Phong Nhã Tụng

Lượt đọc: 2367 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN THỨ BA
Chương 1
xuất xe

Xuất xe - Đây là bài hát vui sáng tác khi võ sĩ ra trận đánh thắng trở về.

Hai ai mươi nhăm ngày sau khi Lý Quảng Trí và -Như Bình làm tình vụng trộm bị tôi (vô tình) bắt quả tang, một buổi chiều thứ sáu, đầu tháng sáu trước khi nghỉ hè, tôi giảng bài văn học cổ điển cho sinh viên đại học năm thứ ba, bài thứ 9: "Giải đọc Kinh thi" - Tính tồn tại của tinh thần "Kinh thi".

Tôi biết, các em học sinh không thích vào lớp nghe tôi giảng, giống như không thích vào bảo tàng xem xác ướp có giá trị nhất, không thích nghe bài "giải đọc Kinh thi" của tôi, giống như không thích nghe ca hát và giọng nói đến từ thời thượng cổ. Sự việc là như thế, trên núi cao không chịu nổi rét, trời mát mẻ mới là mùa thu đẹp, tôi không trách các em, chỉ trách mình nghiên cứu "Kinh thi" vượt khỏi phạm vi và hạn độ có thể lí giải của thầy giáo và học trò thông thường. Nhưng nói cho cùng, tôi là học giả, tôi là (phó) giáo sư, chức trách và lương tri của tôi thôi thúc tôi, mặc dù có học sinh đi nghe bài của tôi hay không, tôi cũng phải đi giảng bài của mình. Tôi hiểu (giáo sư cả trường ai cũng hiểu), học sinh có đi nghe hay không là một chuyện, các giáo sư có đi giảng hay không lại là chuyện khác.

Tôi đã đi giảng bài.

Đây là bài đầu tiên sau khi tôi viết xong cuốn "Phong nhã chi tụng - nghiên cứu nguồn gốc về tinh thần "Kinh thi". Lần đầu tiên tôi đưa nội dung trong cuốn sách chuyên đề của mình lên bục giảng. Tôi biết, chắc chắn học sinh đến nghe tôi giảng hiếm hoi, có thể đếm trên đầu ngón tay. Nhưng trong lòng tôi lại khát vọng nhân tài đến đông đúc, sĩ số ngồi chật nhà, giống như bài giảng của Như Bình, trong lớp học to rộng, sinh viên ngồi kín chỗ, đông nghìn nghịt.

Tôi biết, số học sinh hiếm hoi đến nghe tôi giảng bài, ngồi trong lớp lơ đễnh, rỉ tai nhau nói chuyện, ngủ gật là chuyện thường tình, như một ngày ba bữa cơm, nhưng tôi ao ước các em ngồi ngay ngắn, chăm chú lắng nghe, nghe tôi giảng bài như nghe diễn thuyết của một vị tổng thống nước lớn đến từ phương Tây.

Biết không thể có chuyện ấy, nhưng mỗi lần trước khi đi giảng bài, trong đầu tôi đều ăm ắp những suy nghĩ và ảo hóa như vậy. Biết như vậy là mơ mộng hão huyền, nhưng lần nào cũng thế trước khi giảng bài tôi đều chuẩn bị kĩ lưỡng, chỉnh sửa bài giảng, nghĩ sẵn trong đầu và học thuộc mấy câu trước khi giảng.

Bài giảng lúc hai giờ chiều một ngày đầu tháng sáu, tôi đến lớp học lớn trong khoa trước mười phút như thường ngày. Biết rõ sinh viên đến nghe giảng chỉ lèo tèo vài mống, nhưng tôi cứ coi như các em đến rất đông, đầu lố nhố. Biết rõ giảng bài "Kinh thi giải đọc", trong lớp sẽ vắng tanh vắng ngắt, nhưng tôi cứ tưởng tượng bài "Kinh thi giải đọc" thành một buổi biểu diễn và ca múa xưa nay chưa từng có (cảnh tình này đã thử mấy lần không thành, giống như mùa đông vừa đến lá thu tất phải rụng, nhưng tôi cứ suốt ngày mơ tưởng có một ngày ồn ào nắng ấm trong mùa đông giá lạnh).

Nhưng lần này, tưởng tượng của tôi đã ứng nghiệm, đã thực hiện, như mùa đông vừa đến, vạn vật đã đổi mới, như xuân ấm hoa nở.

Một giờ năm mươi phút, tôi đến hội trường lớn trong khoa, trông thấy trong lớp học chứa được hai trăm người đã ngồi kín chỗ, đông nghìn nghịt, y như thầy giáo lớn từ nước ngoài đến giảng bài, ngay đến ngoài hành lang và cửa ra vào cũng có các em học sinh khoa lí đến đứng nghe. Khi đến cửa lớp học, tôi bỗng ngẩn người, cặp bài giảng kẹp ở nách suýt nữa rơi. Trong giây lát ngẩn người tuột tay, tôi nhìn thấy có nhiều em học sinh, em nào cũng cầm một tờ tài liệu photo đóng dấu của nhà trường trong tay. Từ tay một nữ sinh, tôi mượn xem tờ giấy đó, nhìn thấy đầu đề của tài liệu "Thông báo về việc phải nghiêm khắc tăng cường bài giảng "giải đọc Kinh thi". Nội dung tài liệu nói, "Kinh thi" là một quyển hội tụ thi ca đầu tiên của nước ta, là nơi quy tụ của linh hồn văn hóa người Trung Quốc, là nguồn không cạn của thượng nguồn văn học. Vì vậy, học sinh khoa văn phải coi "giải đọc Kinh thi" là vàng trong vàng, là quan trọng trong quan trọng của văn học cổ điển; phải thực hiện được có bài tất phải giảng, có giảng tất phải nghe, có nghe tất phải học, còn các sinh viên khoa lí phải coi nó thành môn học chọn lọc cần thiết; phải thực hiện có bài tất phải tu, có tu tất phải học, hơn nữa ở cuối tài liệu quy định ba điều về biện pháp thưởng phạt các sinh viên tham gia nghe giảng và không tham gia nghe giảng. Xem tài liệu ấy, tôi có phần cảm động, lại có phần cay đắng, bởi vì ở bên dưới góc phải của tài liệu, trên rìa con dấu đỏ có chữ ký của lãnh đạo kí phát tài liệu là Lý Quảng Trí, tình địch của tôi.

Việc này lại khiến tôi nghĩ đến chuyện của Lý Quảng Trí và Như Bình (tôi muốn quên hẳn chuyện này biết ngần nào!), khiến tôi nghĩ đến cái thứ Lý Quảng Trí đánh mất ở nhà mình (tôi muốn tìm thấy cái thứ ấy biết bao nhiêu!), giống như nghĩ đến một con ruồi và mấy con dòi quên trong dạ dày (nhưng được cái tôi đã đánh bại họ, ông ta chủ động kí phát tài liệu giảng dạy này chính là ông ta chủ động nộp vũ khí đầu hàng tôi!)

Tôi trả lại nữ sinh viên ở cửa lớp học tờ tài liệu trong tay, liếc nhìn nam nữ sinh viên đông như núi, như biển người trong lớp học, thầm nghĩ xét đến cùng Lý Quảng Trí đã nhận thua trước mặt tôi (hình như tôi nên dù ít dù nhiều cảm ơn ông ta và Như Bình có chuyện đó). Tôi nghĩ, một giáo sư kiêu ngạo của trường đại học số một ở kinh thành cuối cùng đã cúi đầu trước mặt tôi (may mà tôi chưa nói với Lý Quảng Trí, tôi không tìm thấy cái thứ ông ta đánh mất ở nhà tôi). Tôi nghĩ, thời cơ không thể để mất, mất rồi không bao giờ có lại, đã có mấy trăm sinh viên sau khi nhận được tờ thông báo, lũ lượt kéo nhau đến nghe tôi giảng bài, tôi phải lập tức quyết đoán, nắm chắc thời cơ, phất ngọn cờ lớn giảng dạy, giống như một người lính phải liều chết cắm ngọn cờ chiến thắng lên đỉnh núi

Giây phút từ trong mùi hỗn tạp ở cửa lớp học, sải bước lên bục giảng, hình như tôi đã tính toán kĩ càng, quyết định sách lược tác chiến chu đáo, hình như phần thắng nắm chắc trong tay, tin chắc tôi sẽ có thể giảng tiết học này rung trời chuyển đất, hấp dẫn tuyệt vời, y như một tướng quân đã nắm chắc toàn bộ sách lược và điều khiển chiến cuộc. Sau khi bước qua ngưỡng cửa lớp học, vẻ mặt nghiêm trang, tôi bình tĩnh, ung dung bước lên bục giảng, lễ phép cúi chào mọi người, tỏ ra tự nhiên, không có gì quan trọng, như các buổi giảng bài trước kia. (Thật ra bài này không ai biết tôi chuẩn bị cẩn thận và kĩ lưỡng, tường tận và cụ thể như thế nào. Tôi đã trích dẫn biên soạn trong bài giảng của mình toàn bộ các câu thơ về tồn tại vật chất và tồn tại tinh thần của "Kinh thi" trong tác phẩm lí luận "Phong nhã chi tụng". Sợ quên câu thơ cần phải thuộc lòng trên bục giảng, tôi còn viết ra lòng bàn tay mình những câu thơ quan trọng nhất, y như học sinh chép trộm bài ra giấy khi kiểm tra sát hạch). Không ai biết, nghiên cứu nguồn gốc của tồn tại tinh thần "Kinh thi", tôi đã học thuộc làu như cháo chảy, còn giảng như thế nào, giảng cái gì, tôi đều chuẩn bị sẵn, cứ như thò tay vào túi là lấy được vật, tiện tay dắt luôn dê. Tôi cầm giáo án, nhưng lại có ý vứt sang một bên, giống như vứt đi một vật thừa. Đứng trước bục giảng, im lặng vài giây, tỏ ra nghiêm túc và trang trọng, sau đó tôi nói to:

– Xin chào các em, hôm nay chúng ta học bài thứ chín "Giải đọc Kinh thi" - miêu tả vật chất và tồn tại tinh thần của "Kinh thị".

Để bài giảng của tôi sâu sắc lại dễ hiểu, theo kinh nghiệm giảng bài của nhiều thầy cô giáo (ví dụ Triệu Như Bình), trước khi giảng kể một mẩu truyện vui (có vẻ tầm thường!). Kể truyện cười xong, tôi nhìn xuống dưới bục giảng, thấy nét mặt ai cũng tươi tắn và nhẹ nhõm. Thì ra sinh viên đứng ở hành lang nghe tôi giảng, lúc ấy cũng bị lôi cuốn bởi truyện vui tôi kể (té ra tầm thường cũng là một thứ văn hóa và sức mạnh). Trong số các em, có người tìm chỗ ngồi xuống, có người kê luôn quyển sách bài giảng và tờ thông báo cầm trong tay ngồi xuống đất, còn có em ngồi xổm trên nền nhà, chống một tay dưới cằm, chăm chú lắng nghe tôi giảng. Nhìn ánh mắt đen láy của các em, tôi biết mình đã có thể bập ngay vào nội dung chính, đã có thể truyền thụ cho các em phần nghiên cứu tinh túy nhất của "Kinh thi". Vậy là tôi thở một hơi sâu, đứng thẳng người, ưỡn ngực, trở nên trang trọng và nghiêm túc, tắt ngay nụ cười tầm thường tùy tiện trên môi. Tôi nói, hôm nay chúng ta sẽ học bài miêu tả nguồn gốc và cơ sở vật chất của tinh thần "Kinh thi". Tôi nói thông qua phân tích nguồn gốc của tinh thần "Kinh thi", tôi hi vọng các em cuối cùng có thể hiểu, "Kinh thi" không chỉ là một quyển hội tụ thi ca, mà còn là "Kinh thánh" của người Trung Quốc viết bằng hình thức thi ca, là một phần và một đoạn trong "Kinh thánh" của người Trung Quốc chúng ta bị mất mát trong quá trình phát triển của loài người. Tôi chia nguồn gốc tinh thần và nguồn gốc vật chất của "Kinh thi" thành ba phần lớn, từ vật chất lớp tận cùng như ruộng đất, hái lượm, cày cấy trồng trọt và kiến trúc, đến ái tình, tính dục và tình yêu trai gái tự nhiên thoải mái về tinh thần, cuối cùng đến tô tem, sùng bái tôn giáo và sự rực rỡ, tinh tế của các nghi thức tôn giáo. Tôi thao thao bất tuyệt, nói say sưa liến thoắng, khi giảng đến chỗ cần lấy thơ làm dẫn chứng, tôi đọc một mạch hàng chuỗi dài những bài thơ về hái lượm, cày cấy, trồng trọt và săn bắt trong "Kinh thi", phân tích niềm vui hái lượm miêu tả trong thi ca, vẻ tự nhiên trong cày cấy trồng trọt và cảnh đẹp trong săn bắt. Cụ thể, khi giảng đến săn bắt, tôi lấy "Tần phong, Tứ thiết" làm ví dụ (Tứ thiết là một bài thơ ca ngợi săn bắt thời nhà Tần). Khi giảng đến làm nhà bằng khung gỗ, tôi lấy "Vệ phong, Khảo bàn" làm ví dụ (Khảo bàn là một bài thơ miêu tả ở ẩn của nước Vệ). Tôi giảng đến điện lớn nhà cao "Tần phong, Quyền dư" (Quyền dư - bài thơ này miêu tả một khu nhà lớn kín cổng cao tường thời nhà Tần) bài thứ một trăm ba mươi trong "Phong". Tôi giảng đến cung thất nhà vua màu sắc rui bay "Hoàng hĩ" (Hoàng hĩ là bài sử thi, kể lại lịch sử khai quốc thời nhà Chu, cũng miêu tả sự huy hoàng của kiến trúc cung đình) bài thứ 7 trong "Đại nhã". Sau đó từ vật chất lên đến tinh thần, giảng đến niềm vui trai gái trong tình yêu, giảng đến trời và người hợp nhất trong tính dục, cuối cùng lại lần lượt kể ra các bài thơ tôn giáo có ý nghĩa "Kinh thánh" trong "Kinh thi". Từ sự kính nể thần bí của dân chúng thời cổ đối với đại tự nhiên, giảng đến quỷ lễ của người xưa đối với các hiện tượng thiên nhiên. Từ sự tôn kính ngưỡng mộ đối với núi lớn, vách đá, giảng đến sự tín ngưỡng đối với động vật, tô tem huyền điểu và thực vật.

Tôi cho rằng bài giảng lí luận tràng giang đại hải của mình có ý nghĩa, lại thú vị, có trí thức có phương pháp, có chiều sâu, hoàn toàn là sữa là canh, là của thơm đồ ngọt của một (phó) giáo sư bú mớm cho các học trò của mình. Nhưng cuối cùng khi tôi giảng được một nửa "Huyền điểu" có ý nghĩa tôn giáo nhất, đã vô tình nghe thấy trong lớp học có tiếng ồn ào nói chuyện, giống như một cơn gió thổi qua mặt hồ phẳng lặng. Phẳng lặng đã vỡ, yên tĩnh không còn, lớp học vốn yên lặng đã bắt đầu nổi sóng tiếng nước ào ào. Tôi đưa mắt nhìn chỗ có tiếng mất trật tự, trông thấy có sinh viên từ phía sau lỉnh ra cửa như kẻ trộm (coi như còn lễ phép, không bỏ đi một cách trắng trợn), tiếng bước chân ngập ngừng, ấp úng, như cục đờm giắt ở cổ họng nhổ không ra. Tôi đang định gọi các em đi ra quay trở lại, thì lỗ tai bỗng đau nhói, lại nghe thấy mấy tiếng ngáy long sòng sọc của ai đó ngủ trong lớp phát ra, bỗng khuấy đục dòng nước trong lớp học, khiến tất cả sinh viên đều ngoái cổ nhìn chỗ có tiếng ngáy, tiếng cười bỗng rộ lên như tiếng sấm nở sâu bọ tháng hai mùa xuân. Sau tiếng cười, tiếng ngáy biến mất, các sinh viên hình như ý thức được sự vĩ đại và nghiêm túc của "Kinh thi" như "Kinh Thánh", đều lại tập trung ánh mắt nhìn vào tôi, tìm chỗ lời nói tôi dừng lại.

Trong giờ phút ấy, tôi bỗng cảm thấy như xấu hổ, hận không thể đi xuống bục tóm em học sinh vừa ngủ tát cho cậu ta hai cái, hận không thể chạy ra ngoài lớp học đá mấy cái vào người cậu sinh viên bỏ đi. Nhưng tôi biết mình không thể làm như thế. Tôi làm như thế thì từ đó trên bảng điều tra tốt xấu khi nghe giáo sư giảng bài của tất cả sinh viên, tên tôi sẽ vĩnh viễn viết ở cột yếu kém nhất. Tôi không thể để mất lòng sinh viên, giống như người bán không thể để mất lòng kẻ mua. Tôi đành phải nụ cười hèn hạ nói, em nào bỏ đi cứ bỏ đi, không phải tất cả sinh viên đều có thể tiếp nhận tri thức cao sâu, không phải tất cả tín đồ đều tin lời nói thật của thượng đế. Nhưng bạn không tiếp nhận, không chứng tỏ tri thức không phải càng cao sâu càng quan trọng, không chứng tỏ người nghe giảm đi, lời nói của thượng đế không còn là lời nói thật.

Nhưng cố gắng thao thao bất tuyệt của tôi, cuối cùng vẫn là rải phẳng cầu đường cho các em rời khỏi lớp học, khiến tôi không thể không trơ mắt nhìn mấy em, mấy chục em ra khỏi lớp. Khi ra khỏi lớp, các em có lễ có tiết, đều cố gắng không phát ra tiếng động, để tránh ảnh hưởng người khác, tránh để tôi cụt hứng, thậm chí có sinh viên, khi đi qua trước mặt tôi còn cúi xuống xin lỗi.

Cứ thế, trong khi tôi giảng, học sinh tiếp tục bỏ đi. Khi tôi giảng được một nửa bài, các em cũng bỏ về một nửa. Khi tôi sắp sửa giảng hết bài, các em cũng ra về gần hết. Trong mấy năm nay tôi luôn luôn gặp cảnh ngộ và những pha như thế. Lớp học đông hay ít người nghe, đối với tôi không còn lạ lẫm, mà điềm nhiên như không. Nhìn lớp học vốn đông nghịt, lúc này trống rỗng, giống như một bãi diễn kịch rời rạc không giữ nổi người xem. Trên bàn học màu vàng mới nguyên, các em vứt lại những mẩu giấy, vỏ kẹo, vỏ hoa quả và vỏ hạt dưa ăn vụng. Khắp nơi chỗ nào cũng ngập ngụa những tờ "Thông báo về việc phải nghiêm khắc tăng cường bài giảng "giải đọc Kinh thi" mà Lý Quảng Trí đích thân kí phát vì tôi, giống như giấy chùi đít vứt bừa bãi quanh nhà xí ngoài trời trên dãy núi Bả Lâu quê tôi.

Cuối cùng, mười mấy sinh viên ngồi hàng ghế đầu còn lại nhìn tôi bằng ánh mắt thương hại. Nét mặt em nào cũng đầy vẻ do dự và không yên khiến tôi cảm động. Tôi hỏi, tại sao các em còn ở lại? Các em trả lời, tối nay nhà trường đột nhiên có buổi chiếu phim Mỹ, chúng em không có tiền đi mua vé xem phim, đành phải ngồi lại đây.

Tôi hỏi, bài thầy giảng kém lắm phải không?

Các em trả lời, thưa giáo sư Dương, thầy nhìn thấy mọi sinh viên đều đã bỏ về, ở đây chỉ còn mười mấy chúng em ở lại giữ thể diện cho thầy, thầy không bỏ tiền mời chúng em xem phim được sao?

Tôi móc túi lấy tiền đưa cho một em trong số đó, bảo em đi mua vé xem phim cho các bạn. Sau đó mười mấy em sinh viên cùng đứng lên cúi chào tôi, vừa nói vừa cười, ùa ra khỏi lớp, để lại một mình tôi trơ trọi trong lớp học vắng vẻ có thể chứa đến hai trăm học sinh, y như vứt một hạt giống trong sa mạc. Trong giây lát, tôi trở thành bộ xương khô thi ca hai ngàn năm trước không ai thèm hỏi han đến.

« Lùi
Tiến »