TÔI GỌI CHO BERNIE từ điện thoại trong ga thành phố Salt Lake. Bác đang uống cà phê sáng.
“Cháu xin lỗi vì đã không gọi bác đêm qua, bác Bernie à. Cháu ngủ quên lúc qua Lovelock,” tôi bảo bác.
“Bác cũng hình dung ra như vậy, nhưng cũng không khiến bác hết lo,” bác đáp. “Cháu thế nào rồi, bé con?”
Tôi cần phải trả lời câu hỏi này ra sao đây? Sau những gì tôi vừa trải qua với Alice, tôi muốn kể sự thật cho Bernie. Nhưng nếu bác biết tôi đang buồn và nhớ nhà, bác sẽ bảo tôi đổi xe và quay về nhà cho mà xem. Tôi không rõ mình có thể từ chối hay không và điều làm tôi lo lắng hơn cả là tôi không chắc mình có nhớ được lý do tại sao phải nói không với bác.
Một người đàn ông mặt đỏ gay dừng lại ngay trước mặt tôi châm một điếu xì gà đen to tướng. Ông rít mấy hơi liền, rồi chúm môi thổi tắt que diêm. Một âm thanh nhẹ nhàng quen thuộc lướt qua không khí tới bên tôi theo làn khói xám - soof - và tôi nhớ ra.
“Cháu không sao chứ?” Bernie hỏi.
“Vâng, bác Bernie à,” tôi đáp. “Cháu khỏe mà.”
Đường dây điện thoại kêu lẹt xẹt.
“Ôôô! Cháu có nghe thấy không vậy?” bác hỏi.
“Gì thế ạ?”
“Sấm chớp rền vang đó. Trời đang mưa như trút nước vậy,” bác bảo. “Cháu biết mẹ cháu cảm thấy thế nào khi trời mưa rồi đấy. Cô ấy giấu mặt dưới gối suốt từ lúc trời bắt đầu mưa tới giờ.”
Lại thêm tiếng lẹt xẹt, rồi đường dây rít lên và không còn tiếng ồn nữa.
“Bác còn đó không, bác Bernie? Bác Bernie?”
“Bình tĩnh nào, bé con. Bác đây mà,” bác nói. “Và bác đang ghim một chiếc đinh ghim lên ngay điểm của thành phố Salt Lake để bác biết chính xác nơi cháu đang trên đường mà bác luôn…”
Đường dây lại kêu lẹt xẹt, rít lên, và lần này, khi nó hết hẳn tiếng ồn, bác không còn ở đó nữa.
“Bernie? Bác Bernie?” tôi hét lên trong điện thoại.
Tôi đứng đó trong một lúc với chiếc ống nghe áp chặt vào tai, nhưng bác không trở lại. Không còn thời gian gọi lại cho bác nữa rồi. Tôi phải chạy để lên xe buýt đúng giờ. May mắn là tài xế không để ý, hoặc có lẽ ông không quan tâm rằng Alice không đi cùng với tôi nữa.
Tôi tìm một chỗ ngồi mới và đặt mình xuống ghế, ngủ gà ngủ gật tận tới khi chúng tôi đến chặng dừng tiếp theo, Rock Springs, Wyoming. Chúng tôi thay tài xế ở đây, nhưng không đổi xe, vì thế dù tôi rất muốn nghe giọng Bernie, nhưng tôi quyết định phải hành động an toàn và ở lại trên xe buýt. Tôi không biết liệu lái xe mới có cảm giác là tôi đi một mình hay không, và tôi thấy mình không thể đối mặt với việc đi tìm một người mới để làm quen. Tôi ăn chiếc bánh sandwich kẹp giăm bông thứ hai, cắn từng miếng nhỏ càng lâu càng tốt cho đến mẩu cuối cùng. Rồi tương tự như vậy, tôi cũng nhấm nháp thật lâu thanh Devil Dogs.
Cuộc trò chuyện với Alice cứ tua đi tua lại trong đầu tôi. Tôi ước gì mình có một cái công tắc trong óc để tắt phụt nó cho rồi. Tôi tiếp tục thuyết phục bản thân rằng, cô ấy có nghĩ gì về tôi cũng chả thành vấn đề vì tới cả ngàn năm nữa cũng chẳng có cơ hội gặp lại nhau. Nhưng tôi không thể ngăn được nỗi băn khoăn, biết đâu giờ đây cô ấy đang đứng chung với một đám Alice khác, cười ngặt nghẽo về một đứa bé ngốc nghếch trên xe buýt, đứa bé đã kể cho cô nghe rằng Shirley Temple nhảy clacket trong bếp nhà mình. Thật bẽ bàng khi nghĩ về cảnh đó, nhưng đấy không hẳn là những gì thực sự khiến tôi buồn bực.
Điều làm tôi áy náy là không biết vì sao mình lại hành động như thế. Một lời nói dối là điều trái ngược với sự thật. Sự thật là điều tốt và dối trá là điều xấu xa. Màu đen và màu trắng. Đơn giản. Thế mà tôi đã nói dối Alice không vì một lý do nào cả, tôi thậm chí còn chẳng cảm thấy khó chịu cho đến khi bị vạch mặt. Điều đó đã nói gì về tôi?
Tôi lôi cuốn sổ tay ra và bắt đầu làm một danh sách mới:
NHỮNG ĐIỀU TÔI BIẾT VỀ SỰ DỐI TRÁ
Nói dối là xấu xa
Nói dối là sai trái
Đôi khi người ta nói dối vì sự thật quá nặng nề để thừa nhận nó
Đôi khi nói dối thật dễ dàng
Đôi khi nếu bạn không cẩn thận, bạn bắt đầu tin vào lời nói dối của chính mình
Đôi khi lời nói dối khiến bạn cảm thấy tội lỗi
Đôi khi nó lại không cho cảm giác ấy
Không phải lúc nào người ta cũng nói với bạn rằng họ biết bạn đang nói dối
Vào lúc chúng tôi đến chặng dừng tiếp theo, Cheyenne, tôi cảm thấy khó ở. Dạ dày tôi chuyển từ trạng thái trống rỗng sang nhói đau và tôi e rằng có lẽ mình cần phải nôn ra. Bernie luôn mang cho tôi một chiếc tô và giữ trán giúp tôi trong khi tôi ói. Và sau đó, bác đưa cho tôi một thanh kẹo cao su Doublemint để khử mùi.
Tôi là người đầu tiên lao ra khỏi xe buýt và tôi chẳng thèm quan tâm xem nên tìm lấy ai đó để giúp tôi lên xe. Có lẽ, tôi sẽ chẳng lên xe nữa. Có lẽ, tôi sẽ gọi điện cho Bernie, nói với bác rằng tôi không khỏe và bác sẽ khuyên tôi quay về nhà. Khuyên tôi bỏ cuộc. Và có lẽ tôi sẽ về nhà. Về nhà với Mẹ và Bernie.
Tôi tìm một buồng điện thoại công cộng và quay số, nhưng thay vì tiếng một người trực tổng đài, tôi gặp giọng nói trong băng ghi âm cho biết họ không thể thực hiện được cuộc gọi vào lúc này. Tôi thử thêm hai lần nữa, nhưng vẫn gặp giọng nói ấy. Cơn lộn lạo trong dạ dày tôi tăng lên gấp đôi. Nhìn qua cửa sổ của buồng điện thoại, tôi thấy một cửa hàng nhỏ gần phòng vệ sinh nữ và quyết định tới đó mua một phong Doublemint để phòng trường hợp cần dùng. Nhưng khi tới nơi, tôi đã đổi ý định và thay vào đó tôi hỏi mua một ly cà phê đen. Người phụ nữ có vẻ ngạc nhiên, và trong một giây, tôi nghĩ rằng có lẽ bà sẽ không bán cho tôi.
Nhưng tôi đưa bà tờ một đôla và bà trả lại tôi tiền thừa cùng một ly giấy màu xanh-trắng có nắp nhựa. Tôi vội nhấp một ngụm. Nó còn đắng hơn cả cà phê của bác Bernie, nhưng tôi chẳng quan tâm - tôi sẽ không uống nó. Tôi sẽ chỉ cầm nó trong tay và ngửi nó, để nó đưa tôi về nơi tôi muốn tới - trong căn bếp với Bernie mặc áo choàng tắm đang xay cà phê còn Mẹ thì đang vẽ ở phòng khách.
Các buồng điện thoại ở Cheyenne khá đẹp với những chiếc ghế nhỏ xinh và một bóng điện tự bật sáng mỗi khi ta đóng tấm cửa kính lại. Tôi tìm một buồng trống, bước vào, và đóng cửa lại. Mùi hương quen thuộc của cà phê lập tức tràn ngập không gian bé nhỏ, khiến nó gần như ấm áp, và tôi bắt đầu cảm thấy khá hơn. Tôi đặt ly cà phê trên chiếc giá bằng kim loại cạnh điện thoại và quay số nhà Bernie một lần nữa. Lần này, tiếng người trực tổng đài ở trên đường dây.
“Cuộc gọi người nhận trả tiền [8] từ Heidi ạ,” tôi nói, nhẹ lòng khi nghe thấy tiếng người.
“Xin lỗi cháu thân mến, vừa có thời tiết xấu và đường điện thoại đã bị hỏng,” cô nói với tôi.
“Hỏng ư? Trong bao lâu ạ?” tôi hỏi.
“Thật khó trả lời được,” cô nói với tôi. “Vài giờ, vài ngày. Tùy thuộc vào vấn đề của nó là gì.”
Vài ngày ư? Nếu tôi quay lại xe buýt, vài ngày nữa tôi sẽ tới Liberty.
“Cô có thể làm ơn thử lại giúp cháu không?” tôi nói. “Chuyện rất quan trọng ạ.”
“Được chứ, nhưng cũng chẳng thay đổi được gì đâu. Như cô nói rồi đó, đường dây bị hỏng, và hỏng là hỏng thôi.”
Tôi thử gọi Bernie vài lần nữa nhưng đều không được cho đến khi rốt cuộc tôi nghe tiếng thông báo xe buýt khởi hành. Cà phê trong tách đã nguội và giờ đây mùi hương đang tạo thành một ma lực u ám hơn. Nỗi sợ hãi ập tới, và tôi cảm thấy còn lộn lạo hơn trước. Tôi biết rằng giọng của Bernie là thứ duy nhất có thể sẽ lấp đầy được khoảng trống mà rốt cuộc đang dâng lên và định kéo lộn ra ngoài.
Tôi gác máy với đôi tay run rẩy và đẩy mở cánh cửa kính. Soof , nó thì thầm như thể tự gập lại để tôi bước qua. Tôi đưa tay bịt lấy hai tai. Tôi không muốn nghe thấy từ đó. Không phải lúc này. Tôi không muốn được nhắc nhở. Tôi không muốn bất cứ thứ gì trừ việc tìm một chiếc hộp bỏ đi. Tôi sẽ nôn mất.
Bóng điện phía trên đầu đã phụt tắt khi tôi mở cửa ra, và tôi đứng trong bóng tối, run rẩy trong lúc một đợt sóng mạnh mẽ của cơn buồn nôn nhấn chìm tôi. Tôi có thể nhìn thấy chiếc hộp rỗng, chỉ cách đó có vài bước chân, song dường như tôi không thể cử động được. Tôi nhắm mắt và cố điều khiển mình bước ra khỏi buồng điện thoại, nhưng tôi bị đông cứng một chỗ. Rồi một giọng nói xa xăm vẳng đến bên tôi - thoạt tiên tôi nghĩ đó là giọng của Bernie, một tiếng nói của ký ức bên trong đầu tôi; sau đó, tôi nhận ra tôi đang nghe giọng nói của chính mình. Tôi đang tự nói to với bản thân, âm thanh bị méo đi và dội lại vì đôi tay của tôi vẫn đang bịt chặt hai tai:
Lượn một vòng, lên, xuống, hất cái đuôi sang bên. Lượn một vòng lên, xuống, hất cái đuôi sang bên.
Tôi loạng choạng rời khỏi buồng điện thoại và điên cuồng lao tới chiếc hộp rỗng, với lấy nó vừa đúng lúc. Tới ba lần tôi nôn ọe và khạc nhổ vào trong chiếc hộp kim loại lớn màu xanh da trời ấy. Và cuối cùng cơn nôn mửa cũng cũng kết thúc, tôi mở choàng mắt ra và chớp chớp hàng mi. Đó là Georgia Sweet.
“Dùng Doublemint chứ?” chị hỏi, chìa một gói về phía tôi.
Chị cao và gầy, và vào cái ngày chúng tôi gặp nhau, Georgia diện một chiếc váy dài màu vàng với những bông hoa xanh da trời. Chị nói chị mười tám tuổi và sống ở Wheatland - Wyoming, suốt từ thuở bé, nhưng giờ chị đang trên đường tới thành phố New York, để vào trường đại học. Thành phố New York cách xa Wheatland - Wyoming, nhưng nó chỉ bằng hai phần ba thời gian tới Liberty. Chúng tôi sẽ đi trên cùng một chuyến xe buýt trong hai ngày tới. Một lần nữa, tôi lại được tìm thấy.
“Sao chị biết công dụng của Doublemint?” tôi hỏi chị khi chúng tôi chìa vé để kiểm tra và cùng nhau lên xe buýt.
Georgia đã khăng khăng đòi mua cho tôi một lon Coke để giúp làm dịu cái dạ dày của tôi, và tôi đang cảm thấy khá hơn rất nhiều.
“Mẹ chị thường đưa Doublemint cho chị sau mỗi lần chị nôn,” chị đáp. “Mẹ em cũng thế hả?”
“Mẹ em bị bại não, vì thế bà không thực sự chăm sóc em. Bernie là người đưa kẹo cao su cho em,” tôi đáp, quyết tâm ngay từ đầu đã xổ ra sự thật với Georgia.
“Bernie là bố em hả?” chị ấy hỏi.
“Không. Đó là bác hàng xóm nhà em, nhưng bác ấy cũng sống cùng mẹ con em. Bác ấy là người nhà. Gia đình em chỉ có ba người, ngoài ra có lẽ em có một bà ngoại nhưng em không thật chắc lắm. Đó là cả một câu chuyện dài,” tôi bảo.
Georgia đối lập với Alice. Chị là một người hay hỏi, không phải là người hay kể. Tôi trả lời cả triệu câu hỏi trong suốt hai ngày Georgia và tôi đi cùng nhau. Như tôi đã nói với chị ấy, chuyện của tôi rất dài, nhưng Georgia rất muốn nghe, và tôi đoán rằng mình muốn kể nó ra vì tôi không còn có quá nhiều điều bí mật để mà giấu giếm.
“Thử viên mùi Violet không?” Georgia hỏi trong thời gian tạm ngưng giữa cuộc nói chuyện. Chị ấy lục lọi ví, rồi lôi ra một thỏi kẹo bọc trong giấy bạc.
Tôi cho một viên kẹo vào miệng nhưng chỉ một giây đã vội nhè ra ngay.
“Như mùi nước hoa ấy nhỉ,” tôi bảo.
“Ờ há. Nó giúp ta có hơi thở tươi mát, thấy không?” Chị thổi thẳng vào tôi một luồng hơi nhẹ, ấm ấm thơm mùi hương hoa.
“Có,” tôi đáp.
“Hơi thở thơm tho là rất quan trọng,” chị nói.
Tôi muốn hỏi chị xem hơi thở của tôi có ổn hay không, nhưng tôi cảm thấy quá ngại ngần. Thay vào đó, tôi lại nhét viên Violet vào miệng và mút nó để đề phòng trường hợp hơi thở của mình có vấn đề.
“Em có định sau khi tốt nghiệp trung học sẽ vào trường đại học không?” chị hỏi tôi.
Tôi chưa nói với chị ấy rằng mình không tới trường.
“Bernie dạy em học,” tôi bảo, “vì thế em sẽ không đi học trung học đâu. Em đoán là bác sẽ dạy em cả đại học nữa.”
“Chị không nghĩ một người có thể dạy đại học được - việc này cần đến cả đống giảng viên ấy chứ,” Georgia nói. “Với lại, nếu em muốn học điều gì đó mà Bernie không biết thì sao?”
“Chẳng hạn như gì ạ?” tôi hỏi.
“Chị không biết. Như kinh tế GĐ chẳng hạn. Đó là môn chính mà mẹ chị học ở đại học đấy.”
“Kinh tế GĐ là gì?” tôi thắc mắc.
“Kinh tế gia đình. Người ta dạy những thứ cho phụ nữ, em biết đấy, nấu ăn này, khâu vá này, và làm sao để trở thành một người mẹ tuyệt vời nữa.”
“Mẹ chị có phải là một người mẹ tuyệt vời không?” tôi hỏi.
“Ừm, chị đoán là có, nhưng chị thực sự không nhớ nữa vì bà mắc bệnh ung thư và mất khi chị lên năm.”
Tôi không biết phải nói sao. Tôi chưa từng quen biết ai mà họ đã qua đời. Trừ bố của bác Bernie - và tôi cũng không biết mặt ông, tôi chỉ biết về ông thôi. Tôi cảm thấy hoàn cảnh của Georgia thật sự đáng thương - tôi không thể hình dung ra mình cảm thấy thế nào nếu mất Mẹ hoặc Bernie.
“Em rất tiếc,” tôi nói. “Em không biết chuyện đó.”
“Sao em biết được chứ? Chuyện đó đâu có thể hiện trên một con người,” chị bảo.
Georgia mười tám tuổi và đang trên đường đi nhập học trường đại học. Chị biết bố mẹ mình là ai và họ đã chọn đặt tên cho chị là Georgia vì mẹ chị sinh ra ở Atlanta. Chị có đủ ông bà nội ngoại và một con chó tên Frisky mà chị cho phép nó ngủ trên giường của mình. Nhưng bất chấp tất cả những khác biệt đó, trong sâu thẳm, điều quan trọng là Georgia và tôi giống như hai con vịt màu vàng trong trò chơi Trí Nhớ, một con ở giữa và một con phía góc trên bên tay trái - ghép thành một cặp.
“Chị có nhớ mẹ không?” tôi hỏi.
“Không nhớ lắm. Bố chị rất tuyệt, và từ đó đến giờ chị chỉ thực sự có mình ông thôi, nên cảm giác bình thường, hiểu ý chị chứ?” chị ấy nói.
VV. Những chú Vịt Vàng. Tôi biết chính xác điều chị muốn nói. Ta không thể nhớ những gì ta không nhớ là mình từng có.
“Chị từng nghe thấy từ soof bao giờ chưa?” tôi hỏi.
“Đánh vần xem nào,” chị bảo.
Tôi đánh vần, nhưng chị lắc đầu. Đến đó, tôi kể cho chị nghe về danh sách của Mẹ và cái từ đó là lý do lần đầu tiên tôi rời Reno ra sao.
“Em nghĩ rằng soof là một người ư?” chị hỏi tôi.
“Em không biết nữa,” tôi đáp. “Có thể là vậy.”
“Mẹ em luôn luôn trong tình trạng đó, hay có gì đó xảy ra với bà khiến bà thành ra như thế?” chị hỏi.
“Em nghĩ Mẹ lúc nào cũng thế, nhưng em không chắc lắm,” tôi đáp.
“Thế còn bố em thì sao - ông cũng bị hỏng não ư?”
“Em không biết bố mình là ai.” Tôi trả lời.
“Có lẽ ông là soof cũng nên,” chị bảo tôi.
Tôi bắt đầu nghĩ rằng những điều tưởng như xảy đến một cách ngẫu nhiên thực ra không ngẫu nhiên chút nào. Giống như vận may, nhưng chúng còn bí ẩn hơn thế nữa. Nếu tôi không gặp Alice và khiến mình phải ói mửa vì sự dối trá đó, và nếu đường dây điện thoại hoạt động bình thường thay vì bị hỏng, có lẽ tôi đã chẳng bao giờ gặp được Georgia. Và nếu tôi không gặp Georgia, tôi sẽ không nói ra với chị tất cả những chuyện mà tôi đã kể vừa rồi và chị đã chẳng suy đoán về soof , điều chị suy đoán về nó tôi lại chưa từng nghĩ tới. Tên của bố tôi.