Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 970 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tri kỷ

Tri kỷ của tôi là thằng Tiến. Ở nhà tôi là con út, đi bộ đội tôi có thằng em này. Ăn cùng ngủ cùng, đánh trận luôn cạnh nhau, chưa nói đã hiểu rồi.

Sau Hiệp định Bảy ba ký kết đơn vị tiến sâu vào Gia Lai. Thế là “Dốc Kon Tum, hùm Đắc Lắc, giặc Gia Lai” tôi đã từng. Thế trận ngày càng có lợi cho ta. Không phải ngủ hầm quanh năm nữa, chúng tôi làm lán. “Khang trang” mọc lên giữa rừng những cái lán vách ghép bằng lồ ô, mái thì thân cây lồ ô bổ đôi rồi cứ một ngửa, một úp. Ngồi ngắm nơi ở mới, khỏi nói lính chúng tôi vui, hy vọng vào ngày Thống nhất sắp đến nhiều như thế nào. Nhưng đói thì vẫn vậy. Tôi cùng thằng Tiến đi lấy măng.

Nhặm nhuội rủ xuống sông Poko tắm, mắt nó sáng bừng lên, chắc đã nghe tên sông trong một bài hát.

Hai thằng hôm ấy không được tắm vì đã có hai cô Thanh niên Xung phong vùng vẫy ở đó rồi. “Nhìn là mù mắt đó”, tiếng xứ Thanh lảnh lót, và thế là tôi có tình đầu tuổi mười tám. Từ hôm đó thằng Tiến kiêm luôn tư vấn tình cảm cho tôi. Dọc đường về con tim tôi ca hát, còn nó cứ chẹp chẹp: “Chị Phương xinh thế”! Mát cả dạ. Nó làm quân sư tình yêu cho tôi được một năm.

Đón xuân Bảy nhăm một không khí chộn rộn khó tả, được lệnh ăn Tết sớm. Tết của Trung đội là bốn hộp thịt nửa cân, thích nhất mỗi thằng hai điếu thuốc Tam Đảo có lẽ hơi mốc, vẫn quý không sao. Bí mật sẵn sàng ra khỏi rừng. Không nói lời chia tay với Phương.

Bốn giờ sáng, tiếng còi báo động vang lên, vùng dậy hành quân, mang theo tất cả trừ chỗ ngủ. Đi hoài đi mãi vẫn là con đường dưới tán cây khọoc trơ trụi. Thoáng trong đầu câu tếu của lính Tây Nguyên: “Đường về quê mẹ thì xa, đường ra gốc khọoc Bê ba thì gần”.

Đi ba ngày thì ra khỏi rừng khoọc, trước mặt là vùng đất lạ có rừng núi nhấp nhô, đơn vị dừng chân đào hầm. Tại đây, hơn một tháng đơn vị tôi làm lính công binh, bí mật cưa cây mở đường mà lòng khấp khởi chờ trận đánh quyết định. Vừa qua mùa mưa, ít chiến đấu và thú thật, thèm thuốc nữa, lính chiến mà, chúng tôi rất sẵn sàng.

Trận phục kích đường số 14 đoạn Chư Léo, nhằm cô lập Nam Tây Nguyên với Bắc Tây Nguyên. Ta quyết chặn, địch tập trung xe tăng xe bọc thép hai phía cùng máy bay quyết giữ.

Địa hình vô cùng trống trải, để tiếp cận vị trí chiến đấu, chúng tôi bò sát đất mà nghe đạn veo véo trên đầu. Năm giờ sáng các loại đạn pháo ta cấp tập đổ vào trận địa. Pháo phòng không của ta trên đỉnh Chư Sê sau khi đuổi chiếc máy bay L19 cụp đuôi bay đi, nòng pháo chúc thẳng xuống mặt đường. Hết đợt pháo, bộ binh được lệnh xuất kích.

Nhận nhiệm vụ là mũi chủ công, Trung đội tôi lao lên dẫn đầu, ra hiệu và yểm trợ cho thằng Tiến đứng thẳng lên bắn một quả B41, chiếc xe tăng M48 trước mặt bùng lên cột khói lớn, chặn đoàn xe dồn lại. Từ tất cả các hướng bộ binh chúng tôi ào xông ra mặt đường. Sau hai giờ nhiệm vụ hoàn thành.

Xe địch ngổn ngang, trong đám tù binh có cả vợ thằng thiếu tá bụng chửa to đùng, cái môi đỏ choét nhìn đáng ghét. Nghe nói sau quân y ta phải đỡ đẻ cho nó.

Có ít thuốc Rubi chiến lợi phẩm hút phì phèo cũng đỡ mệt, đơn vị tiếp tục hành quân. Hai ngày sau là trận đánh thuận lợi nhất tôi từng thấy, đúng như cái tên Thuần Mẫn, ta giải phóng quận lỵ nhanh gọn.

Chốt giữ tại đây vài ngày là lệnh di chuyển gấp. Bước chân vội vã có lẽ ngày đêm ấy chỉ ngủ hai tiếng, chẳng biết quãng đường là bao nhiêu. Sau này mới biết đó là cuộc hành quân “Thần tốc”… Đến nơi tập kết “sướng phết” không phải đào hầm.

Xa xa tiếng động cơ ầm ĩ, tiếng pháo nghe rất khác, linh cảm “Đánh lớn rồi”. Hôm đó là 18/3/1975.

Buổi chiều đơn vị xuất kích, lần đầu xuất kích buổi chiều, lần đầu đánh trên đường phố. Địch chống trả quyết liệt nhưng gặp bản lĩnh lính Tây Nguyên, sau hai giờ đồng hồ, chúng chỉ còn co cụm giữa Thị xã. Xe pháo, tù binh thu về lần đầu tiên trong đời lính tôi thấy nhiều đến thế, lúc đầu còn báo cáo số lượng sau không đếm xuể.

Màn đêm buông xuống, tiếng súng tạm ngưng. Ta và địch chỉ cách nhau mấy chục mét, căng thẳng đến tức ngực. Khoảng hai mươi giờ có tiếng trực thăng bay vè vè rồi đạn 20ly xả xuống, địch nôn nóng lắm rồi. Ngay lập tức quầng lửa pháo của ta vút lên đỏ lừ đáp trả, chiếc máy bay quay mất dạng, mặt trận hoàn toàn im ắng.

Lên Đại đội báo cáo và nhận nhiệm vụ, tôi mới biết đây là thị xã Cheo Reo (Phủ Bổn).

Năm giờ sáng tiếng súng lại vang lên khắp Thị xã. Cái khó là trong bọn lính Quân đoàn 2 tháo chạy từ Polayku về Nha Trang theo đường 7 có cả dân chạy theo. Đánh địch mà phải bảo vệ dân. Đơn vị tôi có anh Quý cởi quần dài ra làm băng cho một cô gái bị mảnh pháo cứa vào “chỗ hiểm”, máu ra nhiều, chỗ ấy rất khó băng mà anh làm được. Sau Giải phóng khi đơn vị đóng ở Đồng Dù không biết sao hai bố con cô ấy tìm gặp được, nhận làm anh, xúc động lắm.

Cây cầu bắc qua sông Ba bị ta đánh sập từ bao giờ, hết đường chạy địch quyết liệt chống trả. Ta và địch giành nhau từng góc phố con đường. Tôi với thằng Tiến như hình với bóng. Phía trước một xe tăng địch vừa lùi vừa bắn lại, Tiến chồm lên bắn một quả B41, trúng rồi… ngọn lửa bùng lên từ chiếc xe tăng thì nghe tiếng gọi: “Anh ơi”! Tôi nhìn lại rụng rời… Khói quả đạn B41 vẫn bao trùm, em đã không thay đổi vị trí sau bắn và hứng trọn loạt đạn AR15… Máu loang trên ngực nó.

Ôm em vào một góc nhà nham nhở đạn pháo. Tôi đặt đầu em lên đùi rồi băng bó, em há miệng muốn nói gì đó, anh nghe đây! “Cho em gửi lời chào chị Phương. Chúc anh chị hạnh phúc”. Em ngoẹo đầu và lòng tôi. “Tiến ơi”! Gương mặt em thanh thản.

Đặt em xuống. Tôi lao đi trong nỗi đau khôn tả, quên làn đạn quanh mình và không nhớ mình đã bắn bao nhiêu quả M79. Phát hiện một bộ đồ rằn ri chui dưới gầm chiếc xe jeep, tên này cuống cuồng bò ra rồi vái như tế sao. Nhìn bông mai Thiếu tá trên ve áo tôi chỉ muốn cho nó quả đạn nhưng nhớ đến cú cảnh cáo lần trước tôi cố nén giận giao nó về tuyến sau.

Năm 1984 khi vào thăm nhánh người họ hàng đuổi Pháp quá đà (di cư vào Nam 1954). Tôi gặp lại hắn, là chú họ tôi. Tôi ngỡ ngàng còn chú òa khóc, chú nói hôm ấy may “bị” tôi bắt, chứ chạy được về phòng tuyến Phan Rang thì chú chắc không còn. Chú cải tạo tốt và giờ còn làm công tác Mặt trận của khu phố nữa.

Mười một giờ ta làm chủ hoàn toàn Thị xã. La liệt xe địch xe dân, nhìn đồ đạc vương vãi bất giác nhớ đến Phương cùng chị em Thanh niên Xung phong muôn vàn thiếu thốn trong rừng. Gà lợn của dân di tản để lại trên xe rất nhiều, thèm lắm mà chúng tôi vẫn ăn cơm với duy nhất mắm kem món tôi ăn đã suốt bốn năm, kỷ luật chiến trường mà.

Chốt lại đây hai ngày. Tôi mới có thời gian nhớ tới thằng Tiến em tôi. Bên vận tải đưa em đi đâu tôi cũng không biết nữa. Quê hương Cao Bằng sinh ra em, bố mẹ nuôi em lớn, để em gửi thân lại thanh thản trên đất này. Nhận vết đau chí mạng nó gọi tên tôi. Lời sau cùng của nó là ước mơ dành cho tôi.

15/5/2021

TRẬN CUỐI ĐỒNG DÙ

Tôi không may mắn được tiến vào Sài Gòn ngày Ba mươi tháng Tư. Cách Sài Gòn ba mươi kilomet, căn cứ Đồng Dù là trận đánh cuối. Mà cái tên ấy khi ra viện tôi mới biết. Lính mà, chỉ biết nhận nhiệm vụ chiến đấu thôi.

Rời thị xã Cheo Reo bề bộn xe pháo của địch, hàng hóa lợn gà của dân bỏ lại. Chúng tôi đi theo đường 7 xuống Nha Trang. Hành quân thần tốc trong thế trận Cheo Reo nâng bước, mỗi ngày đêm nghỉ sáu tiếng, chục ngày sau đã xuống tới đồng bằng ven biển Tuy Hòa, lạ lùng nghe gió thổi ào ào miền Duyên hải.

Nhìn lên đài quan sát Chóp Chài không còn bóng tên lính gác. Dọc quốc lộ Một là tiếng loa trên nóc những chiếc xe lam, phát đi lời đầu hàng của tên tướng ngụy thất trận, Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm.

Tại đây lần đầu tiên Bộ binh chúng tôi được một đơn vị Tăng thiết giáp phối thuộc, được ngồi xe bọc thép đi hai tiếng đồng hồ trên quốc lộ 1. Sung sướng được giải phóng đôi chân cùng cảm giác an toàn, có lẽ phải thêm vào vốn liếng ngạn ngữ câu: “Vui như lính bộ binh ngồi xe”, vì buồn cười lắm, đang trong tình trạng “con ruồi đậu mép không thèm đuổi” mà lên xe thôi thì cười nói tán gẫu rồi vỗ tay hòa nhịp hát “Tiến về đồng bằng ta tiến về Thành đô” đinh cả tai trong thùng xe vừa nóng vừa kín. Cứ như không hề có trận đánh sắp tới: Giải phóng Thị trấn Tuy An.

Đột ngột dừng lại, chúng tôi ào xuống xe nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu mà thấy lạ, chưa trận nào như thế.

Chỉ với mấy quả pháo thị uy, địch lũ lượt chạy trốn, ra hàng. Quân trang lính ngụy cùng vũ khí vất ngổn ngang… Súng đạn nặng trĩu vai chúng tôi trên đường hành quân giờ bỏ không.

Tuy An vắng lặng đến tức ngực. Đón chúng tôi chỉ hàng dừa trải dài quanh Thị trấn. Lâu sau những cánh cửa nhà dân đóng im ỉm bắt đầu hé mở, vài người dân dũng cảm ra thăm dò các “ông” bộ đội, rồi đông dần.

Ngỡ ngàng buổi trưa được các mẹ các chị đem cơm ra tiếp, chuyện sau mới biết là bọn Tâm lý chiến tuyên truyền Cộng sản ở lâu trong rừng nên mọc đuôi, bà con kéo ra để xem thật hư thế nào… Chúng tôi ngại ngùng nhìn lại mình.

Lính Tây Nguyên sốt rét là không tránh khỏi, nhắc sốt rét mà không nhắc tới tài tiêm mông chị Xuân ở viện 211 thì thật thiếu sót. Lính ta xếp hàng nắm úp ngại ngùng để hở nửa cái mông. Chị đến kéo xoẹt xuống đến đầu gối, tiêm luôn rồi đi luôn. Đông quá mà. Nghe nói tiêm không đúng huyệt là liệt luôn mà chưa thằng nào liệt cả. Chỉ tội sau ba mũi Quy-nín sánh như mỡ gà ấy hết sốt là đôi chân run rẩy, đi phải chống gậy.

Mắt trắng môi thâm vì sốt rét, quần áo tã nát mưa rừng, đánh trận… mà sao các bà các mẹ thương thế, cảm động lắm. Được gặp các em gái nữa, bộ đồ mỏng teng chứ không kín đáo như phụ nữ ngoài Bắc, làm lính ta chỉ dám nhìn trộm.

Mấy hôm trước gà lợn dân chạy bỏ đầy nhưng chúng tôi vẫn ăn mắm kem, món tôi ăn đã suốt bốn năm nên bữa cơm ấm tình quân dân hôm nay nhớ ơi là nhớ. Thịt cá ăn không hết nhưng ngon nhất là món rau muống xào tỏi, dạo qua anh em thấy mâm nào cũng hết trước… Hôm đó là mùng Một tháng Tư năm 1975.

Chia tay bà con Tuy An, chúng tôi lại được ngồi ô tô, quay lại đường 7. Trận đánh nối tiếp trận đánh, đã cuối tháng Tư. Dừng chân ở Chơn Thành đơn vị nhận thêm bảy lính trẻ cùng quê Thanh Hóa, làm quen mới biết các em còn lơ ngơ mà lo lắng, quân số Trung đội lại đủ mười lăm người. Mỗi người được phát một bộ quần áo cùng mũ cối mới tinh. Hồi hộp… chuẩn bị đánh vào Thành phố rồi.

Mười lăm giờ lên đường, vẫn là tăng võng bông băng súng đạn và bó cây trên vai, chỉ khác anh nào cũng xúng xính bộ Tô Châu mới cứng. Hai mốt giờ đến nơi tập kết. Trước mặt là trận địa rộng lớn chưa từng thấy, trong đồn điện vẫn sáng trưng. Được biết pháo ta đã bắn vào căn cứ này ba ngày rồi. Kho xăng đang bập bùng cháy…

Bất ngờ loạt đạn pháo bên trong căn cứ bắn ra may chỉ cày đất ngay cạnh đội hình. Linh cảm trận này ác liệt. Đào hầm xong tôi tập hợp nhắc anh em không được chủ quan.

Năm giờ sáng các cỡ pháo ta bắn vào căn cứ dồn dập. Rồi tiếng bộc phá từ “cửa mở” đinh tai nhức óc. Địch đưa tăng ra bắn xuống, trên trời T28 trút bom, một chiếc xe tăng ta dũng cảm lao lên hỗ trợ cho đơn vị đánh bộc phá và trúng đạn bốc cháy, lính tăng như đuốc sống lao ra.

Sau hơn một tiếng đồng hồ, đại đội đánh bộc phá mới thông qua mười bảy lớp hàng rào dây thép gai. Lệnh chúng tôi xuất kích, bò nhích từng mét. Trên cửa mở anh em hy sinh rất nhiều đủ các tư thế nằm ngồi… Hơn một tiếng nữa chúng tôi mới chiếm được lô cốt đầu, đỡ phơi mình dưới làn đạn và phát triển vào trong.

Ở cửa mở phụ của Tiểu đoàn 3 cũng rất ác liệt. Trung đoàn phó Phạm Vũ Mão đã phải bò lên cửa mở trực tiếp chỉ huy.

Tôi thấy đau nhói gần tai. Máu chảy xuống cằm. Cậu y tá chạy sang, đã hết băng. Băng cá nhân của tôi cũng đã dùng cho đồng đội. Chỉ còn lại cái băng bụng to tướng.

Thấy máu ra nhiều nó cuống lên băng cho tôi kín hết mặt, chỉ hở hai con mắt. Anh Tác chính trị viên bò đến gần tôi: “Em có đau lắm không? Anh em a10 (cối 60ly) hy sinh hết rồi”… Tôi hiểu anh muốn nói gì.

Căn cứ này trước là của Sư đoàn Tia Chớp (Mỹ). Rất kiên cố. Quây xung quanh trại lính là những thùng phuy chứa đất. Bắn thẳng hầu như mất tác dụng nên giờ chỉ còn khẩu M79 của tôi là hiệu quả, quen tay nên tôi không cần ngắm. Từng quả đạn cầu vồng bay vào trại lính, lúc ấy tôi cũng không thấy đau.

Hai tiếng đồng hồ nữa trong chiến trận nghẹt thở, đúng 11 giờ 12 phút tiếng súng chống trả hoàn toàn lặng im, lá cờ Giải phóng tung bay trên cột cờ của Sở chỉ huy căn cứ. Khoảnh khắc không thể nào quên ta làm chủ trận địa. Tên Lý Tòng Bá tư lệnh Sư đoàn 25 (Sư đoàn địch mệnh danh là Sấm sét miền Đông) bỏ chạy ra rừng cao su thì bị bắt.

Trung đội còn năm anh em, nhem nhuốc nhìn nhau. Bộ quần áo Tô Châu hôm qua mới lĩnh còn nguyên hồ dưới trời nắng nóng ướt sũng, lấm lem chẳng còn chút màu xanh. Thằng em nhìn cái băng kín mặt thấm máu ôm lấy tôi mà khóc làm tôi lại phải dỗ nó. Anh Tác đến bên tôi: “Em đi viện nhé! Khi nào về anh có tin vui cho em”… Giờ tôi mới thấm đau. Tôi trao khẩu M79 cho anh mà không nghĩ là chia tay nó, không nghĩ mai là ngày chiến thắng. Khẩu M79 ấy đã qua tay nhiều người lính, gắn bó với tôi hơn ba năm, và giờ đang được lưu giữ trong Bảo tàng truyền thống Đoàn Đồng bằng.

Chiếc xe Gát (mà lính gọi là xe ghẻ) chở thương binh theo con đường gập ghềnh bên bờ sông Sài Gòn. Tôi được đưa vào hầm phẫu là một đoạn trong địa đạo Củ Chi. Có rất nhiều thương binh trong phẫu, mùi máu không có đường thoát tanh dễ sợ. O y tá rất đẹp ngọt ngào nựng khi gỡ băng cho tôi: “Gắng chịu anh nha”.

“Nếu em dùng răng thì đỡ đau hơn đấy”. “Hòa bình đã anh nhé”! Em cười tươi rói, tôi thấy như người thân.

Trưa hôm sau, Ba mươi tháng Tư tiếng súng vang lên từng hồi dữ dội. Địch tập kích khu phẫu sao? Đang lo lắng bỗng các o y tá ào vào. Ôm lấy thương binh mà hôn: “Các anh ơi, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Sài Gòn giải phóng, ta thắng rồi”! Tất cả… cụt chân, cụt tay, băng bó… nhảy cẫng lên.

Thế ra khi nghe tin chiến thắng, còn bao nhiêu đạn trong súng các o bắn hết lên trời. Giờ tiếng súng vẫn còn râm ran mà sao nghe vui thế.

18/6/2021

« Lùi
Tiến »