Bên trong lán nồng nặc mùi rơm rạ, bùn đất. Thứ mùi xa lạ đối với một đứa trẻ được sinh ra và lớn lên ở thành thị như tôi. Mặc dù cảm thấy ngột ngạt, khó thở nhưng đâu đó trong lòng tôi lại có chút cảm giác lưu luyến, nhớ nhung. Có lẽ dòng máu đang chảy trong huyết quản của tôi vẫn nhớ cái mùi rơm, mùi bùn này cũng nên. Trong góc lán có một cái cầu thang. Tầng hai được dùng làm kho để đồ. Giữa đống đồ đạc ngổn ngang phủ đầy bụi đó có một cái giường. Thằng Debailleul đang nằm trên đó, ngắm nghía cái vai đã được điều trị của mình.
“Mày tỉnh lúc nào đấy!?”
Cho đến sáng nay nó vẫn còn ở trong tình trạng bất tỉnh. Vết thương do đạn bắn đã được khâu lại. Trong quá trình điều trị, người ta đã phải dùng kéo cắt cái áo ra cho nên lúc này nửa thân trên của nó đang ở trần. Nó vừa lướt mắt nhìn xung quanh vừa hỏi.
“Mấy ngày trôi qua rồi?”
“Hai ngày rồi đấy. Mày đã ngất đi trên tàu.”
“Đây là đâu? Nhà của ông mày à?”
“Mày đoán chuẩn đấy!”
“Tao biết thừa. Vì cũng giống như mày, ở đây mùi kinh khủng.”
Cái thằng này... biết thế không đưa nó đi chữa trị, cứ để cho nó chết quách đi có khi lại tốt cho xã hội. Tôi hơi hối hận trong lòng.
“Tao đói rồi.”
Nói xong nó leo xuống tầng dưới và ra khỏi lán. Trước mặt nó là một dải bình nguyên bao la, bát ngát, không có gì khác ngoài cái lán nhỏ, gian nhà chính và chiếc xe tải hạng nhẹ. Thế nhưng nó không thèm đếm xỉa gì đến cảnh sắc hùng vĩ ấy mà lao tới mở cửa bước vào gian nhà chính. Nó chẳng nói chẳng rằng, cứ xồng xộc bước đi trên hành lang.
“Này, này, chờ đã! Đây có phải là nhà của mày đâu.”
Tôi vừa đuổi theo sau vừa lên tiếng nhắc nhở. Nhưng thằng Debailleul lấy ngón tay bịt vào tai và mở hết cửa phòng khách đến cửa nhà vệ sinh để kiểm tra. Khi nó vừa đi qua trước cửa phòng bếp thì có một giọng nói khàn khàn cất lên:
“Chúng ta phải vất vả lắm mới khiêng cậu về đến đây được đấy!”
Debailleul dừng lại, lườm ông lão vừa từ trong bếp bước ra.
“Lão là ai?”
“Ta là ông nội nó.” Ông nhìn sang tôi.
“Lúc ở ga tao đã gọi điện nhờ ông đến giúp.” Tôi giải thích. Đợt trước mẹ đã cho số điện thoại nhà ông và tôi đã viết sẵn ra rồi.
“Lão đã xử lý vết thương cho tôi phải không?”
“Ta có người bạn là bác sĩ.”
Ông tôi còn cao hơn cả Debailleul. Cơ thể ông mảnh khảnh và dáng lưng vẫn còn thẳng lắm. Trên mặt, bộ râu trắng che hết nửa phần dưới. Sau khi quan sát thấy hai cái bồn rửa trong khu vực bếp, Debailleul hỏi ông tôi:
“Khẩu súng đâu? Trả lại cho tôi!”
“Ta vứt đi rồi.”
“Này, đừng có đùa với tôi nha lão già. Tôi nhổ sạch râu bây giờ đấy.”
Tưởng chỉ là dọa nạt nhưng không ngờ thằng Debailleul đã xông tới chụp lấy râu ông tôi thật. Nhưng đúng lúc đó nó liền lảo đảo, đứng không vững, phải dựa người vào tường. Hình như nó bị chóng mặt.
“Cậu chưa hoàn toàn bình phục đâu. Đi ngủ đi.”
“Im đi lão già... Chó chết thật!”
Debailleul vừa nghiến răng vừa ngồi thụp xuống cái ghế trong bếp.
“Đói! Mang đồ ăn đến đây!”
Ông tôi vừa đưa tay vuốt lại bộ râu rối bù vừa quay qua nhún vai nhìn tôi.
Trong bếp, ông tôi đang cắt bánh mỳ với đôi bàn tay thô cứng như đá sỏi. Ngôi nhà bày biện rất đơn giản. Kể từ khi bà mất và bố tôi rời đi thì ông sống một mình ở đây suốt hơn mười năm qua. Cho đến trước cuộc điện thoại hôm nọ thì lần cuối cùng tôi nói chuyện với ông là ở lễ tang của bố. Hai ngày này tôi với ông cũng chưa có cuộc trò chuyện nào tử tế cả. Tôi chỉ giải thích qua loa về lý do tại sao thằng Debailleul bị thương, rồi vì sao chúng tôi bị cảnh sát săn đuổi. Thật lòng tôi cũng hơi lo, sợ rằng ông sẽ báo cảnh sát nhưng ông đã không làm thế. Chắc có lẽ chỉ cần biết đó là thằng cháu mình là ông tin rồi, dẫu cho có chẳng nói chuyện với nhau bao giờ. Thật sự tôi không rõ ông đang nghĩ gì trong đầu nữa.
Để lại Debailleul ngồi ăn trong bếp, ông tôi bắt đầu đi làm mấy việc nhà nông. Tôi quyết định sẽ phụ giúp ông một tay. Ông mang chiếc cối xay bằng đá ra và bắt đầu công việc xay bột ở tầng một khu nhà lán. Chiếc cối xay gồm hai phiến đá tròn đường kính khoảng 40cm xếp chồng lên nhau. Ở phiến đá bên trên có gắn một thanh gỗ, người xay sẽ nắm lấy nó và quay ngược chiều kim đồng hồ. Trên đó còn có một cái lỗ nhỏ để cho hạt lúa mỳ vào. Những hạt lúa mỳ này sẽ bị chà xát bởi hai phiến đá, trở thành bột và đùn ra từ các khe hở. Thu gom bột xong, ông tôi lên xe đi vào thị trấn. Một lúc sau, ông trở về với rất nhiều túi đựng sữa, thịt... Khi tôi đang cùng ông mang đồ vào nhà thì thằng Debailleul từ trên tầng hai lao ầm ầm xuống.
“Này, nhóc con! Tấm bản đồ đâu rồi?”
“Tao là Lindt. Gọi tên đàng hoàng đi!”
“À cái thằng này! Lần sau mà mày còn dám trả treo với tao như thế là tao sẽ xát ớt vào lưỡi mày rồi lấy bật lửa đốt chết mày!”
Rồi nó phát hiện thấy có tờ báo trên ghế phụ của chiếc xe tải. Hình như ông tôi đã mua ở thị trấn. Nó cầm lên đọc to.
“Đã xảy ra một vụ giết người ở thị trấn nơi Royce đang có mặt. Thủ phạm là hai nam thiếu niên.”
Tôi đánh rơi đống túi đồ đang cầm trên tay xuống đất. Mấy cái lon lăn lông lốc khắp nơi.
Đã sang ngày thứ tư ở nhà ông nội tôi. Sương mù kéo đến phủ trắng cả bãi cỏ. Tôi đang ngồi ăn sáng trên tầng hai cái lán nhỏ với bánh mỳ và xúp. Thằng Debailleul thì nằm ngủ với tấm bản đồ khư khư trong tay. Chắc nó đã thức thâu đêm để tìm hiểu về tấm bản đồ. Cuốn tuyển tập bản đồ của ông nội nằm chỏng chơ trên sàn. Trong đó có in rất nhiều loại bản đồ của nhiều khu vực khác nhau trên đất nước này. Nó đã so sánh các tấm bản đồ với nhau để tìm ra những địa hình có đặc điểm tương đồng. Đó rõ ràng là một hành động ngớ ngẩn chẳng khác nào tô vẽ các vì sao trên trời cả. Trên tấm bản đồ của tên siêu trộm không có dấu hiệu gì thể hiện phương hướng hay tỷ lệ. Để đến được địa điểm được đánh dấu trên đó thì trước tiên phải tìm xem nó nằm ở thị trấn nào. Chỉ cần biết được dữ liệu đó thôi là có thể đi được. Thế nhưng chính vì trên bản đồ không ghi tên tuổi gì cả nên bọn tôi đành bó tay.
“Đám thám tử yêu quý của mày có vẻ như đang định tìm cách lấy lại tấm bản đồ thì phải.” Debailleul nói ngay sau khi đọc xong tờ báo ông nội đem về. “Chúng chưa nói gì với cánh phóng viên về vụ tấm bản đồ bị đánh cắp. Có khi còn giữ bí mật với cả đám cảnh sát luôn ấy chứ. Vì bọn chúng vẫn chưa từ bỏ vụ tìm kiếm kho báu nên không muốn công khai thông tin. Này nhóc, tấm bản đồ đâu?”
“Mày định làm gì?”
“Còn làm gì nữa. Phải tìm cho ra kho báu trước khi bọn chúng đến.”
Kể từ lúc đó, nó cứ thế dán mắt vào tấm bản đồ.
Đến tầm trưa, ông nội chở tôi vào thị trấn trên chiếc xe tải hạng nhẹ. Ông đưa tôi đến bưu điện duy nhất trong thị trấn để tôi gửi thư về cho mẹ.
“Không biết mẹ sẽ thấy sao ông nhỉ!”
“Nhận được thư, mẹ cháu sẽ yên tâm lắm. Cháu đã kể hết mọi chuyện trong thư rồi chứ?”
“Dạ. Nhưng liệu mẹ có tin cháu không ạ? Biết đâu cả mẹ cũng nghĩ cháu là đứa trẻ hư thì sao...”
Chúng tôi bước vào một nhà hàng để ăn trưa. Ai cũng cất tiếng chào hỏi ông.
“Bác vẫn khỏe chứ?”
“Thằng bé con nhà ai đấy?”
“Con người quen ấy mà. Nhà người ta đi du lịch nên nhờ tôi trông giúp.”
“Cái cửa sổ trên tầng hai nhà tôi lại long xòng xọc ra rồi. Lại nhờ bác lúc nào chạy qua xem sửa giúp được không?”
“Vâng, để tôi thu xếp.”
Tôi đã ăn xong rồi mà vẫn không hết người ríu rít bắt chuyện với ông, bèn quyết định ra ngoài đi dạo một mình. Tôi muốn thử dạo một vòng xung quanh quê hương của bố. Thị trấn này cũng có tên là Leonidas, trùng với tên nhà ga. Nơi đây nằm gần biên giới và hầu hết đất đai đều là ruộng đồng và bãi chăn thả. Chỉ có một vài hàng quán ở cạnh khu vực nhà ga, còn lại tất cả đều đọng lại nguyên dấu ấn của tự nhiên. Trong lúc lang thang quanh quẩn, tôi đã lỡ giẫm phải một đống phân ngựa.
“Này, anh không phải là người vùng này phải không?” Một em bé gái chừng mười tuổi, tóc tết đuôi sam đang đứng trước cửa khu nhà ga bằng gỗ bắt chuyện với tôi. “Đối tượng khả nghi nha!”, cô bé nhòm vào mặt tôi với chiếc kính lúp trên tay. “Theo suy luận của tôi thì anh nhất định đến từ khu vực thành thị.”
“Sao em biết được hay vậy?”
“Người vùng này không ai để giày dính phải phân ngựa đâu.”
“Sắc sảo đấy! Chắc em ngưỡng mộ Royce lắm nhỉ!”
“Anh ấy là người hùng của em!”
“Anh ta không tốt đẹp đến thế đâu.”
“Đừng có xúc phạm Royce! Em không tha cho đâu!”
Cô bé nhặt hòn đá dưới đất rồi ném tôi.
“Cái con bé này!”
Tôi cũng nhặt đá ném lại.
“Nào, nào! Dừng tay lại!”
Hai đứa đang dùng đá chọi nhau thì ông tôi từ đâu hớt ha hớt hải chạy tới. Khi lại gần, ông hạ giọng nói. “Giờ đâu phải là lúc chơi mấy cái trò này cơ chứ. Ông tìm cháu nãy giờ đấy. Nhanh nhanh rời khỏi nơi này thôi...”
“Anh phải xin lỗi đi!” Cô bé cất cao giọng nói.
“Musee, có chuyện gì vậy?” Ông tôi hỏi cô bé. Nó tên là Musee thì phải.
“Anh này vừa xúc phạm Royce của cháu!”
“Anh ấy chỉ trêu cháu thôi, không có ý đó đâu. Phải không nào?”
Ông hướng về phía tôi. Tôi cúi đầu đáp “Đúng ạ!”.
“Mẹ cháu sẽ tin cháu thôi. Tin lá thư của cậu con trai mình hơn cả những gì Royce nói.”
Ông nói với tôi khi ngồi trên xe trở về nhà. Chiếc xe tải hạng nhẹ rung lắc liên hồi.
“Mẹ cháu chỉ mới đến thị trấn này một lần duy nhất. Khi ấy cháu còn đang nằm trong bụng mẹ.”
“Chắc mẹ đến cùng bố cháu ạ?”
“Không, thằng quỷ đó không đi cùng. Vì nó cãi nhau với ông rồi mãi không làm hòa được. Mẹ cháu đã một thân một mình lặn lội đi bộ từ nhà ga về ngôi nhà đó.”
“Với cái bụng to thế ấy ạ?”
“Đúng vậy. Vừa đi vừa che ô.”
“Thế mẹ cháu đến nói chuyện gì với ông vậy ạ?”
“Thông báo kết hôn. Mẹ cháu đến chỉ để báo là sẽ cưới con trai của ông. Mà hình như mẹ cháu giấu cả bố cháu chuyện này thì phải.”
Chiếc xe tải lao đi làm bắn tung đá cuội ven đường. Từ cửa sổ xe có thể thấy rõ khung cảnh đàn bò cùng thảo nguyên mát mắt. Bầu trời hôm nay trong xanh, cao vút không một gợn mây. Hẳn lúc mẹ đến đây, bầu trời cũng trong xanh như vậy. Ông bảo mẹ cầm ô che nên chắc ánh mặt trời đã chiếu rọi rất gắt. Mẹ đã mang tôi trong bụng và bước đi trên con đường này. Tôi cố nén khóc.
“À mà này, lúc nãy khi đi quanh tìm cháu trong thị trấn, ông có nói dăm ba câu chuyện với một người bạn làm ở đồn cảnh sát. Trên bàn của người ta có tờ giấy này.”
Nói rồi ông rút từ trong túi áo ra một tờ giấy bị vo viên, nhăn nhúm. Có lẽ là do ông đã phải vội vàng thó vào túi. Tôi nhận lấy tờ giấy rồi mở ra thì thấy trong đó có in ảnh của tôi và thằng Debailleul. Hình như họ lấy ảnh chụp tại một sự kiện nào đó ở trường.
“Ảnh truy nã đấy. Hai đứa đang là nghi phạm hàng đầu trong một vụ án giết người. Cảnh sát cả nước đang truy lùng hai đứa...”
“Chó chết thật! Tại sao không phải là tái chứ? Tôi đã bảo là làm tái cơ mà!”
Thằng Debailleul gào ầm lên tại bàn ăn tối. Nó vứt cả dĩa lẫn thìa đang cầm trên tay xuống sàn rồi vơ lấy miếng thịt bò bít-tết đã được cắt đôi, chìa ra trước mặt ông tôi. Miếng thịt chín đều toàn bộ từ ngoài vào trong không đúng ý thích ăn tái của nó.
“Xin lỗi cậu. Thói quen khó bỏ ấy mà. Ở nhà chúng ta có quy định không được ăn thịt tái. Tôn giáo của chúng ta quy định như vậy rồi.” Ông tôi đặt dao và dĩa lên bàn rồi giải thích.
“Cái bọn di dân này! Bò tái cũng cấm à?”
“Đây là quy định quan trọng. Dân tộc chúng ta đã gìn giữ nó suốt từ ngày xưa rồi. Tất cả mọi người đều sống tuân theo quy tắc. Vì vậy mà dù có đi đâu chúng ta cũng không bao giờ quên rằng mình là một thành viên của dân tộc.”
“Tôi chịu, không theo được. Tôi ăn một mình vậy.”
Nói rồi nó cầm miếng bánh mỳ cùng đĩa xúp đứng dậy, bước ra khỏi bếp. Cả phòng nhuốm một màu vàng bởi ánh sáng của chiếc bóng đèn lơ lửng trên trần nhà. Ngoài kia, trời tối đen như mực, đám côn trùng bị thu hút bởi ánh đèn cứ lao đến, đập bồm bộp vào kính cửa sổ.
“Thằng đấy chỉ coi đám di dân chúng ta là loại thấp kém, dưới cả con người thôi.”
“Chắc là thế.”
“Mà ông này, ở nhà bọn cháu có ăn bít-tết tái đấy ạ.”
Hồi bố còn sống, nhà tôi cũng có chút dư dả để ăn bít-tết, mặc dù số lần chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ được mẹ dạy cho những quy định hay quy tắc gì như ông vừa nói cả.
“Bố của cháu đã vứt bỏ tôn giáo của gia đình chúng ta. Cũng giống như thằng bé lúc nãy thôi, nó cho rằng tin vào thần thánh là việc làm của những kẻ yếu đuối.”
“Thế nhưng trước lúc chết bố đã mua cho cháu một cuốn kinh thánh đấy ông.”
Ông tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.
“Cháu chưa kể với ông sao. Đó là cuốn sách có giấu tấm bản đồ đấy ạ.”
Tôi đã kể ngắn gọn cho ông lý do vì sao phải chạy trốn cùng thằng Debailleul nhưng chưa nói gì về chuyện tìm thấy tấm bản đồ cả.
“Bố đã mua cho cháu cuốn kinh thánh khi mua hạt tiêu ở quầy hàng ngoài chợ. Bố còn bảo sau này sẽ cần đến nó. Tấm bản đồ được giấu sau lớp bìa da.”
“Cuốn kinh thánh đó như thế nào vậy?”
“Trên đó có ghi tựa đề là ‘Sáng thế ký’ của ‘Kinh cựu ước’ ạ.”
Ông nhắm mắt lại, gương mặt đăm chiêu như thể đang nhìn sâu vào trong tâm hồn mình.
“Cái thằng này. Phải chăng trước khi chết nó đã thay đổi suy nghĩ sao!?”
Sau đó, ông tôi có vẻ vui hẳn ra. Khuôn mặt vốn lạnh lùng như tảng đá lúc trước giờ đã mềm dịu hơn. Ông hỏi tôi rất nhiều. Nào là bố mẹ tôi sinh sống thế nào ở thành thị, nào là tôi chơi những trò gì ở trường. Tôi cũng hỏi về cuộc sống của ông, rằng ông có thấy mất tự do khi phải sống cách xa thành phố không, ông có cảm thấy bị phân biệt khi mình là một người di dân không. Trong số những câu chuyện ông kể thì chuyện về bà nội tôi là thú vị nhất. Nghe nói bà tôi là một người rất hiền dịu. Bà rất hay hát ru cho bố tôi nghe vì hồi nhỏ, bố không thể ngủ được nếu thiếu nó. Thì ra, người như bố cũng có những khoảnh khắc như vậy. Nghĩ đến tôi lại thấy buồn cười.
“Hồi đó nhà ta sống ở nước bên cạnh. Tại một thị trấn nhỏ. Khi chuyển đến thị trấn này thì bố cháu vừa vặn trạc tuổi cháu bây giờ.”
“Thế chỗ mọi người ở ngày xưa cũng rộng như thế này hả ông?”
“Đó là một hẻm núi rất trù phú. Nhưng giờ thì không còn nữa rồi. Vì chiến tranh, quê hương đã bị đốt thành tro bụi. Trước đó, bọn ta đã vượt biên và chạy đến thị trấn này. Trên đường đi, bọn ta phải băng ngang qua một khu chiến trường. Do hít phải tro đen mà họng của bà cháu đã tổn thương nặng nề, không thể hát ru được nữa. Lúc đó bố cháu luôn bị thiếu ngủ. Năm năm sau khi chuyển đến sống ở ngôi nhà này thì bà cháu mất.”
Một con bọ từ trong bóng đêm bay tới, đập bộp vào kính cửa sổ.
“Những bài hát ru của bà, nó như thế nào ạ?”
“Đó là những bài hát được lưu truyền từ ngày xưa ở quê mình. Cứ nghe đến là ta lại cảm thấy xao xuyến. Nhưng giờ ta cũng không còn nhớ được ca từ của nó ra sao nữa rồi...”
Ông tỏ vẻ tiếc nuối. Dùng bữa xong thì cơn buồn ngủ ập tới. Mặc dù rất băn khoăn, lo lắng cho tình trạng của thằng Debailleul nhưng tôi vẫn phải trở về phòng rồi nằm vật ra giường luôn. Mấy ngày này tôi ngủ lại ở căn phòng của bố tôi trước kia. Tôi vẫn không thể quên được cảm giác là lạ khi lần đầu bước vào căn phòng này ba hôm trước.
Đồ đạc trong phòng phủ đầy bụi, mọi thứ được giữ nguyên như hồi bố tôi còn sử dụng. Hình như từ hồi còn trẻ bố đã có thói quen nhặt nhạnh, gom góp những món đồ kỳ lạ ngoài vệ đường. Trong phòng chứa rất nhiều thứ, cái móng ngựa, mẩu sắt không rõ công dụng, bó dây kim loại, rồi cả con búp bê làm quà lưu niệm... Trong ngăn kéo bàn là một đống thư từ. Có vẻ như bố tôi đã có thời gian trao đổi thư với ai đó. Trên giá sách bày một loạt sách văn học. Xem ra trước khi lên thành phố, bố tôi đã từng là một người yêu sách. Tôi nằm xuống giường, ngẩng mặt nhìn lên trần nhà. Bố tôi đã sống trong căn phòng này đến năm hai mươi tuổi, đã nằm ngủ trên chiếc giường này suốt cho đến vài năm trước khi tôi ra đời. Bố đã xách vali, bước lên tàu, chuyển đến sống ở một thị trấn khác rồi gặp mẹ tôi ở đó.
Tôi lục lọi cặp sách rồi lấy cuốn kinh thánh ra. Nằm trên giường lật giở từng trang sách nhưng tôi không có tâm trạng để đọc những dòng chữ tí tẹo kia. Đột nhiên, tôi có một cảm giác cực kỳ dễ chịu và đặt cuốn kinh thánh nằm gọn gàng dưới gối.
Tôi mơ. Ở vùng quê tro tàn nơi biên giới ấy, một người phụ nữ đang thì thầm hát bên tai một cậu bé đang nằm trên giường, những bài hát ru được lưu truyền khắp vùng đất đó.
Giọng hát thật nhẹ nhàng, êm ái. Cậu bé đang chìm trong giấc ngủ nồng say, tiếng thở đều đều, gương mặt yên bình.
Giọng hát ấy vang vọng khắp cả vùng đất chìm ngập trong khói, bay vút lên tận trời xanh.
Sáng hôm sau, tôi giật mình tỉnh dậy bởi tiếng hét của một cô gái trẻ.
“Cứu tôi với!”
Tôi ngồi chồm dậy, lờ đờ nhìn xung quanh. Ban đầu tôi còn nghĩ chắc là do tưởng tượng nên đã vùi đầu vào gối định ngủ tiếp.
“Ai đó đến mau! Cứu tôi với!”
Giờ thì rõ ràng là có tiếng ai đó rồi. Tôi lao xuống giường, chạy ra khỏi phòng và gặp ông tôi cũng đang hớt hải chạy xuống trong bộ dạng vừa ngủ dậy ở hành lang.
“Tiếng hét vừa rồi, ông có nghe thấy không?”
“Từ bên ngoài.”
Dứt lời, ông liền lao ra khỏi thềm nhà. Ra đến vườn, ánh nắng buổi sớm chiếu thẳng vào mặt tôi. Từ trong lán có tiếng cái hộp gỗ hay cái gì đó đổ xuống. Tôi và ông nhìn nhau rồi cùng đi về hướng cái lán. Vừa mở cửa ra thì thấy trước mặt là thằng Debailleul và một cô bé.
“Musee!”
Ông tôi nhìn cô bé rồi hét lên. Đó là cô bé đã chọi đá với tôi ở thị trấn hôm qua. Thằng Debailleul đang bẻ quặt hai tay cô bé ra đằng sau.
“Con này cứ quẩn quanh dò xét căn nhà từ nãy đến giờ.”
Debailleul nói với giọng rất bực mình. Cô bé tên Musee thì liên tục vùng vẫy hòng tìm cách thoát thân.
“Tôi đọc trên báo rồi nha! Mấy người là tội phạm giết người đang trốn chạy đây mà! Tôi đã thấy bức ảnh truy nã rồi!”
“Musee, không phải đâu, cháu hiểu nhầm rồi...” Ông tôi bối rối phân bua.
“Không, không có nhầm nhọt gì hết. Chính xác 100%.”
Trong lúc vùng vẫy, nắm đấm của Musee đã đập vào vai trái của Debailleul khiến nó nhăn nhó thả cô bé ra.
“Thôi, đen rồi...” Debailleul ôm vai lẩm bẩm.
“Những kẻ làm điều xấu chắc chắn sẽ gặp quả báo thôi. Vì Royce sẽ lập tức đến xử lý cho mà coi.”
“Tao nói mày ấy. Mày đen rồi con ạ.”
Debailleul thò tay vớ lấy cái liềm cắt cỏ từ trong đống nông cụ treo trên tường. Musee vừa quay lại thì Debailleul đã hét lên “Cho mày chết này!” rồi vung cái liềm lên. Musee không kêu tiếng nào. Vì quá đột ngột nên nó không biết chuyện gì đang diễn ra. Máu bắn tung tóe trên khuôn mặt ngây dại, đờ đẫn của nó.
“Tránh ra! Cái lão già mắc dịch này!” Debailleul lườm ông tôi.
Cái liềm hái cỏ được vung lên nhắm vào Musee nhưng lại đang cắm vào cánh tay trái của ông tôi. Debailleul lập tức rút ngay cái liềm ra. Máu cứ thể lộp độp chảy xuống dưới chân Musee. Tay ông tôi chảy máu rất nhiều. Ông tôi quay ra lườm lại thằng Debailleul. Musee thì hét lên một tiếng thất thanh rồi chạy ra khỏi lán.
“Nhóc con! Đuổi theo mau!” Debailleul gào lên.
Trong phút chốc, tôi lập tức co cẳng chạy nhưng đến cửa lán thì định thần hồi tỉnh và dừng lại.
“Sao vậy nhóc? Đuổi theo nhanh lên!”
Debailleul hét lên trong lúc ánh mắt vẫn lườm ông tôi không rời. Tôi lắc đầu.
“Mày bảo tao bịt miệng đứa nhỏ đó ư?”
“Đuổi theo gô cổ nó lại. Quá đơn giản!”
“Thật xuẩn ngốc!”
“Không sao đâu. Đó là lựa chọn đúng đắn.”
Ông nội nhìn tôi, gật đầu, tay ôm chặt cánh tay bị thương.
“Một lũ ngu! Chúng mày làm từ thạch hay sao vậy hả!?”
Debailleul ném cái liềm đi.
“Chắc chắn thông tin sẽ được lan truyền ngay. Tao phải rời khỏi đây. Tao sẽ mang theo tấm bản đồ.”
Nói rồi nó lập tức leo cầu thang lên tầng trên sửa soạn đồ đạc. Nó quăng quật đồ đạc rầm rầm khiến bụi từ trên trần nhà bay tứ tung. Vết cắt trên tay ông rất sâu, có khi sâu đến tận xương. Debailleul rõ ràng đã vung tay chém thật. Nếu ông tôi không xông ra đỡ hộ thì con bé có lẽ đã xong đời rồi.
“Ông có sao không ạ? Để cháu gọi bác sĩ.”
“Cháu định thế nào? Đi cùng nó ư?”
“Nó là một thằng tồi. Nhưng chắc cháu sẽ đi cùng nó.”
Ông tôi cau mặt khiến các nếp nhăn như hằn sâu thêm. Một vẻ mặt thật khổ sở.
“Đáng lý ra ta nên giao nộp các cháu cho cảnh sát. Nhưng lòng ta đã quyết sẽ giúp cháu. Cho dù tất cả có là giả dối đi chăng nữa.”
“Vì cháu là con trai của bố ư?”
Ông không trả lời, chỉ nhìn chằm chằm vào tôi rồi nói:
“Cháu đã không đuổi theo cái Musee. Cháu có thể tự hào về điều đó.”
Trở về gian nhà chính, ông gọi điện cho người bạn bác sĩ của mình. Đó cũng là người đã xử lý vết thương vai cho thằng Debailleul. Người này mở một phòng khám trong thị trấn và hình như là bạn nhậu thân thiết của ông. Trong lúc ông đang gọi điện thì tôi tìm mấy sợi dây rồi quấn quanh cánh tay ông để cầm máu.
“Cháu yên tâm. Chỉ mười phút nữa là có người đến thôi.”
Ông đặt máy xuống rồi nói. Đúng lúc này, thằng Debailleul mở cửa bước vào.
“Tôi sẽ lấy cái xe. Chìa khóa đâu?”
Chưa dứt lời, nó đã tự tiện mở cửa tủ, lấy bánh mỳ rồi đồ hộp ra nhét hết vào cái túi đay đang cầm trên tay.
“Mày biết lái xe không?” Tôi hỏi.
“Trông cũng chả khác xe đạp mấy.” Nó thản nhiên đáp.
Thấy chìa khóa xe để trên bàn, nó liền khua tay chộp lấy. Nó quay lại nhìn gương mặt khắc khổ của ông tôi rồi nói một câu không thể tin nổi.
“Vết thương của lão có đau không? Chắc là đau lắm. Vốn tôi định chém bay đầu cái con nhãi ranh ấy đấy. Lão lại đi giơ tay ra chịu phát chém đó, thực sự, lão cũng được lắm đấy.”
Nói xong nó liền đi ra khỏi phòng. Cả tôi lẫn ông nội đều sửng sốt, đứng chôn chân dán mắt vào cánh cửa nó vừa mở ra.
“Nó mà cũng biết khen ngợi ai đấy à!”
“Thằng này khó hiểu thật!”
Ông tôi lắc đầu. Trong lúc cả hai còn đang đứng đờ ra thì có tiếng gào lớn của thằng Debailleul.
“Thằng đần chậm chạp kia! Chuẩn bị xong chưa? Có đi không thì bảo!”
Tôi quay về phòng, vơ lấy cái cặp rồi chạy ngay ra ngoài. Vội quá nên tôi đã không có thời gian để kiểm tra xem bên trong có gì.
Bọn tôi xuất phát rời khỏi nhà của ông nội tôi trên chiếc xe do Debailleul cầm lái. Trên trời, từng đám mây đen kéo đến từ lúc nào không hay. Thế nhưng, rốt cuộc, bọn tôi đã buộc phải trở lại nơi đây ngay trong ngày.