TÔI ĐẾN BẾN XE SỚM CÒN DƯ KHỐI THỜI GIAN. Tôi lên kế hoạch sử dụng thời gian để làm điều tôi và Bernie đã thỏa thuận, ngó nghiêng xung quanh để tìm một phụ nữ ngồi gần cửa khởi hành mà tôi có thể lên xe buýt cùng. Nhưng, khi tôi tới nơi, có vài lý do khiến chuyện đó không dễ dàng cho lắm. Có cả đống phụ nữ xung quanh, với đủ hình dáng, màu da và kích cỡ; rất nhiều người trong số họ nhìn khá thân thiện, nhưng thay vì chọn lấy một người, tôi lại tìm một chỗ trống trên băng ghế dài và ngồi xuống. Tôi ngồi đó phải tới gần bốn mươi lăm phút với chiếc vali kẹp ở giữa hai đầu gối, chờ đợi. Tôi không biết giải thích về chuyện đó ra sao nữa - giống như cảm giác có người phù hợp sẽ tới và tìm kiếm tôi thay vì ngược lại là tôi sẽ tìm họ.
Khoảng bốn mươi phút trước khi xe buýt chuẩn bị lăn bánh, một người phụ nữ choàng chiếc áo mưa dài màu xanh lá tiến đến và ngồi xuống cạnh tôi. Cô có một túi xách tay nhỏ phủ lưới ở trên. Bên trong có năm chú mèo con, mỗi con một màu lông và một kiểu họa tiết khác nhau. Chúng đang kêu lên ngao ngao inh tai, do đó người phụ nữ đang tặc tặc lưỡi và thì thầm bảo chúng trật tự.
“Chúng nó đang sợ đấy mà, mấy nhóc con tội nghiệp. Lần đầu tiên chúng rời xa mẹ chúng,” cô bảo tôi.
Người phụ nữ ấy tên là Alice Wilinsky, và cô đang trên đường về đoàn tụ với gia đình lớn của mình ở Salt Lake City. Cô mang theo lũ mèo con để tặng chúng cho vài người họ hàng, vì cô đã có tới ba con mèo, trong đó có con mèo mẹ tên là Bebe. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện về mèo và tôi kể cho cô nghe về Cookie Dough và Clara Barton; và trước khi tôi kịp để ý thì người ta thông báo về chuyến xe buýt của chúng tôi và cả hai cùng lên xe. Thật là dễ dàng.
Trong một tiếng đồng hồ đầu tiên trên xe buýt, Alice vẫn tiếp tục chuyện trò huyên thuyên không dứt trong khi tôi dán mắt vào chiếc hộp mà Bernie trao cho. Tôi muốn biết trong đó có gì. Nhưng tôi không muốn mở nó ra trước mặt Alice, e rằng biết đâu trong đó có thứ khiến tôi phải lúng túng. Cuối cùng khi có nhu cầu đi vệ sinh, cô đi ra phía sau xe buýt để vào toilet. Tôi vội vã tháo sợi chỉ buộc và mở hộp ra.
Bên trong hộp là một chiếc áo len dài tay màu đỏ. Chiếc áo mà tôi phát hiện ra nó bị nhét vào góc trong cùng của nhà kho. Bernie đã giặt giũ, chỉnh trang và cẩn thận vá những lỗ thủng do nhậy cắn bằng chỉ đỏ cùng màu. Tôi không biết bác đã làm công việc này; hẳn là bác đã vá áo trong phòng riêng vào ban đêm sau khi tôi say giấc. Tôi tròng chiếc áo len qua đầu và xắn ống tay áo lên. Chiếc áo quá rộng so với tôi, nhưng tôi không để tâm đến chuyện đó. Nó thật tuyệt vời. Mềm mại, ấm áp, và nức mùi thơm kỳ diệu của gia đình.
Gia đình. Tôi không dám để mình nghĩ về điều đó. Tôi sợ rằng nếu làm thế, cảm giác trống rỗng nằm nơi dạ dày lúc trước sẽ lan sang những phần khác trong cơ thể và khiến tôi lộn lạo. Để dứt tâm trí ra khỏi mọi chuyện, tôi lôi ra cuốn sổ tay và bắt đầu làm một danh sách mới.
Những thứ trước đây mình chưa từng nhìn thấy: những con bò, ghế ngồi có chỗ gác chân, xác động vật bị cán chết
1. xác hươu
2. xác gấu trúc Mỹ
3. xác chồn hôi
4. bộ lông bí ẩn
Alice từ phòng vệ sinh quay trở lại, và lần này có vẻ như cô không muốn trò chuyện. Thay vào đó, cô dựng chỗ để chân lên và ngả ghế ra phía sau hết cỡ để có thể chợp mắt. Tôi không thấy mệt, vì thế tôi ngồi làm cho danh sách của mình dài hơn chút nữa. Tôi bổ sung thêm ba điều nữa:
Những nhà giam, người thay lốp xe bị xẹp, những người vẫy xe xin quá giang
Lũ mèo con đang ngủ trong chiếc túi đặt sâu phía dưới ghế của Alice, nhưng một lát sau, có một con tỉnh giấc và bắt đầu kêu. Tôi cúi xuống và luồn mình giữa hàng ghế, liếc nhìn cái mặt nhỏ xíu xiu của nó qua tấm lưới.
“Đừng lo nha,” tôi thì thào. “Chúng ta sẽ tới nơi sớm thôi mà.”
Chúng tôi nghỉ chặng đầu tiên vào khoảng 7 giờ tối hôm đó ở Fernley, Nevada. Alice vẫn say ngủ, nên tôi bước qua cô, một mình xuống xe, và gọi cho Bernie theo như kế hoạch. Bác kêu ầm lên khi nghe thấy giọng tôi. Tôi cảm ơn Bernie rối rít về chiếc áo len và nhanh chóng kể cho bác về chuyến xe buýt, về Alice và lũ mèo con cùng những điều khác mà tôi có thể nhét vào cuộc trò chuyện ngắn ngủi. Trước đó, chúng tôi đã đồng ý cài đồng hồ đếm ngược của bác để mỗi lần tôi gọi điện thì cuộc gọi chỉ trong vòng năm phút là cùng; như vậy hóa đơn thanh toán sẽ không đội lên quá cao.
Bác kể cho tôi những gì bác và Mẹ đã làm.
“Hôm nay mẹ cháu và bác quét bụi, Heidi à. Cháu biết mẹ cháu thích quét bụi như thế nào rồi đó.”
Mẹ và Bernadette thường dùng mấy chiếc chổi lông để cù chọc nhau, vì thế việc dọn nhà này giống như một trò chơi hơn. Dù vậy, tôi chưa bao giờ thấy lưu lại chút bụi bặm nào quanh nhà cả vì thế tôi đoán việc này cũng được hoàn thành tốt chứ không đơn thuần là để vui chơi cùng Mẹ.
“Đầu mẹ cháu sao rồi ạ?” tôi hỏi.
“Chiều nay lúc cháu đi rồi, cô ấy nằm suốt hai tiếng đồng hồ,” bác kể, “và từ đó đến giờ thì mẹ cháu khỏe. Cháu ổn chứ? Bác lo quá đi mất.”
Bernie đã treo tấm bản đồ trong bếp ngay cạnh điện thoại, và bác ghim chiếc đinh ghim đầu tiên lên đó, một chiếc đinh ghim màu xanh lên Fernley. Đồng hồ đếm ngược reo ngay khi người ta thông báo xe buýt sắp tiếp tục lên đường.
“Chặng dừng tiếp theo nhớ gọi bác nha,” Bernie dặn dò. “Đó sẽ là Lovelock.”
“Lúc ấy chắc khá muộn đấy ạ,” tôi đáp.
“Bác sẽ thức,” bác bảo tôi.
Trước khi lên đường, Bernie đã đưa cho tôi năm mươi đôla - đó là tất cả những gì bác có thể dành dụm được. Tôi bỏ những đồng tiền (chúng đã được bác rửa sạch, tất nhiên) trong balô của mình. Chúng tôi biết taxi lên Hilltop sẽ là mười lăm đôla một lượt đi, vậy có nghĩa rằng tôi chỉ có hai mươi đôla để mua đồ ăn hay dùng cho các việc khác mà tôi có thể cần dọc đường. Bernie sợ như vậy sẽ không đủ, nhưng tôi chẳng lo chút nào. Nếu tôi cần tiền, tôi biết chắc mình có cách để kiếm ra nó.
Tôi đói ngấu, nhưng tôi không muốn tiêu pha lãng phí vào đồ ăn ở sân ga, vì thế khi trở lại xe buýt, tôi ăn một chiếc sandwich kẹp giăm bông do Bernie chuẩn bị, và tiếp theo là một gói chocolate Devil Dogs của Zander. Thức ăn đã chặn ngay cơn gào thét của dạ dày, nhưng sâu thẳm trong lòng tôi vẫn có cảm giác trống rỗng không yên. Alice đã tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngắn, trở nên tươi tỉnh và lại có vẻ thích nói chuyện. Xem ra, cô là người ưa kể chuyện hơn là hỏi han, nhưng tôi không bận tâm tới điều đó. Sự líu lo không ngớt của cô giúp tôi giữ cho đầu óc khỏi nghĩ về những chuyện khác.
Cô cứ thế nói tràng giang đại hải tới tận khuya về cuộc hội ngộ gia đình ở Salt Lake. Thật tình cờ, bốn mươi hai người họ Wilinsky cũng đang trên đường tới đây. Thị tộc của cô, cô gọi họ như vậy. Cô giải thích rằng, cô hòa hợp với vài người một cách rất “đỉnh” và số khác cô chỉ có thể “giao tiếp qua loa”.
Khi cô bắt đầu kể về mối cừu hận của mình với người chị gái, Ellen, người đã nhận được món quà Giáng sinh xịn hơn cô vào năm ngoái thì tôi thấy buồn ngủ trĩu mắt. Thực tế là tôi đã ngủ ngon lành, ngủ cả khi xe dừng ở Lovelock. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi và Bernie không nói với nhau lời chúc ngủ ngon.
Tôi ngủ một mạch tới tận sáng hôm sau. Khi tỉnh giấc, cổ của tôi cứng đơ và lũ mèo con đang meo meo những âm thanh tội nghiệp phía dưới ghế ngồi. Alice đặt ngón tay lên môi, và rồi khi chắc người lái xe không nhìn thấy, cô nhấc từng con một ra khỏi chiếc túi, đưa tôi hai con để giấu chúng dưới áo len, chúng nằm gọn trong đó.
“Gia đình cưng đông đúc không, Heidi?” Alice hỏi tôi.
Tôi chờ đợi mà không trả lời. Tôi biết rằng Alice có kiểu hỏi những câu mà cô thực ra chẳng để ý câu trả lời của ta. Vả lại, tôi không thích kể cho Alice về gia đình mình. Lắng nghe cô thao thao bất tuyệt về đủ mọi thứ về gia đình cô đã bắt đầu khiến tôi còn cảm nhận một cách sâu sắc hơn nữa tất cả những điều tôi không biết về gia đình mình. Alice nhìn tôi vẻ chờ đợi. Hẳn là lần này cô muốn có câu trả lời.
“Gia đình em có Mẹ, Bernie và em,” tôi đáp. “Và em cũng có bà ngoại nữa.”
Cảm giác hưng phấn lạ kỳ khi nói ra điều đó và tôi khoe tôi có bà ngoại như thế cho dù tôi không chắc điều vừa nói có đúng hay không. Nhưng Alice không hỏi chuyện ấy. Sao cô ấy phải hỏi kia chứ. Bốn mươi hai người nhà Wilinsky đang tề tựu về Salt Lake City; có vẻ như cũng hợp lý đối với tôi khi có một người bà dù là chả ra gì chứ.
“Bà ngoại em cho em chiếc áo len này làm món quà chia tay đấy,” tôi nói thêm đầy trơ trẽn.
Khi tôi nói dối Bernie về việc mua vé, tôi đã cảm thấy tội lỗi khôn nguôi. Lần này thì lại khác. Thật dễ dàng. Và tôi chẳng cảm thấy chút tội lỗi nào, chỉ hơi váng vất tí chút. Alice đâu biết gì về tôi. Tôi có thể kể với cô về bản thân mình hoặc về gia đình tôi bất cứ điều gì tôi muốn, và cô sẽ chẳng biết tôi có bịa đặt hay không.
“Bà ngoại em sống với tụi em và tặng quà cho em suốt,” tôi kể. “Tới cả trăm món quà rồi ấy.”
“Bà của chị thì dạy chị làm bánh,” Alice nói, chuyển cuộc đối thoại từ tôi sang bản thân cô. “Bí mật nằm trong mỡ lợn ấy. Ngày nay người ta quay lưng lại với mỡ lợn rồi, nhưng đó là cách duy nhất để làm cho vỏ bánh xốp. Nói cho em hay nha, Heidi,” cô bảo khi đứng dậy và cẩn thận kéo chiếc túi mua sắm ở trong ngăn hành lý phía trên đầu xuống. “Chị mang một ít bánh đến buổi họp mặt, nhưng có Chúa biết xe xóc long xòng xọc thế này khi đến nơi chúng sẽ bẹp dí mất thôi. Em thích thử bánh dâu tây nhân đại hoàng ngay giờ không?” Cô lôi từ trong túi ra một hộp nhôm. “Ai bảo bánh ngọt không dùng cho bữa sáng nào?”
Tôi đói cồn cào và cũng chưa từng được nếm bánh tự làm lần nào trong đời. Bernadette không biết làm bánh. Bác cũng chẳng phải người làm món nướng hay rán. Bác chỉ hợp với món trứng chiên, nhưng ngoài ra còn có vài món khác, cà phê và Jell-O, tôi không nhớ được các món tạp nham do bác làm. Chúng tôi hầu như ăn các món đông lạnh và đồ hộp được hâm nóng lên. Bánh của Alice có những sợi bột nhỏ xíu đan vào nhau như tấm lưới phủ ở phía trên, và các góc được nặn một cách hoàn hảo, thậm chí còn có chút làn sóng uốn lượn xung quanh nữa. Thật là đẹp mắt.
“Bà ở trong 4-H [7] ,” cô giải thích khi quan sát tôi đưa cái nĩa xiên bánh cho vào miệng. “Bà được giải thưởng cho món bánh tự làm đó, và bà đã truyền tất cả bí quyết cho chị vì chị là đứa cháu bà yêu quý nhất.”
Tôi không biết làm bánh như thế nào, nhưng do không hiểu nên bỗng nhiên các bí quyết mà bà của Alice truyền cho cô khiến tôi ghen tị tới mức cảm thấy bị tổn thương.
“Bà em cũng biết làm bánh,” tôi bảo. “Bà là người làm bánh giỏi nhất trên đời. Nhưng bà không làm bánh nướng đâu. Chỉ làm bánh ngọt thôi - loại với rất nhiều lớp cùng với đường rắc ở giữa cùng các bông hồng gắn lên trên ấy. Chúng em đều là những người ghiền bánh. Tất cả mọi người trong gia đình em.”
Tôi ăn bánh nướng trong khi nói. Cắn hết miếng này tới miếng khác, không thể dừng lại được, y như chuyện nói dối vậy.
“Bánh ngọt, bánh ngọt, bánh ngọt, đó là tất cả những gì mọi người nghĩ về gia đình em,” tôi nói với miệng phúng phính bánh nướng.
Alice quan sát tôi khoan thủng hết cả chỗ bánh nướng. Khi tôi ấn nĩa vào miếng cuối cùng trong lòng chiếc đĩa nhôm, cô mỉm cười và nói giọng đầy tự hào, “Em đã từng nếm thứ vỏ bánh nào bông hơn thế này chưa, Heidi?”
Tôi lắc đầu và liếm chiếc nĩa sạch bóng. Tôi cảm thấy buồn nôn.
Lũ mèo nằm dưới áo len của tôi giãy giụa không ngừng, và những chiếc vuốt nhỏ xíu của chúng vồ lấy những đường khâu của chiếc áo khi chúng oằn oại người; thế là tôi nhấc chúng ra và đặt chúng trở lại chiếc túi xách. Alice cho chúng uống sữa nóng; cô rót sữa vào một chiếc đĩa nhỏ và đặt vào trong túi cho chúng. Tôi thấy khát và ước gì cô cũng mời tôi một ít sữa, nhưng cô mang chúng cho lũ mèo mà, thế nên tôi im lặng.
“Sinh nhật em vào ngày nào?” Alice hỏi tôi khi cô đã ngả lưng trên ghế của mình. Lần này cô không đợi câu trả lời. “Sinh nhật của chị vào ngày hai tháng mười,” cô bảo. Đoạn, nhẩm đếm đốt ngón tay, cô nói tiếp. “Sinh nhật mẹ chị vào ngày mười tháng mười, sinh nhật chị của chị vào ngày mười ba, của em là ngày mười tám và của Bố là vào ngày hai mươi bảy. Cả năm người nhà chị đều là những Wilinsky tháng mười.”
Những Wilinsky tháng mười. Tôi lại cảm thấy một cơn nhói đau vì ghen tị nữa. Tôi nhìn Alice và tự hỏi - cô ấy có hiểu được không nếu tôi nói cho cô về ngày sinh của tôi? Liệu cô có biết một ai khác phải đoán chừng về ngày mà họ được sinh ra hay chăng? Làm sao những Wilinsky tháng mười có thể hiểu được điều đó?
“Ai đặt tên cho chị, chị Alice?” tôi hỏi, và chuẩn bị đương đầu với một sự đau đớn khác vì tôi biết chắc là cô sẽ biết người đặt tên cho mình.
“Đó là truyền thống của nhà Wilinsky,” cô bắt đầu kể. “Cái tên Alice được đặt tên trong gia đình qua các thế hệ. Rất nhiều người trong họ chị có cái tên này. Bà nội chị và bà cố nội chị cũng tên Alice, và có hai người bác lấy hai người vợ tên Alice, và, chời, ít nhất là có ba Alice khác nữa mà giờ chị chịu không nhớ ra được.”
Ý nghĩ về tất cả những người họ Wilinsky này, mang những cái tên hạnh phúc này đặt cho các đứa trẻ của họ qua các thế hệ khiến tôi bực bội không yên, và lại khiến tôi nói dối một cách trơn tru.
“Em được đặt theo tên của một bộ phim,” tôi bảo. “Bộ phim có Shirley Temple thủ vai.”
“Thật ư? Ồ, chị thích Shirley Temple,” Alice nói, hai tay vỗ vào nhau đầy vui sướng. “Tất cả những lọn tóc quăn ấy, và cái bĩu môi thật đáng yêu. Chị là fan ruột của Shirley nè.”
“Bà ngoại em quen cô ấy,” tôi tiếp tục, cố hết sức để tỏ ra đây chẳng có gì là ghê gớm cả, chỉ là một trong vô số điều thú vị về bản thân mình.
“Bà biết Shirley Temple ư? Ý em là quen biết cá nhân ư?” Alice hỏi.
Ngực tôi ưỡn lên đầy tự hào. Tôi đang khám phá ra một điều khác về sự dối trá. Khi mọi người tin vào điều ta nói, thỉnh thoảng ta quên rằng ta đang không nói thật.
“Shirley Temple là người đã dạy bà em làm bánh ngọt đó. Cô làm bánh ngọt rất cừ,” tôi bảo.
Alice nhìn tôi phải đến một phút.
“Cái người Shirley Temple mà chúng ta đang nói đến ư? Ngôi sao điện ảnh? Cô ấy dạy bà ngoại em làm bánh ngọt ư?” cô hỏi.
Tôi gật đầu.
“Cô ấy ghé qua nhà và làm bánh ở nhà chúng em suốt mà,” tôi đáp.
“Shirley Temple đến nhà em ư?” Alice hỏi.
“Vâng. Cô ấy nói cô thích lò nướng bánh nhà em hơn lò của nhà cô ấy,” tôi bảo.
“Chị hiểu rồi,” Alice nói, gật đầu và kéo một sợi chỉ thừa trên ống tay áo. “Hẳn là nhà em có một cái lò tốt nhỉ.”
“Vâng,” tôi đáp. “Shirley Temple rất hay đến nhà em để sử dụng nó, và sau khi cô cùng bà ngoại nướng bánh xong, họ cùng trang trí bánh và gắn nến lên trên, và rồi tất cả nhà em cùng ngồi xung quanh và vờ như có sinh nhật của ai đó.”
“Và cô ấy sang thăm nhà em khá thường xuyên, phải thế không? Nướng bánh ở nhà em?” Alice hỏi.
“Rất thường xuyên,” tôi đáp. “Thực ra là sang liên tục ấy. Tất nhiên trừ khi cô bận làm phim ở Hollywood.”
“Tất nhiên rồi,” cô đáp. “Kể cho chị nghe đi, Heidi - Shirley Temple sang nhà em nướng bánh với bà ngoại em, cô ấy có từng nhảy điệu clacket với em chứ, có lẽ cô ấy cho em xem cả các điệu nhảy mà cô ấy đang luyện tập cho bộ phim sắp tới chứ?”
“Thỉnh thoảng ạ,” tôi đáp. “Thỉnh thoảng cô ấy có khiêu vũ.”
“Trong bếp nhà em à?” Alice hỏi.
“Hoặc trong phòng khách,” tôi bảo.
“Và thỉnh thoảng cô ấy hát nữa chứ nhỉ?” Alice hỏi.
“Thỉnh thoảng,” tôi kể. “Nếu cô ấy có hứng thú.”
Alice bật cười to. Đoạn cô nhìn xuống lòng mình, chẳng nói năng gì trong vòng một phút, và tôi biết có điều gì đó không ổn.
“Heidi,” cuối cùng cô nói, “như chị nói với em rồi đó, chị là fan ruột của Shirley Temple. Chị nghĩ mình đã xem mọi bộ phim cô đóng tới cả tá lần rồi ấy, đó là lý do vì sao tự nhiên chị nhớ là cô không đóng bộ phim nào mới kể từ phim Một nụ hôn cho Corliss , từ những năm 1940 kia. Giờ nữ minh tinh này là một bà già, gần tám mươi rồi chứ không ít. Tham gia vào chính trường. Một người trung thành với Đảng Cộng hòa. Bà ấy không nhảy được điệu clacket trong bếp nhà em như là chị nữa đâu.”
“Ô,” tôi thốt lên, hay dù sao cũng cố gắng thốt lên lời. Đôi môi tôi có thể chỉ cố gắng phát thành một từ tròn trịa đầy buồn bã; thực tế là không có âm thanh nào được phát ra. Giờ tôi đã hiểu. Ngay từ đầu cô thừa biết là tôi đang nói dối. Về chuyện nhảy nhót, hát hò và nướng bánh. Về mọi chuyện. Cô đã lắng nghe tôi nói và để mặc tôi nói như tôi đã làm thế với Zander, gật đầu, ừ hử và khuyến khích tôi, trong khi biết tỏng là tôi bịa đặt.
Tại sao cô ấy làm thế? Tại sao cô không nói rằng tôi đang dối trá? Có lẽ cũng giống lý do tôi không nói thế với Zander. Cô ấy thích thú việc tự mình cố hình dung ra điều gì nằm phía sau những lời nói dối. Nhưng tôi không giống Zander - tôi không nói dối vì sự thật quá nặng nề để thừa nhận nó. Tôi không che giấu sự thật. Nếu đó là những gì cô ấy muốn, tôi sẽ đưa nó hết cho cô.
“Em không có ngày sinh nhật,” tôi đáp. “Và mẹ em bị bại não, em cũng chẳng chắc là mình có bà ngoại hay không nữa.”
Cô không nói gì cả.
“Bác Bernie nói, như thể Mẹ và em từ trên trời rơi xuống vậy,” tôi bảo Alice.
“Hmm.” Alice gật đầu và vuốt vuốt bộ lông con mèo đang nằm trên váy cô, nhưng cô không bảo tôi giải thích. Cô là một Wilinsky tháng mười. Cô có bà nội, người đã đặt tên cho cô theo tên mình và truyền cho cô các bí quyết và yêu cô hơn hết thảy. Cô đâu cần biết sự thật về tôi. Cô thậm chí không muốn biết nữa cơ.
Từ lúc đó trở đi, không khí giữa chúng tôi đặc quánh lại và thật khó thở. Alice đọc tạp chí, tiếm nước bọt vào đầu ngón tay mỗi khi cô lật trang. Lũ mèo kêu la, nhưng cô không để cho tôi giữ chúng. Khi rốt cuộc chúng tôi đến Salt Lake City, Alice nhét cuốn tạp chí vào túi xách, tô son môi, và chải tóc.
“Giờ em đi bảo trọng nha, Heidi,” cô nói khi choàng lên người chiếc áo mưa dài màu xanh lá.
Lúc cô đến và ngồi xuống cạnh tôi ở bến xe Reno trong chiếc áo mưa đó, tôi đã cảm giác như mình được tìm thấy, nhưng khi cô bước ra khỏi xe buýt và tôi nghe lũ mèo meo meo kêu còn Alice tặc lưỡi để an ủi chúng, tôi chắc chắn rằng mình sẽ chẳng bao giờ cảm thấy bị lạc hơn nữa trong cuộc đời mình.