Sau Cành Violet

Lượt đọc: 1084 | 2 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II
chú bé

Đó là một cái hẻm bình thường như trăm ngàn cái hẻm khác của đô thành Sài gòn. Rời khỏi mặt đường nhựa láng bóng, phút đầu tiên con hẻm đón bạn bằng một cái rãnh tối, lõng bõng nước tranh chỗ với giấy loại, vỏ đồ hộp, thùng sắt tây hỏng và trăm thứ nổi lều bều. Nếu bạn đi xe gắn máy chưa quen lái, quen đường, con hẻm sẽ kỉ niệm bằng một mảng da đầu gối bị trầy, một vết sẹo nhỏ cùi tay, trên mặt… Lui vào trong là những chiếc xe lam đỗ im lìm, lẫn giữa những góc, những chái nhà lụp xụp làm bằng tôn, bằng hòm viện trợ Mỹ. Cả hẻm này không có lấy một ngọn điện. Chỉ khi bạn bước thấp bước cao, thỉnh thoảng lại cúi ôm lấy móng chân bật máu, mới biết mình đang bước trên con đường lát sơ sài bằng đá hộc, đã bị tháo đi nhiều chỗ. Vào giữa căn hẻm, nếu đi ban ngày, bạn sẽ thấy một căn nhà nổi bật hơn cả, tuy bức tường trông ra hẻm làm bằng gỗ thông đã mốc thếch, và cái khung cửa quá thấp đến nỗi khi bước vào, bạn phải coi chừng nếu không cúi lom khom thì nó sẽ chào bạn không lấy gì làm lịch sự… căn nhà nổi bật hơn mọi nhà trong hẻm, chính vì đó là một quán sách, quán Thăng Long với hai câu thơ viết bằng mực Tầu trên giấy hồng điều như đôi câu đối Tết  “Từ thuở mang gươm đi mở nước. Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Tuy chỉ có ba giá sáu tầng, song sách được bầy biện cẩn thận theo trình tự vấn đề: Khoa học tự nhiên xã hội, con người, thanh niên, phụ nữ, đạo đức, tiểu thuyết ái tình, chưởng, trinh thám... có cả.

Chủ quán là một người đàn ông đã ngót nghét năm muơi tuổi, mảnh khảnh, ít nói. Bà con trong hẻm thường gọi ông là ông Hai Bắc kỳ. Mấy cô cậu học trò thường ghé vào mua sách của ông thì gọi ông là bác Hai sách. Không mấy người rõ tên thật của ông, chỉ biết ông di cư vào đây năm năm tư, trước cũng là chủ quán sách ngoài Hà nội. Ông mang theo một đứa con trai, giờ khoảng mười, mười hai tuổi gì đó. Nó không có mẹ. Ông bảo nó thế và nó cũng đi nói lại với bạn bè như vậy. Trong chòm xóm nghèo bên sông Thị Nghè này, ai cũng khen ông lành lành, tốt bụng, tri thức... Riêng việc ông bắt thằng Hải, con ông, đi đánh giầy là không mấy ai hiểu nổi. Anh Tài xích lô bên cạnh nhà nhiều lần sang thưa chuyện với ông Hai Bắc kỳ, xin cho thằng nhỏ đến trường. Nhưng khi nghe ông bảo: “Tôi cũng muốn vậy, ngặt nỗi túng quá anh ạ”, thì anh Tài ngồi thừ người, hết nói. Anh sang vì thấy thằng nhỏ sáng dạ, lanh lẹn, không được học thì tiếc cho nó quá. Nhưng... anh cũng không thể gửi tiền cho nó được. Và lần nào cũng vậy, khi anh Tài ra về, ông Hai lại tiễn sang tận nhà, rồi vỗ vào vai anh cười lớn:

- Thôi, đâu có đó, chú Tài ạ. Không học ở trường thì học ở nhà. Không có tiền thì đi đánh giày kiếm tiền mua tập vở, cây viết.

Ai cũng bảo tiếng cười đó nghe to nhưng trầm, cười vui nhưng chịu không thấu. 

*

Ngày nào cũng vậy, cứ đến lúc ông khệ nệ khiêng chồng cửa gỗ xếp ra ngoài, chuẩn bị đóng quán thì thẳng Hải mới về. Nếu hôm nào có chuyện vui thì nó bô lô ba la từ đầu hẻm, nghe sướng bụng. Có hôm nó về, mặt ỉu xìu như bánh đa nhúng nước, cậy răng chẳng hấm hứ lấy một câu. Cứ thế cho đến lúc chui vào màn, nằm thu lu trong lòng bố nó, nó mới khóc tấm tức kể cho bố nghe chuyện xẩy ra ban ngày. Cái giọng Bắc non nớt thoảng pha chút tiếng trong này cứ nức lên, to hơn tiếng róc rách của con nước Thị Nghè vỗ mãi vào mấy cái cột nhà phía sau, làm mấy lần ông Hai phải xiết chặt đầu nó vào bộ ngực lép kẹp của  mình... Nhưng dù vui hay buồn, ngày nào nó cũng về vào lúc xâm xẩm tối, lúc chị Năm sinh tố loẹt quẹt đẩy chiếc xe chở đầy mía, trái cây ra đầu hẻm.

Không biết có phải đã thành quen vậy không mà chiều nay ông Hai cứ thấp thỏm đợi nó. Lúc lúc ông lại kẹp cây viết chì đánh dấu trang sách dọc dở, bước ra cửa ngóng. Quyển này ông ham đọc đến mức nhiều khi quên cả khách hàng, lúc này ông cũng thấy rời rạc, tẻ nhạt làm sao. Ông bồn chồn, hết ra ngõ trước lại quay sau. Dòng Thị Nghè đen như mực trôi lờ đờ, bốc lên mùi khăn khẳn đến khó chịu. Ông nhớ lại mọi việc xẩy ra hồi sớm, mới hồi sớm chớ có lâu la gì. Vậy mà nhịp điệu cuộc sống của ông, của thằng Hải đảo lộn hẳn. Không biết nó có việc gì không? Thời buổi này “cẩn tắc vô áy náy” nghe con. Cái đồng hồ treo tường cũ mèm của ông nội thằng Hải để lại đang ngân nga tiếng chuông báo bẩy giờ. Tiếng chuông sao mà khó chịu, sao mà day dứt đến thế. Buổi sớm ấy…

*

Buổi sáng. Ông Hai đang ngồi đọc sách. Cái hẻm tăm tối và ẩm ướt chưa một lần được mặt trời ngó ngàng đến. Bóng nắng chạy qua đôi chút buổi trưa không rọi vào trong các gian lều, chỉ đủ làm bốc lên làn hơi nước nặng mùi. Vì thế, ông Hai phải kẹp sát kính vào sống mũi, ngồi thập thò xế cửa cho đủ sáng. Bỗng có mội giọng nói hách dịch, phần nào hơi cố ý:

- Chu cha, tiệm này nhiều sách quá ta. Cái hẻm thối tha này cũng có người đọc sách sao?

Ông Hai ngẩng lên. Đó là giọng của một người lính không quân, dáng người to bè, mặt đen, kiếng mắt gọng đại bự đen xì, ngay cả bộ ria con kiến cũng mầu ấy, trông thật dễ sợ. Người lính dậm dậm đôi ủng da vào bậc cửa bằng hai mảnh gỗ thông ghép, đi thẳng vào trong. Ông Hai đứng dậy đi theo, đôi vai so lại thủ thế. Có trời biết bọn đeo phù hiệu thêu cánh chim và lưỡi kiếm này hoạnh họe những gì. Người lính vẫn chăm chú nhìn giá sách, hỏi trống không:

- Có “Mùa thu lá bay” của Quỳnh Dao không?

- Rất tiếc, thưa ông. Cuốn đó vừa hết.

- Vậy thơ Nguyên Sa?

- Cũng vậy, thưa ông - Ông Hai trả lời, hơi ngờ ngợ. Giọng nói quen quen, mà... mà lại đúng in mật khẩu. Ông đi vòng vào trong quầy, ngắm kĩ. Không, ông không quen người lính dù này. Hay lộ rồi, bọn mật vụ cải trang… Người lính huýt gió vài đoạn trong bài “Tôi đưa em sang sông” rồi hỏi nhỏ:

- Vậy chớ “Cách mạng và đạo đức”, ông cũng không có sao

Vừa nói người lính vừa xoay xoay mặt chiếc đồng hồ Mô-va-đô.

Ông Hai giật thót mình, không dám mừng. Trời, người của cấp trên đây rồi sao? Trông đợi mãi. Nhưng có phải người lính đó đã trông thấy cuốn sách của ông? Ông giả bộ xếp lại mấy gáy sách cho ngay ngắn, liếc nhìn mấy cuốn đang đọc dở. Không phải. Vậy là đúng rồi.

- Thưa ông, sách đó chỉ còn một cuốn. Bản quán không bán, nhưng có biếu.

- Cho coi trang cuối – Người lính nói, mắt nhìn quanh. Mấy cô nữ sinh thấy cảnh quát tháo đã lảng hết. Gian nhà vắng teo.

- Tôi để trong buồng. Mời ông - ông Hai bước tới cửa buồng, khẽ lui ra, nghiêng người:

Người lính bước vào, ông Hai bước theo liền, khép ngay cánh cửa đóng sơ sài bằng gỗ thông. Người lính quay đi bỏ kiếng, tháo bộ ria (thì ra đó là bộ ria giả) rút trong túi ngực một chiếc khăn mùi xoa lau mặt. Anh ta quay lại, cười khe khẽ:

- Bác Hai không nhận ra tôi sao?

- Trời, thằng Tư - Ông Hai lao đến ôm chầm lấy người lính, rồi lui lại một bước nhìn kĩ. Đúng rồi, thằng Tư. Ông xúc động, hỏi dồn dập bằng một giọng run dẩy:  

- Mày còn sống sao? Mày ở đâu về? Sao mày biết tao ở đây?

- Chuyện dài lắm bác ạ. Tôi chỉ được phép ngồi với bác năm phút nữa thôi. - Người lính có tên là Tư nhìn đăm đăm ra sông, nói nhanh - Liên lạc bị bắt. Hòm thư chết có mật vụ theo dõi. Trên yêu cầu bác bằng bất cứ giá nào cũng phải chuyển lệnh này cho người của ta. Và không được phép sơ suất một chút gì làm ảnh hưởng tới nhiệm vụ đó. Bác hiểu rồi chứ?

- Được! Ông Hai đáp gọn lỏn.

- Người đó là một viện trung tá đã sấp xỉ bốn mươi, ngồi trong vũ trường “Đêm mầu hồng” từ bốn giờ đến năm giờ chiều, tay trái cầm bông viôlét. Nhưng tuyệt đối bác không được bước vào cửa. Ngày hẹn là hôm qua, nhưng liên lạc bị bắt... Thế nào người của ta chiều nay cũng đến, nhưng đề phòng bọn an ninh bám đuôi. Chưa biết liên lạc có khai báo gì không?

- Được! Ông Hai gật gù, vẻ sốt ruột.

- Đây là cái cần đưa - Người lính bỏ mũ, cậy phía trong đường viền cong, lấy ra một cuộn giấy viền tròn, to gần bằng ruột chiếc bút bi Bic. Anh trao cho ông Hai, rồi dặn kĩ thêm - Bác phải đợi phía ngoài cho người của ta đi ra, lúc nào thuận tiện nhất thì đưa. Đưa thế nào thì tùy bác. Ám hiệu là...

- Được! Ông Hai chăm chú nghe, rồi cúi xuống moi hộp gỗ đựng đồ lề đánh giầy của thằng Hải mở ra đút viên giấy vào phía trong.

- Chiều mai, bác đến tìm tôi chếch phía trái cửa hiệu P.X. đường Nguyễn Tri Phương, hồi năm giờ. Thế cháu Hải đâu? 

Ông Hai chưa kịp trả lời thì đã nghe một tiếng trẻ con vui vẻ hét lên từ phía trên đầu:

- Cháu đây, chú Tư.

Một chú bé chừng mười hai tuổi nhưng người ốm nhách, nước da xanh mét, đôi mắt lanh lợi lồm cồm bò từ trên xà nhà xuống.

Anh Tư nhìn ông Hai. Ông Hai im lặng, lắc đầu. Cả hai không ngờ câu chuyện đã lọt vào tai một người thứ ba, dù đó là thằng Hải, một cậu bé đánh giầy đã giết được hai tên Mỹ say rượu.

Vốn thông minh, chú bé hiểu ngay vì sao có sự im lặng đột ngột ấy. Chú nói nhỏ, vẻ thanh minh:

- Cháu không cố ý. Cháu đang xem con mèo trắng rình con chuột trên ấy. Hay lắm chứ. Cứ như mấy anh biệt động phục lính Mỹ ấy.

Anh Tư bật cười vì sự so sánh ngây thơ nhưng phần nào đúng đắn ấy. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong anh: tại sao không dùng thằng Hải cho bảo đảm? Đằng nào thì nó cũng nghe rồi. Trong khi đó thằng Hải vẫn hết nhìn chú Tư lại nhìn cái hòm gỗ, gia tài đơn sơ nhưng vô cùng thân thiết của nó. Nó lại hỏi:

- Trời này chú bận bộ đồ đi trận thế kia mà không bức à? Chú giết được mấy thằng Mẽo rồi? Bao giờ cho cháu đi theo chú.

- Hải, sao cứ nói oang oang thế con? – Ông Hai nói nghiêm khắc nhưng vẫn đượm vẻ âu yếm. 

- Hải này – Anh Tư tiếp lời ông Hai – Cháu ra ngoài kia ngó chừng cho chú nghe. Bữa nào rảnh chú cháu mình đi oánh một trận rồi thỏa sức tâm tình.

- Dạ, vâng – Nó đáp, tiếng Bắc bị pha trộn nghe vẫn rõ.

Còn lại hai người, anh Tư ghé sát tai ông Hai thì thầm. Không nghe thấy gì ngoài tiếng chít chít hoảng hốt của con chuột đang vùng vẫy trong móng sắc của con mèo trên xà…

*

Nếu không kể đến những chiếc xe nhà binh Mỹ thỉnh thoảng lại rú máy chạy điên cuồng trên các đường phố chở đầy bọn em-pi, bọn quét chợ thì Sài gòn vẫn náo nhiệt bình thường. Không có vẻ gì là một thành phố đang ở trong tình trạng chiến tranh, mà chỉ mới đây thôi, một khách sạn chứa đầy sĩ quan Mỹ bị nổ tung và hơn chục chiếc máy bay bị đặc công cộng sản phá hủy ngay trong phi trường Tân Sơn Nhất. Các sơ-nách-ba, Lavơlyba, nhà tắm hơi, khách sạn, vũ trường xếch xi, chợ giời… theo bước đội quân viễn chinh mọc lên như nấm. Có đôn (đô-la), đôn đỏ của lính cũng tạm, đôn xanh chánh hiệu càng tốt, miễn vỗ túi cứ đầy căng thì muốn làm gì cũng được. Cả một xã hội náo nhiệt, quay cuồng xung quanh vòng quay và sức hút của đồng tiền ngoại quốc. Trên những con đường rộng bóng loáng nước sau trận mưa chiều rất thường ập đến ở xứ này, những Hon-đa, Su-du-ki, Hác lây, Brigetston… chạy ngoằn ngoèo, chen lấn, chèn ép trước mũi những Ga-đi-ắc, Pơ-giô, Mác-xe-đét, Toyota. Người và xe, xe và người ồn ào chạy đua trong dòng thác sống gấp…

Trong vũ trường “Đêm mầu hồng” lúc chiều tối này, các nữ chiêu đãi viên môi tô đỏ loét, váy ngắn cũn cỡn lượn đi lượn lại. Một viên trung tá ngồi lẫn trong góc phòng mờ mờ ánh đèn, trên mặt bàn đá trước mặt bầy đầy những li cà phê dở dang. Bên cạnh, một chiếc ghế trống không được kéo lấp ló như chờ ai đó. Một cành viôlét nằm kín đáo gần mép bàn, bên cạnh chai uýt-xki chưa mở nút. Khói thuốc lá bay mù mịt. Hình như viên sĩ quan này đang đợi ai. Mặc dù lúc nào khói thuốc cũng phủ mờ trước mặt người ta có thể nhận ngay ra đó là một người cao lớn và khá điển trai. Với chiếc mũ kê-pi đội hơi lệch, hờ hững trên mái tóc uốn sóng to lượn, với bộ quân phục là thẳng li, có thể nói đó là mẫu người điển hình, thời thượng, người hùng trong sự lựa chọn của các cô gái Sài gòn…

Một ả chiêu đãi viên đến bên cạnh, ngồi lên thành ghế của viên sỹ quan. Ả choàng tay qua vai anh ta, vuốt ve mấy bông mai bạc trên ve áo, hỏi giọng nũng nịu:

- Có lẽ ngài buồn?

- Phải!

- Xin ngài trung tá chớ phật ý kẻo em buồn. Hẳn ngài đang đợi…

- Mèo!

- Dạ, có em bên ngài đó.

Trước lời gợi ý quá sỗ sàng của cô ả, viên sĩ quan đành phải cười gượng gạo, rồi dúi vào tay ả một tờ xanh. Ả mừng quýnh, cười tít mắt. Trước khi bỏ đi, ả còn “thanh-kiu” luôn miệng và từ cách đó mấy bàn, ả gửi với sang một cái hôn gió. Việc một nữ chiêu đãi viên vòi tiền khách đàn ông là chuyện thường tình. Nhưng trong cử chỉ kiểu cách, hơi sỗ sàng đến giả tạo của cô ả có điều gì đó không bình thường. Viên sĩ quan từ từ nâng ly cà phê lên miệng, kín đáo quan sát. Mấy cặp thanh niên hip-pi tuổi mới lớn, tóc phủ kín gáy, đang nhún nhầy quay cuồng giữa phòng. Không phải. Một viên tư sản gầy đét như mắm đang huyên thuyên điều gì đó bên cạnh một mụ béo phì, khắp người đầy vàng: hoa tai, dây chuyền, nhẫn, đồng hồ… ba tên sĩ quan dù “anh cả đỏ” ngồi nốc rượu quanh một chiếc bàn gần đó, vẻ phớt đời. Chắc vừa đi đánh trận đâu đó về đây, thành ra những chiếc mũ đỏ không còn vẻ nhâng nháo như mọi ngày. Từ cách tu rượu ừng ực, dáng ngồi cho đến cái nhìn lờ đờ vừa thèm khát, vừa khinh bỉ bọn vũ nữ, và cả ánh mắt ghen tức với hai vợ chồng tư sản giầu sụ (chắc bằng cách áp-phe) ngồi xế đó, tất cả đều toát lên vẻ chán chường, thảm hại. Viên trung tá khẽ nhếch mép, hạ nhẹ chiếc li xuống bàn. Khi rút chiếc khăn mùi xoa thoang thoảng một loại nước hoa ô-đờ-cô-lô-nhơ thấm quanh miệng, chợt viên trung tá khẽ rùng mình, bản năng nghề nghiệp đã thầm mách bảo anh ta rằng: “Nó” kia kìa. Nó là một người đàn ông trung niên, nước da trắng nhợt bệnh hoạn, mái tóc để mai lưỡi rìu rất đúng mốt đang ngồi bên hai chiêu đãi, đùa nghịch (hình như ả chiêu đãi lúc nẫy). Không giảm bớt tốc độ hoạt động của hai bàn tay trắng muốt giẫy nẩy theo điệu nhạc Rốc chát chúa, nó vẫn thỉnh thoảng đánh mắt về phía trung tá. Có vẻ nó rất yên tâm, bởi viên trung tá chưa có biểu hiện gì hay biết về sự có mặt của nó.

Trong vũ trường, tiếng nhạc, điệu nhẩy, ánh đèn nhiều màu vẫn đua nhau gào thét, nhấp nháy. Nhưng ngoài trời, bóng tối đã bắt đầu buông xuống tấm khăn voan tím xẫm muôn thuở. Một màu sương nhẹ, bàng bạc đã dăng đầy đường phố. Viên trung tá xô ghế đứng dậy, nhặt cành viôlét bình dị lên, ngắm nghía rồi lại đặt xuống bàn. Đảo mắt qua người đàn ông kia, viên sĩ quan lại nhếch mép gọi người bồi bàn đi ngang trước mặt:

- Ê, bồi!

- Dạ, thưa ngài – người bồi bàn khúm núm chạy đến, tấm lưng cúi gập xuống rất nhanh nhẹn, thành thạo như thể thói quen ẩn trong máu.

Viên sĩ quan rút tiền vừa định trả puốc-boa (lót tay) kèm tiền năm li cà phê thì nhanh như chớp ả thiên nga lúc này đã nhào đến, gạt người bồi sang một bên:

-Ấy chớ. Ngài cứ để em được hầu hạ ngài.

Ả nghiêng đầu cố làm ra vẻ tình tứ, con ngươi đưa đi đưa lại trong hõm mắt quệt đầy một màu xanh xám xịt. Viên trung tá khẽ nhún vai, dúi nắm tiền vào tay ả đã chìa sẵn. Thuận tay anh vỗ nhẹ mấy cái vào mái tóc ngắn ngủn xù lên của ả, rồi rảo bước ra phía cửa gương đang quay tròn chầm chậm. Nghĩ thế nào, ả thiên nga dúi mạnh nắm tiền cho anh bồi lép vế đang đứng ngẩn người, quay ngoắt lại chạy theo viên trung tá, xô cả vào hai vợ chồng người tư sản. Người chồng gầy đét buột miệng văng tục, nhưng mắt vẫn dán chặt vào tấm lưng trắng hở hang nuột nà, thân hình thon thả của ả.

Đuổi kịp gần cửa, ả thiên nga choàng tay khoác ngang lưng viên sĩ quan đẹp trai, hỏi nhấm nhẳng:

- Ngài cho em được đi hầu hạ ngài.

- Rất hân hạnh. Xin mời – Viên sĩ quan mỉm cười, bước lùi lại một bước, hơi khom lưng chìa tay ra phía trước – Địa chỉ: số nhà...  đường Võ Tánh, Quận Hai.

Không cần phải là thiên nga, mà mọi người dân bình thường đất Sài-gòn này, cả đến bọn nhỏ đánh giầy, bán báo cũng thừa biết rằng đó là đâu. Trung tâm thẩm vấn khét tiếng của cục tình báo quân đội. Giả bộ suy nghĩ đôi chút, rồi ả nhăn nhó, tìm cách tháo lui:

- Ngài cứ giỡn em hoài. Thôi mà, ngài cảm phiền cho em còn mần ăn kiếm chút puốc boa. Đó, đó, người ta kêu em đó.

Ả kiếm cớ chạy tọt vào phía trong quầy. Viên trung tá nhếch mép khinh bỉ. Thứ mày mà cũng định kiếm đôn bằng mũi! Hừ để xem thằng thầy mày là thằng nào? Ra đến cửa, soi qua tấm gương để sửa lại bộ quân phục, viên trung tá kín đáo liếc bóng gã trung niên đáng ngờ nọ. Vừa lúc cặp mắt gã nhấp nhỏm thoáng qua. Viên sĩ quan bước nhanh ra cửa. 

Dưới chân thềm đá ven đường, chiếc xe Jeep đã nổ máy chờ sẵn. Viên thượng sĩ lái xe nhao người sang bên cửa mở cho cấp trên.. Ngần ngừ bên chiếc xe, rồi viên trung tá cúi thấp người, nói nhỏ:

- Anh cho xe đón tôi đầu rạp Mini Rex. Sẵn sàng liên lạc với trung tâm.

- Tuân lệnh, thưa trung tá.

Đợi chiếc xe khuất sau một ngã tư, viên trung tá mới đủng đỉnh bước, hòa vào trong dòng người đã thưa thớt dần. Dẫy đèn cao áp hai bên đường đã bắt sáng, hắt xuống mặt người một thứ ánh sáng xanh nhợt, mờ ảo. Những người đi lại trên đường đều tránh sang một bên nhường lối cho viên sĩ quan. Thời buổi loạn lạc này, tránh xa bọn nhà binh là tiện nhất. Cả những tốp lính tuần tra, quét chợ cũng dạt sang một bên, đừng nghiêm chào viên trung tá đi qua. Một vài cô gái làng chơi thập thò đầu các hẻm định nhào ra mời chào, song nhìn nét mặt tuy bảnh nhưng lạnh như tiền với khẩu oan-te đập nhẹ bên hông của viên sĩ quan, tất cả đều thụt vào, lè lưỡi với nhau.

Viên sĩ quan vẫn lững thững bước đi với cành viôlét trên tay, dường như không chú ý đến cảnh vật xung quanh. Vài đôi trai gái đèo nhau trên hon-đa đi chậm lướt ngang qua, chạy xa rồi mà nghe như tiếng rúc rích cười còn theo làn gió nhẹ từ sông Sài gòn vẳng lại. Hẳn họ đang thầm thương hại gã sĩ quan bảnh trai nhường kia lại phải đơn côi ngóng bồ lúc màn đêm buông dầy đường phố. Chợt người sĩ quan nhận thấy bên kia đường, từ nẫy giờ có một chú bé đánh giầy đang lẽo dẽo đi theo. Đôi chân nhỏ xíu phải gắng lắm mới kịp. Viên sĩ quan đưa cành hoa lên ngang mặt, dấu nụ cười chợt đến. Có một cái gì đấy khiến viên sĩ quan liên tưởng cậu bé với đời sống trưởc đây của mình... Không, không chỉ có vậy. Cậu bé ấy, trong cái nhìn vội vã pha chút hoảng hốt, lo âu đôi lần bắt gặp kia, trong dáng đi nửa như muốn đuổi kịp, nửa như không kia, hình như còn liên quan đến mình trong hiện tại nữa…

Đến một ngã ba, viên sĩ quan rẽ ngang đường. Cách đó một quãng không xa, gã trung niên nẫy giờ vẫn lén lút đi theo, vừa giống một con chó lăn theo mồi lại tương tự một thằng bồi bị hắt hủi, lẽo đẽo van xin chủ tha thứ. Hắn là loài chó săn nòi đây. Cứ nhìn cái dáng lén lút. Chốc chốc ngẩng lên nhìn rồi lại cắm cúi đi theo, vai cổ rụt xuống cho thấp hơn, hai con mắt cứ rườn mãi ra đằng trước như mắt ốc nhồi, viên trung tá thừa hiểu cung cách mần ăn của nó. Với loại này cũng chẳng khó, chỉ cần dấn ba bước là đủ cho nó rớt, tìm ba nó suốt một đêm nhịn đói. Nhưng nó là ai? E hèm, gặp nhau một chút cũng hay đấy chứ?

Vừa thoáng nghĩ như vậy đã thấy cậu bé đánh giầy theo sát đằng sau. Viên trung tá hơi ngoảnh lại, quát to:

- Nhỏ. Giầy!

- Dạ, con đây, thưa ông sĩ quan.

Cậu bé đánh giầy chạy ngay lại như sợ đứa khác giành mất. Cậu cúi gập người, hạ chiếc hòm gỗ đeo lủng lẳng trước ngực xuống đất. Viên sĩ quan đặt chân phải lên hòm, đứng chống nạnh.

- Lẹ lên!

- Dạ, ngài dùng kem Hoa kì hay kem Pháp?

- Pháp.

Viên sĩ quan gắt gỏng, liếc đồng hồ vẻ sốt ruột, rồi lui chân phải xuống đặt mạnh chân trái lên hòm. Sau tiếng “cộp” vang lên.

- Thưa ngài, xong ngay giờ đây ạ.

Cái giọng Bắc non nớt có một vẻ gì đó khiến viên sĩ quan cúi xuống nhìn. Vừa lúc cậu ngẩng lên, nhìn thẳng tới mặt viên sĩ quan rồi nhìn cành viôlét đang khẽ rung rung trên tay. Một nét cười thoảng lướt qua trên làn môi khô của cậu bé hơn mười tuổi ấy. Cậu bé lôi ra gần chục hộp kem các loại, trắng, đen, vàng, đỏ, Mỹ có, Pháp, Anh, Hà Lan, thậm chí kem Chợ Lớn cũng có. Quệt ngang quệt dọc kem lên mũi giầy vốn đã rất bóng của viên sĩ quan, cậu đánh lia lịa. Cả thân hình còm cõi nhao đi nhao lại theo chiếc bàn chải lông. Thoáng thấy gã trung niên thập thò trong bóng tối của một cửa tiệm bên kia đường viên sĩ quan không đợi đánh xong giầy trái đã rút ngay về, đặt chiếc bên phải lên mặt hòm, quát khẽ:

- Lẹ lên!

- Dạ, xong ngay đây, thưa ngài.

Cậu bé lại cặm cụi đánh. Rất nhanh, cậu rút mẩu giấy cuộn tròn gắn trong kẽ bàn chải, dúi sâu vào cạnh giầy viên sĩ quan.

- Rồi, thưa ngài.

Cậu bé nói to với vẻ thỏa mãn. Viên sĩ quan cúi xuống nhìn, bàn chân ngúc ngoắc trong chiếc giày nói khẽ:

- Nó sau lưng. Cẩn thận.

Rồi quát ầm ĩ:

- Quét lem nhem thế này hả, thằng nhỏ?

Viên sĩ quan nhếch mép, bực bội cho rằng đánh như thế không đáng tiền, quay lưng định bước. Cậu bé lao người theo, giật lấy vạt áo kêu lên:

- Ông chưa trả tiền con.

- Trả hả? Còn dám mở miệng đòi tiền cơ à? Này thì trả - Viên sĩ quan hơi nghiêng người, đá mạnh, làm cậu bé ngã chúi. Cậu bé oằn người vừa khóc vừa la to: 

- Tiền của tôi! Trả tiền tôi đây!

- Tiền này! Cầm về mà xài! – Viên trung tá vứt cành hoa về phía cậu bé. Không hiểu vô tình hay hữu ý cành hoa nằm gọn trong hòm gỗ lăn sâu giữa những hộp kem, báo cũ, bàn chải các loại. Cười ngạo nghễ, viên sĩ quan gằn giọng – Hay muốn về trại đi tàu bay với ba, hả thằng con ba trợn kia?

Cậu bé ôm vội chiếc hòm, dông tuốt ra xa, rồi đứng đó vừa khóc vừa chửi. Ba tên em-pi Mỹ đi ngang qua trông thấy cười sằng sặc. Mấy người đi đường mím môi nén giận. Nét mặt họ như muốn nói: “Ở chỗ khác thì chúng tao sẽ bóp chết mày. Đồ chó!”.

Viên trung tá phớt tất cả đủng đỉnh bước đi, huýt gió nhè nhẹ bài “Chiều mưa cao nguyên”.

*

Mọi sự việc diễn ra đều không qua mắt một người thứ ba. Đó là người đàn ông trung niên mặt nhợt , nẫy giờ vẫn lẩn trong bóng tối của một cửa tiệm. Dõi theo hai bóng người đang đi xa dần về hai phía, gã ngần ngừ không biết nên đi theo hướng nào. Một con chó đi săn trong rừng, đến một ngã ba rơi đầy lá khô, ngẩn ngơ trước những vết chân nai nối dài về hai cánh rừng khác nhau như thế nào, thì gã kia cũng ngẩn ngơ y như vậy. Gã thấy câu chuyện xảy ra có gì rất đáng ngờ. Theo thằng nhỏ kia ư? Con mồi thường quá, không bõ. Hay chặn đầu viên trung tá? Con mồi bự đó. Nhưng lỡ trật thì sao? Chẳng có gì bảo đảm cho gã là sẽ không phải nhận vài cái đá còn mạnh hơn cú đá vừa rồi... gã cứ lần chần như vậy cho đến lúc bóng cậu bé đánh giầy đã khuất sau một góc phố, còn viên sĩ quan, tuy đi đủng đỉnh nhưng cũng chỉ còn nhận ra bằng cái mũ kê pi đội hơi lệch và dáng dấp cao hơi trội lên so với những người khác. Gã giật mình, tặc lưỡi nghĩ liều: “Được ăn cả, ngã về không”, cần gì. Gã vẫn tin vào mật báo của ả thiên nga cũng như cảm giác của chính gã, nhưng có sao thì cứ chìa “các” ra là huề. Nghĩ vậy, gã bươn bả đuổi theo viên sĩ quan khả nghi.

Trời đã tối hẳn. Gió từ sông Sài gòn thổi về lồng lộng. Tuy vậy, khi theo kịp viên trung tá thì gã kia đã toát mồ hôi, người nóng ran, thở hổn hển. Đó cũng là lúc viên trung tá đã đến bên chiếc xe Jeep. Lách vội qua mấy người đang túm năm tụm ba truyện trò đợi giờ vào rạp, gã vươn lên trước mặt viên trung tá, tròn mắt nhìn, nói như ra lệnh phào phào trong nhịp thở:

- Xin lỗi trung tá, ngài cho coi giấy!

Viên sĩ quan nhìn từ đầu đến chân gã kia một cách xấc xược, không nói không rằng quay lại từ từ bước lên xe. Nhưng mới chỉ đặt một chân lên bậc sắt, viên sĩ quan đã phải rụt ngay lại. Gã đàn ông đã rút súng, chĩa lăm lăm vào người viên sĩ quan, quát lớn:

- Quay lại! Không tao bắn!

Đợi cho viên sĩ quan quay hẳn lại, gã lại quát:

- Cấm chống cự. Đưa giấy tờ đây!

Không còn cách nào khác, viên sĩ quan hơi nhún vai, im lặng rút tập giấy trong ngực. Vẫn đứng im, viên sĩ quan hơi cong tay đưa giấy tờ ra phía trước mặt gã mặt nhợt. Người lái xe đờ người trước tay lái định lao xe ra cứu cấp trên, nhưng gã kia đã gục gạc mũi súng đe dọa. Mặc dù đưa giấy tờ ra phía trước, viên trung tá vẫn đứng im tại chỗ, nét mặt có vẻ khuất phục, mắt nhìn chằm chằm vào mặt gã kia. Gã bước lên một bước, đưa tay trái ra đón lấy tập giấy. Nhưng tay gã vừa kề, đủ nhận ra đó là một xấp báo cũ đã gập lại, thì nhanh như cắt, viên trung tá ném thẳng tập giấy vào mặt gã, tung chân đá trúng cổ tay mang súng. Thuận đà, viên sĩ quan đó quay người nửa vòng, lấy chân phải làm trụ, tung gót trái thẳng giữa ngực gã kia, quay tiếp nửa vòng nữa, rồi nửa vòng nữa. Ba tiếng “ực, ực, ực” liên tiếp phát ra, gần như đồng thời với tiếng khẩu côn rơi xuống mặt đường, nghe tiếng khô khốc. Gã nọ lảo đảo giật lùi, rồi ngã ngửa ra mặt đường, mắt trợn ngược, bọt máu trào ra từ hai lỗ mũi, từ hai bên mép chảy rỉ rỉ xuống cổ. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng mấy tích tắc, làm viên thượng sĩ lái xe nín thở, rồi lè lưỡi, thở phào.

- Trời, anh hai sử tam phi cước thiệt số dách!

Không để ý đến lời tán tụng đó, viên trung tá lại đứng im, quát khẽ:

- Đứng lên!

Gã đàn ông mặt nhợt nhỏm dậy, rồi lại lảo đảo gục xuống, ôm ngực ho khù khụ, máu mũi máu miệng lại trào ra. Không quay lại viên sĩ quan khoát tay viên thượng sĩ lái xe nhảy ào xuống, chạy lại xốc nách gã trung niên. Cố ngẩng cái đầu giờ đây nặng chình chịch chỉ chực gục xuống gã, mở to đôi mắt lờ đờ, vằn đỏ những tia máu giận dữ bất lực. Viên sĩ quan khẽ nhếch mép, hỏi giọng không thay đổi:

- Tên?

- Thưa ngài...thưa... tôi nhầm.

- Tên?

- Tôi là... gã ngừng một lát như để lấy sức - Tôi là... mà... Ngài không có quyền thẩm vấn tôi.

- Tên? - Viên sĩ quan gằn giọng, cả người hơi trùng xuống, rung nhẹ khẩu oan-te bên hông. Tiếng quát như nhát dao cuối cùng chém xuống một cây  khô sắp đứt. Gã kia quỳ xuống, van xin bằng một giọng Bắc lơ lớ đôi chút tiếng miền trong.

- Lạy ngài… xin ngài tha tội chết. Các của con đây ạ.

Vừa nói, gã vừa run rẩy rút trong túi bên trái ra một tấm giấy bọc plát–tích trong suốt, đưa lên. Viên sĩ quan cầm lấy, liếc qua. Dường như chưa tin, viên sĩ quan lại nhìn kỹ khuôn mặt méo mó nhăn nhúm thấm đầy máu đang sụp dưới đường kia. Không thể nhầm được. Chính hắn đây. Cái thằng bạn năm xưa cùng lớp ở trường Bưởi…

Không nén được thói quen, viên trung tá nhún vai lạnh lùng, nói giọng khinh miệt:

- May mà vào tay tao đấy, con ạ. Thôi – viên trung tá quăng mạnh tấm các do chính tay ngài tổng trưởng chiêu hồi kí vào mặt gã – cút đi nơi khác mà kiếm ăn. Đừng có dàn mặt tao nữa nghe.

- Dạ, đội ơn ngài.

Gã vồ lấy tấm các đầu cúi rạp sát chỗ những giọt máu vừa nhểu xuống, đang thẫm lại dưới ánh đèn, trông không khác bãi nước trầu một bà nào đó đi qua vừa nhổ xuống. Viên trung tá, bước lên xe đóng sập cửa lại..

Gã mặt nhợt cố ngẩng đầu lên nhìn theo. Chiếc xe đã rú ga lao vút đi, khói xăng chưa cháy hết tỏa ra đen kịt. Khi lăn mình vào chiếc cáng cảnh sát vừa mang tới, gã còn kịp tỉnh táo mà cay đắng cho thân phận cáo vuốt râu hùm. Đây là lần đầu tiên gã bị một trận đòn nhừ tử. Mà sao nó “chơi” mình dữ thế. Phải gẫy đến ba cái xương sườn là ít. Trời, ôi đau… cha tổ… gã lịm đi.

*

Thằng Hải chạy ào vào nhà như một cơn gió lốc. Mặt nó tươi roi rói. Ông Hai chỉ vừa kịp đứng dậy thì nó đã đút hộp gỗ đánh giầy vào dưới gầm giường, nhẩy lên ôm chầm lấy cổ bố làm ông Hai loạng choạng lùi lại mấy bước sát tới giá sách. 

- Úy trời, chú ấy đá ngon quá – Thằng Hải nó liến thoắng rồi lùi ra xa bố, bắt chước điệu bộ của viên trung tá. Vừa lúc ông Hai cầm cuốn sách giơ ra thế là nó vung chân đá ngay vào cổ tay ông. Cuốn sách rơi soạt xuống nền nhà. Cái chân thằng Hải nhỏ xíu lại phải dơ cao nên vừa quay lại định đá tiếp bằng gót thì mất đà, ngã úp bụng xuống sàn gỗ. Ông Hai đang ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì cũng bật cười, xoa xoa chỗ cổ tay bị đau:

- Nhóc con cũng đòi đá với đấm.

Thằng Hải đứng bật dậy, nhăn nhó xoa trán, nghĩ bụng trông thế mà đá được cũng khó quá trời. Rồi nó lại cười, kể cho ông Hai nghe chuyện về xô xát xẩy ra vừa rồi. Nó nói luyên thuyên vung chân vung tay diễn tả, cứ huỳnh huỵch không để bố nó chen vào một câu. Nhìn đứa con, ông Hai biết nó đã làm tròn công việc. Ông vui quá. Thế là nó đã lớn, đã khôn, nó đã giúp được người của ta một việc rồi. Tuy ông không giở viên giấy ra xem nội dung, xong hẳn công việc quan trọng lắm. Thế mà nó làm được. Cũng bõ công hơn chục năm trời gà trống nuôi con trong cảnh trên đe dưới búa này.

Ông Hai ra cài lại cửa. Đóng một thanh chốt gỗ ngang, ông lại dướn người cài chốt sắt phía trên. Ông ngắm nghía cái chốt xoa xoa tay vẻ rất yên tâm. Bây giờ, ông mới quay vào giường kéo thằng Hải ngồi gọn trong lòng. Ông vò tóc nó, nắn nắn hai bả vai nó. Lớn rồi đây. Nhỏ nhưng chắc lắm. Ông cúi người xuống sát tai nó, hỏi nhỏ:

- Thế con đưa rồi chứ?

- Dạ, con đưa rồi.

- Có đúng như bố con mình nghĩ không?

- Con đợi lâu quá. Chú ấy không biết con. Nó nói lanh lảnh. Ông Hai vội vàng bịt chặt lấy mồm nó:

- Khẽ chứ, con.

Thằng Hải thì thào kể lại đầu đuôi, chốc chốc cao hứng, nó lại nói tướng lên, làm ông Hai thỉnh thoảng lại phải bịt chặt lấy mồm.

Chợt ông kéo ngửa đầu thằng Hải lên, nhìn thẳng vào mặt nó.

- Con có sợ không?

- Không. Sợ gì hả bố?

- Thế nếu bị bắt thì sao?

- Thì con cắn răng lại. Đau quá thì con chửi.

- Được, biết vậy. Thôi, bây giờ con đi ngủ đi cho bố làm việc. Ông Hai vừa quay ra thì thằng Hải nhổm dậy, nói:

- Tí nữa thì con quên. Bố ơi! Chú ấy đưa cho con cái này.

Thằng Hải lục trong hòm đánh giầy, đưa cho ông Hai cành hoa viôlét. Ông Hai định trách con “Sao con không nói ngay cho bố biết” nhưng sực nhớ lại lời anh Tư “Chiều mai, cửa hiệu PX đường Nguyễn Tri Phương” ông lại thôi. Ông giục con lên giường đi ngủ rồi mang cành hoa viôlét ra phía sau nhà, cất dấu thật kỹ lưỡng. Lúc này ông không biết rằng cành hoa viôlét là ám hiệu báo cho cấp trên biết địch đang triển khai quân sự chuẩn bị một chiến dịch mới. Nhưng niềm vui trong lòng ông bừng lên âm ỉ như những con sóng đêm đang vỗ nhẹ bên bờ sông Thị Nghè. 

« Lùi
Tiến »