(Thác) hề - còn gọi là (thác trạch), có nghĩa là vỏ hoặc lá cây rụng xuống. Bài này chọn từ “Trịnh Phong”, là một trong những bài thơ tình giản dị trong sáng nhất trong “Kinh thi”. Bài thơ miêu tả người con gái yêu cầu chàng trai mình yêu cùng hát múa với cô trên sàn diễn, sung sướng hân hoan như lá bay xoay xoay trong gió.
Vậy là tôi đã đến Trường đại học Thanh Yên ghi tên vào học.
Trong bốn năm vui vẻ và gian khổ học tập, bởi vì giáo sư Triệu giảng dạy "Giải thích Kinh thi" của Phòng nghiên cứu giảng dạy văn học cổ điển khoa Trung văn phát hiện dãy núi Bả Lâu lưu vực sông Hoàng Hà trung nguyên quê hương tôi chính là nơi phát nguồn hàng loạt thơ trồng lúa chăn tằm trong "Kinh thi"; còn bởi vì trong năm đại học thứ ba của khoa Trung văn tôi dùi mài kinh sử ngày đêm, có một bài luận văn "Khảo sát mới về Thác hề" đăng trên Liễu học báo (sự kiện này gây xôn xao dư luận), thầy Triệu có ý định khuyến khích tôi ghi tên thị làm nghiên cứu sinh của ông. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ, thầy Triệu lại còn mở ra chân trời mới để tôi thi làm luận án tiến sĩ của ông. Vận may thuận dòng đẩy thuyền, xuân ấm hoa nở đã đội lên đầu tôi chiếc mũ tiến sĩ, được giữ lại ngôi trường nổi tiếng này làm giảng viên trẻ tuổi, trở thành một trong những chuyên gia trẻ nhất của giới nghiên cứu "Kinh thi". Đương nhiên, tôi cũng trở thành chàng trai ở rể trong gia đình giáo sư Triệu, trở thành đệ tử duy nhất mà giáo sư Triệu gửi gắm nhiều hi vọng (nguyện vọng lớn nhất của ông là thông qua đệ tử cần mẫn hiếu học được trời ưu đãi như tội, khiến cho việc nghiên cứu "Kinh thi" trở thành một môn Kinh thi học trên đất nước rộng lớn Trung Quốc. Còn vợ tôi Triệu Như Bình (con gái duy nhất của gia đình giáo sư Triệu), cô ấy chưa tốt nghiệp phổ thông trung học (vì yêu sớm bỏ học), vốn là nhân viên quản lí thư viện nhà trường nhưng một khi chúng tôi cưới nhau (thời ấy chúng tôi sống môn đăng hộ đối, yêu nhau tha thiết, cuộc sống như hoa nở trên mật ong). Bởi vì cô ấy khao khát và có yêu cầu đối với học lực và hư vinh, đã cắp một tập họa báo điện ảnh và những mẩu chuyện ít người biết đến của các ngôi sao màn bạc trong ngoài nước, đi ghi tên thi vào lớp hàm thụ đại học ngoại trú của một học viện nghệ thuật ở kinh thành (đã thi đỗ, chỉ có điều học phí cao vọt, cao như tòa nhà chọc trời xuất hiện ở kinh thành sau một đêm thức dậy). Về sau này, bởi nghiên cứu đối với "Kinh thi" của tôi có sáng tạo mới luôn luôn cho ra đời những bài luận văn siêu trọng lượng, nên tôi đã được phong là phó giáo sư của nhà trường trước thời hạn. Còn Như Bình cũng bởi lòng say mê và tìm tòi nghiên cứu đối với thân thế và những chuyện ít người biết đến của hàng loạt ngôi sao điện ảnh trong ngoài nước, mà cũng đã trở thành nghiên cứu sinh hàm thụ đại học ngoại trú của học viện nghệ thuật kia (học phí còn cao hơn tòa nhà chọc trời, ngốn cho bằng sạch toàn bộ nhuận bút của tôi).
Về sau nữa, mọi việc của nhà nước này bỗng lặng lẽ khác đi, sự thay đổi đến chóng mặt, chợt nhanh chợt chậm, hiện ra và mất đi trong nháy mắt, khiến bạn cứ tưởng vừa đến hoàng hôn, nhưng đã sáng bảnh mắt, cứ tưởng mặt trời vừa mọc, nhưng đã trăng sao đầy trời.
Năm ấy, Như Bình vừa nhận bằng tốt nghiệp đại học hàm thụ. Để theo kịp bước tiến của thời đại, Trường đại học Thanh Yên chuẩn bị thành lập khoa nghệ thuật điện ảnh và truyền hình. Sang năm sau, Như Bình vừa nhận bằng học vị thạc sĩ hàm thụ, khoa nghệ thuật điện ảnh truyền hình ra đời đáp ứng với thời đại, bởi cô ấy có văn bằng, lại có bố, nên được điều về khoa làm giảng viên. Lại một năm nữa, cô ấy vừa giật gấu vá vai bốn bài luận văn của người ta về nghiên cứu nghệ thuật điện ảnh (tôi cũng vào hùa giúp cô ấy), rồi lồng ghép tổ hợp một cách thần không biết quỷ không hay, biến nó thành tác phẩm chuyên đề của mình gửi cho nhà xuất bản, cô đã trở thành phó giáo sư của khoa nghệ thuật điện ảnh và truyền hình của Trường đại học Thanh Yên có tác phẩm chuyên đề lí luận quan trọng.
Cũng trong mấy năm này, vận mệnh của tôi nước đến có thể ngập đất, mà quân đến không thể ngăn cản. Khi GDP của nhà nước lên đến tám phần trăm, tôi đăng luận văn dễ như trở bàn tay, dăm ba hôm lại có giấy nhuận bút gửi về phòng nghiên cứu giảng dạy văn học cổ điển của khoa Trung Văn. Đến khi GDP lên đến mười phần trăm, tôi đăng bài luận văn lại chỉ có chữ in chì, chứ không có tiền nhuận bút. Đến năm GDP lên đến mười hai phần trăm, có công bố luận văn đi chăng nữa, không những không trả nhuận bút, mà ngược lại nhà xuất bản còn làm con phe, đòi tôi phải nộp tiền in ấn và kinh phí xuất bản.
Không biết vấn đề xảy ra ở đâu, giống như một người không biết vì sao mình mắc bệnh ung thư, tôi không biết vì sao người ta đăng luận văn của mình, lại bắt tôi trả tiền. Bài giảng văn học cổ điển vốn vẫn là trọng điểm trong các bài giảng trọng điểm của khoa văn. Tôi đã từng mấy lần đến các lớp lớn "giảng giải Kinh thi", cũng coi như trai tài gái giỏi ngồi nghe chật lớp, vinh dự được khách quý đến thăm. Nhưng trong vô tri vô giác, bài giảng văn học cổ điển lấy "Kinh thi" làm đại diện đã trở thành xác ướp của xã hội này, ngoài nghiên cứu ra không bao giờ còn giá trị thưởng thức và thực dụng nữa. Không biết tại sao, liên tục trong mấy năm, tôi úp úp mở mở, lại tranh tranh đoạt đoạt để trong khoa báo cáo lên trên xét phong cho mình từ phó giáo sư lên hàm giáo sư. Nhưng Ủy ban bình xét của trường vẫn đường hoàng lần lượt gạt ra khỏi danh sách, giống như hễ bước sang mùa đông là cành khô lá úa.
Tôi không biết nhà nước và thế giới này sẽ thay đổi ra sao.
Tôi không biết con thuyền vận mệnh của mình đã từng đi thuận dòng với thời cuộc đã quẹo ở chỗ nào. Nhưng xét cho cùng tôi là người đến từ dãy núi Bả Lâu, thuộc lớp dưới đáy xã hội, mang đức tính tốt đẹp kiên nhẫn, cố chấp, nhường nhịn và phấn đấu. Trên người tôi giống như hạt giống đã vùi sẵn trong đất, chỉ cần một tí chút ánh nắng và nước mưa, tất nhiên sẽ mọc rễ, đơm hoa và kết quả. Tôi cũng đã dầm mưa dãi gió chầu chực năm năm trời. Mùa hè năm nay khi tôi lại bị gạt ra khỏi danh sách xét phong hàm giáo sư lần thứ ba, đang đêm nằm chung giường chung gối với vợ, giẫy ra khỏi lòng tôi giữa đêm đen, cô ấy nói một thôi một hồi toàn những lời sâu xa ý vị.
– Anh Dương Khoa, em không có đòi hỏi gì đối với anh. Bố em đã nghỉ hưu. Ông đã hết hi vọng anh làm học giả và chuyên gia (phải chăng tôi không phải chuyên gia, không phải học giả?), cũng không còn hi vọng một ngày nào đó anh làm chủ nhiệm khoa, hoặc lãnh đạo nhà trường có quyền có thể. Bố và em chỉ hi vọng anh có thể nằm gai nếm mật, thật sự viết được một cuốn sách chuyên đề, dựa vào cuốn sách ấy, anh có thể được xét phong hàm giáo sư một cách trót lọt. Kể ra chồng của Triệu Như Bình này cũng là giáo sư tiến sĩ một cách danh chính ngôn thuận của Trường đại học Thanh Yên là được rồi.
Nói xong những lời này, từ bên tôi, cô ấy đứng dậy, kéo lê đôi dép, lẹp kẹp đi ra ngồi trong phòng khách tối om, để lại tôi trong buồng ngủ, y như nhốt con cừu cô độc vào trong chuồng kín mít. Sau đó, một ở trong, một ở ngoài, chúng tôi im lặng kéo dài. Tôi nằm trên giường. Cô ấy ngồi trên sô pha. Khi sự im lặng và bóng tối chồng chất cao như núi, đè lên tôi đến đứt gân gãy xương, ngột ngạt sắp tắt thở, tôi cũng đi ra khỏi buồng ngủ, đứng trước mặt cô ấy. Nhìn thấy trong lờ mờ cô ấy ngẩng đầu nhìn tôi (mắt vừa to vừa tròn), cô ấy lại nói hai câu ôn hòa mà giá lạnh.
Cô ấy nói, anh Dương Khoa, em rất không muốn, một ngày nào đó em đã là giáo sư mà chồng em vẫn còn là phó giáo sư, em đã là thầy của tiến sĩ, mà chồng em vẫn đành phải đì đẹt lên lớp cho sinh viên, đành phải dìu dắt cho mấy cô cậu thạc sĩ bị người ta chọn hết còn thừa lại một cách đáng thương. Lẽ nào anh không thể suy nghĩ, tìm cách để người ta nhìn mình bằng một con mắt khác?