rằng đã được tha, vì là người không tội, mà lại không được tự-do hành-động, không khác chi ở tù, bèn làm thư gửi cho chính-phủ xin trở ra Côn-Lôn. Chính phủ biết tiên-sinh là người không chịu trói buộc như kẻ khác, không lấy chước vặt mà ngăn cấm được, mới nhận lời yêu-cầu cho tiên-sinh đi sang Pháp. Tháng… năm ấy đồng thuyền với ông Toàn-quyền Klobukowski đi Tây và đem con là Phan-châu-Dật sang học luôn. (Thư gửi cho Hội Nhân-quyền cùng sách Pháp-Việt liên lạc, có lẽ làm năm ấy).