Chiếc xe Jeep phóng bạt mạng trên đường. Chưa đến giờ giới nghiêm, nhưng đường phố đã vắng hẳn. Một vài người còn sót lại cứ cúi mặt đi sát vệ đường. Chỉ còn lính Mỹ, những chủ nhân thực sự của dải đất miền nam này, tay đút túi, miệng phì phèo điếu Peo meo hay Xa lem, đi vơ vẩn giải khuây. Thỉnh thoảng, bóng một đội tuần tra, vũ khí Mỹ đầy người, đột ngột ló ra từ một hẻm nào đó, bước lộp cộp trên đường, rồi lại mất hút trong bóng đêm nhầy nhụa nhạc Rốc với những sắc màu lòe loẹt của một thành phố bị chiếm đóng.
Chiếc xe đứng lại trước một ngôi nhà hai tầng. Không đợi còi hiệu, người lính gác đã ra mở cổng. Hai cánh cửa sắt rít lên ken két, rồi mở toang. Tiếng bánh xe nghiến lên lớp sỏi xào xạo trong đêm vắng lặng. Viên trung tá quay sang viên thượng sĩ lái xe, hỏi nhỏ trong tiếng cười:
- Thế nào? Có thăm Thanh Thủy một lát chớ?
- Dạ, thưa trung tá - Viên thượng sĩ ngần ngừ - Nhưng…
- Lại đôn chớ bộ. Đây, cầm lấy. Nhớ nể mặt bọn Mẽo một chút nghe. Sáng mai đợi tôi chỗ cũ.
- Cám ơn ngài - Viên thượng sĩ mắt sáng lên khi nhìn thấy mấy tờ đô la đỏ, dấu hiệu của quân đội chiếm đóng Mỹ. Đợi cho cấp trên đi khuất trong vùng tối của ngôi nhà, anh ta mới dấn nhẹ ga, từ từ lái đi.
Vừa cởi áo đưa cho tên lính hầu, viên trung tá vừa hỏi:
- Từ tối tới giờ có ai hỏi tôi không?
- Dạ, chỉ có ngài Uyliam nào đó, hình như là chủ công ty thép Hoa-kỳ vừa gọi điện đến hỏi ngài đi đâu và gửi lời chào ngài.
- A, ngài Uyliam đã về rồi sao? - Viên trung tá reo lên vẻ mừng rỡ - Mai tôi phải tới thăm ông ta mới được. Rồi còn tình hình an ninh?
- Thưa trung tá, mọi việc đều ổn cả. Tôi đã lịnh cho tụi nó canh phòng cẩn mật.
Như để chứng thực cho lời nói của tên lính hầu, khi ánh đèn phòng khách vừa bật sáng, viên trung tá đã thấy một tên lính cầm ngang khẩu AR. 15 đứng như tượng gỗ cạnh cửa thông ra cầu thang lên gác.
- Tốt!
Viên trung tá nói một câu gỏn lọn, rồi đi thẳng lên cầu thang. Đến chỗ ngoặt, anh ta còn ngoái đầu dặn với xuống tên lính hầu:
- Mang lên phòng cho tôi một phin đậm nghe.
- Rõ, thưa ngài! - Tên lính hầu đứng nghiêm rập gót giầy, hô to. Con mèo tam thể đang lim dim ngủ trên nắp chiếc radio - quay đĩa, giật mình lao vội qua trước mặt tên lính bảo vệ, biến vào gầm cầu thang. Tên lính bảo vệ hoảng hốt nghiêng người lấy tay trái che mặt, lầu bầu:
- Đ. mẹ, làm ông buốt cả tim. Đồ mèo cộng sản.
*
Viên trung tá để nguyên cả giầy thay bộ quân phục bằng bộ quần áo ngủ màu xanh lơ, rút khẩu oan-te trong bao ra đút xuống dưới gối. Tên lính hầu khẽ đẩy cánh cửa khép hờ bước vào, im lặng đặt phin cà phê đang nhỏ những giọt đầu tiên lên bàn, rồi đi ra, khép chặt cửa lại. Từ bên ngoài, gã hỏi vọng vào:- Thưa trung tá, đêm nay ngài có tiếp ai không ạ?
- Không. Trừ lệnh triệu tập!
- Rõ, thưa trung tá. Chúc ngài ngủ ngon.
Tiếng chân bước xa dần. Viên trung tá liếc nhìn đồng hồ, rồi ra cài chốt cửa nối liền với sợi dây báo động đặc biệt. Anh ta lại đi bên cửa sổ, cúi nhìn ra bên ngoài. Đêm Sài gòn vùng quận một này mới yên ắng làm sao. Tiếng con dế mèn góc vườn vẳng đến cứ to dần, to dần. Có lẽ phải đổ đến sáu chai nước nó mới chịu chui lên mặt đất. Cái đầu nó phải lên nước bóng loáng như gỗ mun. Đôi cánh và bộ giò của nó thì phải biết. Bất giác viên trung tá mỉm cười, tựa đầu vào khung cửa sổ. Những bóng lá đung đưa trong vườn như gợi nhớ những bàn chân đất chạy nhẩy trên những con đường của Thủ đô Hà Nội cổ kính. Và hương dạ lan ngan ngát dăng đầy không gian như biến đổi trở thành mùi thơm nồng thắm của hoa sữa bay lừng đường phố những ngày Hà Nội lập đông. Ôi! Hà Nội thân thương của ta! Biết bao giờ ta được trở lại hôn trên những viên gạch cổ kính của Người.
Chợt viên trung tá lắc đầu như để xua đuổi những ký ức xa xưa. Anh đóng chặt cửa sổ, kéo rèm che thật cẩn thận.
Sau khi ngồi xuống giường, viên trung tá vươn tay về phía trong gối, lấy ra lọ nước hoa, xức một ít lên mặt tấm ga trải giường. Xong đâu đó, anh rút một vật cồm cộm trong giầy từ hồi tối chập choạng đến giờ ra. Đó là một tờ giấy mỏng và dài (loại giấy Thụy Điển đây) được cuộn chặt. Đặt lên đùi vuốt cho thẳng, anh dốc ngược lọ nước hoa lên mặt tờ giấy, thấm đều. Rồi soi lên ánh đèn, chờ đợi. Vài ba phút sau, mẩu giấy hiện lên dòng chữ bé xíu: “Món hàng con vừa cất rất hên. Ông sui gia mừng lắm, nói con cất tiếp món hàng ổng ưa. Con Hàn bị bệnh nặng. Con phải uống thuốc lỡ mắc dịch. Má 6.21 quận 5.”
Ra vậy. Hai lần ta đi đón không gặp là như thế đó. Còn bây giờ… Căng đấy. Rồng lửa đã vậy, viôlét sẽ tính sao? Mà nghe như động rồi. Có kẻ phản bội chăng? Kẻ nào?... Vừa suy nghĩ mông lung, viên trung tá vừa châm lửa đốt tờ giấy. Ngắm những dòng chữ thân thương, sợi dây duy nhất nối với trung ương đang đen dần thành than kia, anh muốn vồ lấy, cố giữ lấy một mẩu. Chỉ một mẩu thôi… ngọn lửa lụi dần, rồi tắt ngẩm. Mẩu giấy đang chuyển dần từ màu đen của than sang màu trắng của tro, lả tả rơi xuống đáy gạt tán thuốc lá…
Viên trung tá ngả người trên chiếc đệm lò so rồi với tay tắt đèn. Căn phòng vụt tối om. Tên lính gác bên ngoài tưởng viên trung tá đã ngủ say sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt nhọc. Nhưng không, nếu tên lính gác có phép lạ nhìn qua được cửa dày khép kín, hẳn sẽ thấy trong căn phóng tối chốc chốc lại lóe lên ánh lửa hồng của điếu thuốc lá đang cháy.
Viên trung tá vẫn đang trằn trọc, không hiểu vì sao anh cứ nghĩ mãi về hình ảnh chú bé đánh giầy vừa gặp lúc tối. Chú bé thật gầy yếu, xanh xao. Không hiểu lúc anh buộc phải co chân đá vào thân hình ốm o của chú, có làm chú đau đớn lắm không? Liệu chú có oán trách anh không? Ôi! chú bé đánh giày của thành phố Sài Gòn đang bị chiếm đóng. Thật đáng yêu thương trân trọng chú biết bao. Giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù chú đã đem đến cho anh bản chỉ thị của cấp trên. Bản chỉ thị ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho anh soi sáng bước đường hoạt động của anh trong những ngày tới. Viên trung tá chợt mỉm cười trong bóng tối. Phải, hình ảnh chú bé đánh giầy đâu có xa lạ gì với anh. Đó chính là hình ảnh của anh trong những ngày xa xưa, những năm bốn mùa ở thủ đô Hà Nội.
*
Khi theo bọn trẻ cầu bơ cầu bất làm đủ các cái gọi là nghề ở Hà Nội, chú bé ấy lên tám tuổi. Cả tuổi thơ của mình, chú chỉ còn nhớ mẹ chú rất nghèo, chuyên quét chợ cầu Đông kiếm miếng ăn nuôi chú. Chú không có bố. Lên bốn, bị bọn bạn bè lau nhau gọi là thằng con hoang, chú ức lắm, về hỏi mẹ:- Bố đâu hở mẹ?
- …
- Bố đâu hở mẹ? - Chú lắc lấy lắc để cánh tay gầy guộc của mẹ, lúc ấy không hiểu vì sao mẹ đã gục mặt xuống ổ rơm, khóc nức nở.
- Bố đâu hở mẹ? - Chú hỏi riết, thầm nghĩ sao mẹ chú hay khóc thế, chả nhẽ lớn như vậy cũng bị người ta trêu trọc hay sao? Chú cũng bị trêu trọc, có khi còn bị đánh nữa, nhưng chú không bao giờ khóc.
Mãi sau mẹ ôm chú vào lòng, xoa mớ tóc rễ tre cứng quèo vì suốt ngày bêu ngoài nắng, nói với giọng của người bị ngạt mũi:
- Bố con đi làm tận Hà nội cơ. Xa lắm.
- Thế sao bố không về với con?
- Bố làm nhiều việc lắm, không về được. Bao giờ con lớn, mẹ con mình đi Hà nội thăm bố.
Chú lập tức tin ngay và cảm thấy yên lòng. Mẹ nói bao giờ cũng đúng. Thế là mình cũng có bố. Bố lại ở tận Hà Nội cơ, chứ không thèm ở quê như bố chúng nó. Nghe mấy bác đi buôn chuyến nói Hà Nội đẹp lắm, có rất nhiều nhà to, to bằng mấy cái đình đầu làng mới khiếp chứ. Lại có rất nhiều ô tô nữa. Mình mà ra Hà Nội thì tha hồ xem ô tô. Chẳng như ông tài xế cho quan huyện, mỗi lần về làng lại cầm cành gai tre đuổi bọn trẻ, không cho sờ vào ô-tô một tí.
Chú không biết rằng thực sự chú không có bố. Mẹ chú bị gia đình bán cho nhà quan huyện lấy tiền nộp thuế, phải vào làm con ở từ năm mười một mười hai tuổi. Lớn lên, mẹ chú bị con trai quan huyện lừa, có mang rồi sinh ra chú. Vì thế bị đuổi khỏi nhà quan, phải đi làm nghề quét chợ. Còn con trai quan huyện, sau đi làm ở tận Hải phòng… Chú không hề biết điều đó, và dù có nói điều đó ra chăng nữa, chú cũng không tin. Mẹ chú đã nói là đúng. Chú có bố. Bố chú đi làm tận Hà Nội cơ mà. Nếu như lâu lắm rồi bố chú không về thăm chú thì chỉ vì bố bận làm nhiều việc lắm. Thế thôi. Và thế là những lần ra cổng chợ chơi với bọn trẻ để đợi mẹ, chú gân cổ cãi bằng được với mấy đứa bạn đa nghi. Có khi còn nắm chặt bàn tay bé xíu để “bảo vệ” người bố chưa bao giờ biết mặt đang làm tận Hà Nội.
Ít lâu sau, bỗng chú nghĩ rằng tại sao phải đợi bao giờ mình lớn mới được đi Hà nội tìm bố. Mẹ chán thật, mình đã lớn từng này rồi cơ mà. Mình đã biết trông nhà (thực ra là một cái lều dựng sát vào bụi tre, cửa làm bằng cái nong thủng). Mình lại biết thổi ngô, luộc khoai, lại biết cả đi bẻ gai tre, nhặt lá bánh về đun nữa chứ. Mình lớn rồi. Thôi, mẹ không đi tìm bố, thì mình sẽ đi. Mình sẽ bảo với bố: “Con là thằng Rớt của bố đây. Con đợi mãi mà không thấy bố về, con ra tìm bố đây. Nhưng bố đừng mách mẹ nhé. Mẹ lại khóc đấy.” Bố sẽ công kênh mình lên tận cổ, cho mình đi xem ô-tô. Rồi mình sẽ đưa bố về thăm mẹ, chắc mẹ mừng lắm.
Đến phiên chợ rằm tháng Giêng năm ấy, chú không đánh đáo với bạn bè ở cổng chợ nữa. Đang tha thẩn ngoài đường cái quan, chú gặp một bà to béo, có dễ bằng ông Phật ngồi nghễu nghện trong đình. Cái bụng bà ấy to đến gớm. Chắc nếu không có dải lụa xanh buộc bên ngoài áo thật chặt thế kia thì nó phải nứt ra như quả dưa bở tháng tám mất. Nhưng không sao, bà ấy tốt bụng lắm. Nhổ đánh toẹt một bãi nước trầu đỏ lòm như máu xuống đường, bà ta đon đả hỏi chuyện chú… Chú rất thích. Từ trước đến nay đã có ai chịu nghe chuyện bố đi Hà Nội với vẻ thông cảm như bà ấy đâu. Vì vậy, chỉ cần vài câu đùa giỡn, chú và bà ta đã đã ngồi trên chiếc xe tay kéo về Hà Nội. Trong suốt chặng đường đi, chú chỉ nghĩ đến lời hứa của bà ta, nghĩ đến Hà Nội, đến bố. Không một lần chú ngoảnh lại đằng sau, nơi phiên chợ đã tan và mẹ chú đang gào khóc như điên dại, hai tay ôm chặt bộ ngực lép kẹp, chạy khắp làng nức nở gọi chú…
Nhưng làm sao có thể tìm cho chú một người bố, một khi thực tình chú chưa bao giờ có bố? Sau khi cất thật sâu nắm tiền còn mới vào giữa mớ tiền bẩn thỉu, nhớp nháp mồ hôi trong cái túi lụa xanh quấn quanh bụng, người đàn bà to béo kia đi mất để mặc chú bơ vơ trong sân một ngôi nhà tường hoa mái ngói…
Trong đêm đầu tiên xa nhà, rúc sâu cái đầu vào bụng con chó cái già đã rụng gần hết lông, chú mới lờ mờ hiểu thế nào là mẹ mìn. Cái tiếng đáng sợ mà các bà già đi chợ thường dọa bọn nhóc tinh nghịch khi bước qua cổng vào chợ, chú mường tượng giống ông Ác đứng ở tường đình. Thế ra, người Ác lại hay ra vẻ tốt bụng…
Sau nửa năm trời làm thằng nhỏ gánh nước, quét nhà, dọn cứt cho đứa con trai ông chủ trạc tuổi chú, chú bé Rớt ấy trốn đi, nhập bọn với đám trẻ vô thừa nhận lang bạt các ngõ chợ. Ban ngày đi đánh giày, bán báo, bán kem… Ban đêm, sau khi nộp cho cậu chủ số tiền thu được trong ngày, chú lại cùng mấy đứa bạn đi mò các đống rác, rồi ôm nhau ngủ dưới gầm cầu Lơ bơ-lăng[2]. Cho đến một hôm, có một ông chủ (đối với chú bấy giờ, ai đi giầy giôn, mặc đồ Tây, đội mũ phớt đều là ông chủ), sau nhiều lần dõi theo, đã đón chú về nhà. Chú đồng ý theo về hầu hạ vì cuộc sống lang thang đã dạy khôn cho chú, ở đâu mà chẳng được. Miễn có cái đút bụng và có chỗ đặt lưng, dẫu ổ chó cũng còn ấm hơn bãi rác gầm cầu.
Nhưng lạ thay, ông bà chủ không bắt chú làm gì cả, lại còn may quần áo đẹp, cắt đi mái tóc đã xù ra như ổ quạ trên chạc cây gạo chân đê của chú. Chú bé Rớt lờ mờ hiểu rằng ông bà chủ đây (chú vẫn chưa quen gọi là ba mẹ và xưng con) không có con, buồn quá nên đón chú về nuôi…
Năm sau, chú được đi học…
Rồi Việt Minh về,... chú không hiểu tại sao ba mẹ chú đóng chặt cánh cổng, bất hợp tác với những người rất tốt ấy. Không những thế, ba mẹ chú còn cấm chú không được đi hội họp, cắm trại với bạn bè cùng lớp…
Rồi quân Pháp quay trở lại. Ba chú là người đầu tiên ra làm việc cho bọn mũi lõ. Tại sao một người tốt như ba lại thế? Trong tâm chí ngây thơ của chú bé Rớt năm xưa, cậu học sinh trường Bưởi với cái tên gọi Hồng Giang ngày nay cứ day dứt mãi một câu hỏi đó. Cậu tìm câu trả lời trong các buổi thảo luận giữa những người bạn cũng giầu nhiệt huyết như mình.
Người bố nuôi của Hồng Giang lặng người khi được ông thanh tra giáo dục báo cho biết cậu con trai đang đi lại với những kẻ đáng ngờ. Đứa con mà ông yêu quí hơn con đẻ kia đã đến tuổi trưởng thành. Ông bắt đầu để ý những việc làm của Hồng Giang. Một lần ông bắt gặp quả tang Hồng Giang đang cất giấu truyền đơn trong tủ quần áo. Ít ngày sau, ông đã nói chuyện với Hồng Giang thật nghiêm chỉnh, như trao đổi với một người lớn tuổi… Một năm sau, với lời giới thiệu của Đức Giám mục Đờ Pu - lê, Hồng Giang được gửi đi Pháp học. Người bố nuôi hiểu rằng ông đã chắp cánh cho Hồng Giang để anh bay cao, bay xa hơn nữa trong bầu trời cách mạng cháy bỏng. Có lòng căm thù giặc sâu sắc, có nhiệt tình cách mạng cháy bỏng đó là những yêu cầu đầu tiên đối với những người làm công tác tình báo... Anh đã thề sẽ chiến đấu cho dân tộc, cho đất nước, cho hết cảnh người no say phè phỡn trong khi hàng vạn trẻ em đói rét mồ côi, sống lang thang khắp đầu đường xó chợ. Và bây giờ, cậu bé Rớt của Hà Nội ngày ấy là trung tá Hồng Giang, trợ lý đặc biệt của thiếu tướng Sơn Hồng, cục trưởng tác chiến quân lực Việt Nam cộng hòa.
Hai mươi năm sau, Hồng Giang vừa buồn rầu vừa thấy tự hào khi nghĩ đến người bố nuôi, người thầy cách mạng đầu tiên của mình. Anh càng hiểu ông cụ hơn khi chính bản thân khoác bộ quân phục Sài Gòn. Bây giờ ông ở đâu? Cái tên cũ được dát vàng đã vĩnh viễn nằm trên tấm mộ chi bằng đá trắng trong nghĩa trang, dưới cây thánh giá tự tay Cha Đờ Pu-lê cắm lên. Hồng Giang chỉ lờ mờ đoán rằng ông đang làm một nhiệm vụ gì đó với một cái tên khác…
Các sĩ quan trong cục, ai cũng biết Hồng Giang là một gã hãnh tiến, lạnh lùng và kín đáo. Mọi người đồn nhau gã sĩ quan này biết bẩy thứ tiếng, đã từng yết kiến Đức giáo hoàng La mã, từng được Đờ-Gôn bắt tay tại phòng lớn trường võ bị Xanh-Xia, từng được chính tướng Oét-mô-len, tham mưu trưởng liên quân vỗ vai. Hơn nữa, mọi người còn thầm thì với nhau rằng gã là một sĩ quan “xịa” chính cống, học trò rất cưng của ngài A.Đalét, từng được làm trợ lý cố vấn cho tiểu ban Đông Nam Á của cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Nào là các giáo sư kinh tế - chính trị Hoa Kỳ mỗi lần sang đây thường tìm đến nhà gã trung tá đàm luận thâu đêm suốt sáng, ý hợp tâm đầu lắm.
Còn các sĩ quan phu nhân, các bà, các cô, những mệnh phụ của các vị tai to mặt lớn bên Bộ ngoại giao thì thường xì xào về viên sĩ quan đẹp trai cho đến nay vẫn chưa có ai nâng khăn sửa túi. Bà này nói con gà trống đuôi dài đó hình như đã “đặt cọc” tại nhà ông vua dây kẽm gai. Bà kia cãi lại rằng con hổ hiền lành này còn đang kén. Người nói hay, kẻ nói dở, nhưng dù ở đâu, hễ thấy viên trung tá đi qua là lập tức các bà im bặt, cúi mặt xuống vân vê tà áo, ra chiều thẹn thùng lắm. Nhưng ánh mắt của các bà còn sắc hơn dao cạo râu, khiến nhiều khi viên sĩ quan đã đi cách một quãng xa còn thấy nóng bừng trên mặt. Ấy là các bà còn rất lịch sự, nghĩa là mới chỉ liếc cúi mặt. Nếu các bà mà lại thân tình hơn một chút nữa thì hơi men bao lấy viên trung tá còn nóng hơn cả rượu uýt-xki chính gốc. Mà làm sao lại không nhìn một khi anh chàng bảnh đến thế: vóc người cân đối, cao dong dỏng, ngực nở cộm sau tà áo lúc nào cũng là thẳng nếp và nếu đã tiếp các bà thì lịch sự còn hơn người Mỹ.
Hồng Giang không nói một lời nào khi nghe những tiếng đồn hay, dở về anh. Viên trung tá chỉ hơi mỉm cười, nhún vai và nói lảng sang chuyện khác…
*
Thiếp đi được một lát, Hồng Giang tỉnh dậy lúc trời còn tối. Đêm Sài Gòn dạo này còn hơi lành lạnh. Từ cửa sổ làn gió nhẹ đẫm sương lách qua tấm màn gió, mang vào căn phòng mùi hương ẩm ướt của dạ lan. Nghe vẳng đâu đó đôi ba tiếng giầy đinh, tiếng còi. Một con tàu kéo còi phía cảng, nghe trầm đục, nằng nặng. Nhưng bền bỉ hơn tất cả vẫn là tiếng con dế kêu cuối vườn…Hồng Giang ra khỏi giường, lấy hai quả tạ tay cuối chân giường, vung mạnh. Xương sống theo chiều vặn người kêu răng rắc. Một lát sau, Hồng Giang không bật đèn, lặng lẽ rút khăn mặt đi vào phòng tắm. Tắm buổi sáng đã thành thói quen của cậu học trò trường Bưởi ngày xưa (nước Hồ Tây buổi sáng là sạch nhất - cậu vẫn thường khẳng định với bạn bè như thế ). Vừa nằm bồng bềnh trong bể nước đá hoa xây sát tường, Hồng Giang vừa nhẩm tính kế hoạch trong ngày. “Rồng lửa” - Món hàng vừa cất đã đạt yêu cầu của cấp trên. Còn món hàng mới, Viôlét, như một lần tướng Hâygơ đã nói lỡ ra, sẽ ra sao đây? Hiện giờ nó nằm trong trong két sắt nào? Đã giao cho các tướng lĩnh người Việt chưa? Hai lần làm sát nhau, chắc chắn sẽ rất phức tạp. Hồng Giang không còn lạ gì tính Hâygơ, một người đa nghi và sắt đá không kém gì “ông già tủ lạnh” Bân-cơ. Còn Hoàng Lan, “Con Hàn” làm sao bị bắt? Chắc là có kẻ phản bội…
Nghĩ lan man, Hồng Giang lại nhớ đến chú bé đánh giầy, và gã chiêu hồi tối qua. Vĩnh Nam - tên gã chiêu hồi - có liên quan gì đến việc Hoàng Lan bị bắt không? Có liên quan gì đến chị Sáu không? Còn chú bé kia?
Một hồi chuông gắt gỏng vang lên ngoài cửa. Quấn cả tấm khăn tắm rộng vào người, nước chảy ướt lướt thướt. Hồng Giang ra mở cửa. Tên lính hầu chắc là đã đứng chờ từ lâu khi thấy trong phòng vẫn tối vội vàng nói:
- Thưa trung tá, cục mời trung tá đến ngay. Trực tiếp ngài thiếu tướng cầm tê lê phôn.
- Sao không bảo ngay. Chuẩn bị xe. Năm phút nữa tôi đi.
Tên lính hầu vừa quay đi, lập tức quay lại như sực nhớ:
- Thưa, đêm qua ngài Hâygơ có điện tìm trung tá. Theo lệnh trung tá, tôi không gọi. Ngài Hâygơ có nhắn hỏi thăm sức khỏe và công việc của trung tá.
Tên lính hầu quay ra. Hồng Giang nhanh nhẹn vào buồng thay quần áo. Bắt đầu rồi đây. Một đêm ba điện gọi, trong đó hai của CIA, nhưng muốn ra sao thì ra, phải lấy được Viôlét.
Nên bắt đầu từ đâu đây?
Chú thích:
[2]Rue Le blance: phố Gầm Cầu
[3]Sông Ranh: một con sông của Đức. Nước Mỹ hai trăm năm trở về trước là đích của những cuộc di cư lớn từ châu Âu, châu Phi...
[4]Chợ Quán, Chợ Rẫy: Hai bệnh viện ở Sài gòn.