“Anh đã định tìm hiểu xem em là đứa trẻ như thế nào.”
“Thì ra vì vậy mà anh mới ngồi ở trên phố ngay trước trường em.”
Chờ cho đoàn tàu chạy qua, chúng tôi mới băng qua đường. Ánh chiều tà thấp thoáng ẩn hiện phía khoảng trống giữa các dãy nhà. Đây là thời điểm những công nhân vừa tan ca ở nhà máy đang kéo lê cái bóng dài thượt của mình bước đi trên đường phố.
Royce vừa lấy tay rẽ tóc mai vừa bước đi. Mái tóc rối bời dài đến mức che hết cả tầm mắt. Nhưng đó không phải là tóc thật của anh ấy. Trước khi bước ra ngoài, anh đã lấy ra một bộ tóc giả khác và đội lên đầu. Anh bảo nếu không làm thế thì không thể nào thoải mái bước đi trên đường phố được. Ở đất nước này, không ai là không biết mặt anh ấy. Trên người anh, từ chiếc áo khoác cho đến cái quần dài, đâu đâu cũng lỉnh kỉnh những dụng cụ vẽ tranh. Anh đang cải trang thành một cậu sinh viên nghèo đang theo đuổi con đường làm họa sĩ.
“Anh Royce này, giờ anh có đến nhà em thì em cũng không có gì để thết đãi anh được đâu.”
Anh vội lấy ngón tay trỏ đặt lên miệng.
“Suỵt! Không được dùng cái tên đó. Ở đây tai vách mạch dừng lắm. Anh bây giờ là Goncharoff, một sinh viên nghệ thuật rất giỏi dòng tranh màu nước.”
“Anh Goncharoff này, chú Browny không cần đi cùng sao ạ?”
“Chú ấy có việc khác phải làm rồi.”
Browny là thư ký của văn phòng thám tử Royce. Thấy bảo hai người họ luôn hành động cùng nhau. Trong khi Royce có dáng người thanh mảnh thì Browny lại tròn trùng trục như quả bóng.
“Thật không thể tin được là em lại đang sánh bước cùng anh như thế này.”
“Đời là vậy đấy. Luôn có những chuyện không ngờ xảy ra.”
Thật khó tin là anh ấy lại lặn lội từ tận thủ đô xa xôi để đến thị trấn nơi biên cương hẻo lánh này. Ở cái thị trấn Michelle này chẳng có gì khác ngoài một cái nhà máy và một khu chợ, nơi dễ dàng bắt gặp tiếng thở dài của những con người nghèo khổ và những con mèo hoang đang lục bới tìm kiếm cơm thừa canh cặn. Ai có thể tưởng tượng được nổi là thám tử lừng danh Royce đang rảo bước tại đây cơ chứ.
Về tới căn hộ nhà mình, tôi mở cửa. Mẹ đang đi ra ngoài. Có lẽ mẹ đi làm công việc bồi bàn. Trong phòng ăn có căng một sợi dây thừng với mấy cái áo sơ-mi của tôi và ít đồ lót của mẹ đang phơi trên đó. Nhìn thấy thế, Royce tỏ vẻ ngạc nhiên.
“Rất sáng tạo đấy chứ!”
“Anh Goncharoff, phòng của em ở phía này.”
Tôi lôi cuốn kinh thánh ra từ trong góc tủ quần áo. Đó là cuốn sách với tấm bìa da cũ kỹ mà bố đã mua cho tôi. Tôi rút tấm bản đồ được kẹp trong đó ra và đưa cho Royce.
“Đây có phải là thứ được viết trong thư…?” Anh ấy thận trọng mở tấm bản đồ ra, ánh mắt rực sáng. Anh chỉ vào dấu hiệu trên bản đồ và nói. “Đúng rồi. Đây chính là hình vẽ được khắc trên đồng xu.” Anh tiếp tục lật tấm bản đồ lại và bắt đầu xem xét hình vẽ cái cối xay gió. Tôi đứng bên cạnh chăm chú quan sát và hy vọng là anh ấy sẽ lấy chiếc kính lúp ra. Ai cũng biết mỗi khi tìm hiểu, điều tra gì đó, anh ấy đều sử dụng kính lúp. Thế nhưng lần này mãi mà không thấy anh ấy dùng đến nó.
Tôi bước ra khỏi phòng, bụng bảo dạ để không làm phiền Royce. Khi tôi đang đun ấm nước sôi để chuẩn bị pha trà thì mẹ về.
“Có ai đến chơi hả con?”
Mẹ vừa cởi áo khoác vừa nghiêng đầu hỏi. Vì mẹ thấy tôi đang chuẩn bị mấy tách trà chuyên dùng để tiếp khách.
“Dạ vâng, có khách đến chơi ạ.”
“Ai vậy con?”
Trong lúc tôi còn đang ấm ớ không biết giải thích ra sao thì Royce bước ra và đứng ở ngay chỗ cửa ra vào phòng.
“Dạ, chào chị ạ!” Anh vừa gãi đầu vừa cất tiếng chào.
Mẹ tôi nhún vai giật mình. Lúc này tôi mới giới thiệu.
“Đây là anh Goncharoff, sinh viên theo ngành hội họa mẹ ạ.”
“Dạ vâng. Tôi theo chuyên ngành tranh sơn dầu ạ.”
“Ơ, anh Goncharoff, lúc nãy anh bảo là anh giỏi về tranh màu nước cơ mà?”
“Đó là chuyện ngày xưa rồi.” Anh vẫy tay gọi tôi lại gần rồi thì thầm để chỉ mình tôi nghe thấy. “Mẹ em xinh thế nhỉ!”
“Ôi, tôi xin lỗi, tôi sơ ý quá!”
Mẹ tôi đỏ mặt vội vã vơ đống quần áo đang phơi trên dây cất đi.
Dù vị khách đặc biệt hôm nay có không cải trang đi nữa thì có lẽ cũng chẳng ai dám nghĩ Royce, vị thám tử lừng lẫy bậc nhất hiện nay lại đang có mặt ở ngôi nhà của mình.
“Dạ, người này là bạn con ạ.”
“Vâng, thỉnh thoảng tôi có dạy em nó một chút về hội họa.”
Cậu sinh viên nghệ thuật kéo tôi lại gần. Tôi cũng vòng tay ôm ngang hông anh ấy. Mẹ tôi đứng đó, hai tay ôm đống quần áo, hết nhìn tôi rồi lại nhìn Royce.
Món thịt hầm hôm nay mẹ nấu cũng không khác gì mọi khi, vẫn rất ít nguyên liệu. Trước khi vào bữa, tôi đã rất lo lắng, không biết có hợp khẩu vị của Royce hay không nhưng khi húp được một thìa thì anh ấy lập tức khen “Món này ngon quá!” với ánh mắt long lanh. Niềm hân hoan lộ rõ trên gương mặt của mẹ tôi.
“Hằng ngày cậu Goncharoff thường ăn những món gì?”
“Làm gì có đồ mà ăn hả chị. Sinh viên nghèo lắm. Đi vẽ chân dung kiếm được bao nhiêu tiền thì lại dùng hết để mua đồ vẽ cả. Chỉ có những dịp đặc biệt như sinh nhật thì mới có bữa sáng để ăn thôi ạ.”
Nói xong anh húp sạch bát xúp thịt hầm rồi hà một cái đầy thỏa mãn.
“Không có tiền thì ở đâu cũng như nhau thôi nhỉ!”
Câu chuyện cứ thế diễn ra trong khoảng ba mươi phút. Mẹ tôi hỏi han về cuộc sống sinh viên và Royce thì luôn trả lời rất từ tốn, đầy đủ. Anh còn kể cho chúng tôi về kỹ thuật, bí quyết khi vẽ rồi thế nào là nghệ thuật chân chính... Khả năng diễn xuất trong vai một cậu sinh viên theo ngành hội họa thật hoàn hảo.
Rồi trong câu chuyện anh ấy có hỏi về bố tôi. Tôi giải thích là bố đã mất nửa năm trước vì bạo bệnh. Bình thường thì nhà tôi vẫn hay để ảnh bố ở trên giá đựng bát đĩa nhưng nó đã bị thất lạc. Có lẽ nó rơi và bị che khuất đâu đó giữa đống đồ đạc. Và thay vào đó là giờ đây thám tử Royce đang ngồi trên chiếc ghế mà bố tôi vẫn thường ngồi lúc sinh thời.
Một lúc sau, Royce đứng dậy và nói “Cảm ơn chị vì bữa ăn và cuộc trò chuyện rất vui hôm nay. Tôi xin phép ạ!”.
“Lúc nào rảnh mời cậu lại ghé chơi nhé! À, mà này, cậu chờ một chút!”
Mẹ tôi quay về phòng. Royce nói với tôi sau khi đảm bảo chỉ có hai người chúng tôi với nhau.
“Về bức tranh cối xay gió ấy mà, anh xem kỹ rồi. Nó giống hệt với bức tranh trên tấm thẻ được để lại hiện trường vụ trộm.”
“Nếu vậy thì tấm bản đồ đó là của Godiva sao?”
“Có thể lắm... Lindt này, anh đang định gửi tấm bản đồ về cho mấy nhà khoa học ở thủ đô để nhờ họ tìm hiểu thêm. Thế nhưng giờ mà làm thế thì mẹ em sẽ sinh nghi mất cho nên thôi để lần sau. Anh có rất nhiều điều muốn hỏi em về chuyện làm sao em có được tấm bản đồ này trong tay.”
Mẹ đã quay trở lại, trên tay cầm một thứ gì đó được gói trong giấy.
“Cậu Goncharoff này, cái này, xin cậu nhận cho.” Mẹ nói rồi đưa bọc giấy cho Royce.
“Dạ, đây là gì vậy ạ?”
“Bánh mỳ. Bữa sáng quan trọng lắm đấy!”
Royce ngạc nhiên nhìn mẹ tôi. Chỉ nhìn qua thôi ai cũng biết nhà tôi không có tiền. Một người mẹ đang vật lộn với việc lo từng miếng ăn qua ngày cho gia đình sao lại làm thế chứ. Nhất là khi cậu sinh viên hội họa này thực chất lại là thám tử lừng danh Royce, một người chắc chắc có tiền nhiều gấp hàng trăm lần.
“Nhưng mà, thưa chị, tôi...” Royce khom người ấp úng.
“Có gì đâu. Cậu cứ tập trung học vẽ cho thật tốt vào nhé!”
Royce vẫy tay chào hai mẹ con tôi rồi bước xuống cầu thang.
Sáng hôm sau, tôi thiếu ngủ trầm trọng. Sự hưng phấn vì gặp được Royce khiến tôi không tài nào chợp mắt nổi. Tôi đến trường, bước vào lớp mà ngáp ngắn ngáp dài. Nhìn mấy đứa bạn đang mải mê chơi đùa, tôi thầm nghĩ giờ mà đem chuyện gặp Royce ra kể thì không biết sẽ ầm ĩ thế nào đây. Tất nhiên, tôi không hề có ý định kể với bất kỳ ai cả. Royce đã bảo là muốn giữ bí mật trong một thời gian.
“Thấy bảo thằng Debailleul bị bắt rồi đấy!” Dean chạy đến bắt chuyện với tôi ngay trước khi giờ học bắt đầu. “Đúng là quả báo mà, can tội gây sự hành hung người già.”
“Thằng Debailleul á?”
“Hôm qua nó dùng gậy đánh một nhân viên cảnh sát. Không biết lý do là gì nhưng thấy bảo nó bị truy đuổi dữ lắm.” Deluca cũng nhào đến tham gia vào câu chuyện.
“Vậy thì tạm thời trường mình cũng được yên ổn ít lâu đây. Thằng ôn đấy sẽ phải đi làm nhân viên tại cửa hàng bánh kẹo.” Dean vừa nói vừa tung mấy cú đấm vào không khí.
“Cửa hàng bánh kẹo tức là bán mấy viên kẹo á?”
“Đấy là quy định rồi. Khi trẻ con phạm lỗi gì đó mà bị tóm thì sẽ buộc phải giúp đỡ công việc của người lớn thay vì bị đưa vào nhà giam. Ông anh trai tao đấy thôi. Hồi trước can tội nghịch ngợm, cho cả một con cóc vào túi xách của một người đi đường mà đã bị bắt phải đi rửa bát đĩa tại quán ăn.”
Theo lời giải thích của Dean thì theo quy định ở khu vực Debailleul sinh sống, nó sẽ phải lao động tại “Tiệm bánh kẹo Maxim” trong khoảng một tuần lễ. Thật không tưởng tượng nổi một thằng đầu gấu chuyên đi gây sự như Debailleul mà lại phải đi bán kẹo. Thế nhưng sau khi hết án phạt, nó mà quay trở lại trường thì tôi gặp rắc rối to. Chắc chắn nó vẫn nhớ mặt tôi.
“Mày sao vậy? Trông sắc mặt tối sầm thế.” Dean nhìn thẳng vào mặt tôi nói.
“Tại sao cái thằng ôn đấy cứ hay đi gây sự với mọi người vậy ta?!”
“Chắc là do hận thù thôi. Nó hận vì phải sống cái cuộc sống đói nghèo giống tụi mình. Người ta đồn rằng nhà nó ngày xưa vốn là dòng dõi quý tộc mà. Cái này cũng là tao nghe từ ông anh. Rằng nó là con cháu của một gia tộc cao quý đã sụp đổ nào đó. Nó mà không bố láo thế có khi được khối đứa con gái mê.”
Đến giờ trưa, tôi được Deluca cho cái bánh mỳ ăn qua bữa. Sau khi tiết học cuối cùng của buổi chiều kết thúc, tôi tranh thủ sửa soạn để ra về thật sớm thì đúng lúc đó, Deluca tiến đến hỏi.
“Hôm nay mày không đi giao bánh mỳ à?”
“Tao bận rồi.”
“Bận gì vậy?” Dean cũng tiến lại gần và hỏi.
“Xin lỗi. Tao không nói được.”
“Gì vậy! Nói cho bọn tao đi mà.”
Dean tò mò về thứ tôi định làm. Tôi đành miễn cưỡng chào tạm biệt hai đứa nó rồi vội vã rời khỏi trường. Chiếc ống khói cao ngất của nhà máy vẫn đều đặn nhả ra từng cột khói. Tôi băng qua khu phố Theobroma vắng tanh không một bóng người rồi hướng về phía khách sạn Hotel Neuhaus mà hôm qua chú Browny đã dẫn đến. Bác nhân viên già hôm nay vẫn ngồi ngủ gà ngủ gật trước quầy kiểm soát. Tôi bước vào thang máy, lên tầng năm rồi gõ cửa phòng 502.
“Đi học vui chứ hả?”
Chú Browny vừa lắc lư cái bụng tròn ung ủng như quả bóng của mình vừa mở cửa. Bình thường thì chú ấy ngủ ở phòng 503 nhưng hình như trừ lúc ngủ ra thì lúc nào chú ấy cũng ở trong căn phòng này với Royce. Còn Royce thì đang ngồi trên ghế, hai chân gác lên bàn. Phía dưới hai tay anh ấy lòi ra mấy sợi chỉ màu vàng, nhìn kỹ một lúc tôi mới vỡ lẽ thì ra anh ấy đang đan áo.
“Việc anh thích mấy cái trò đan lát này em đừng nói cho ai biết nhé!”
Royce nói với tôi trong khi đôi tay vẫn thoăn thoắt thao tác cùng với chiếc kim đan. Chưa hề có tờ báo hay tạp chí nào viết về sở thích đặc biệt này của anh.
“Em tưởng chỉ có mấy đứa con gái mới đan lát thôi chứ!”
“Làm gì có luật nào quy định thế. Này, em nhìn đi!” Anh chìa sản phẩm đang làm cho tôi xem. Đó là một chiếc áo len với khuôn mặt một chú gấu rất dễ thương bên trên. “Thế nào?” Royce hỏi, vẻ mặt đầy tự hào.
“Mặt chú gấu hơi lệch thì phải.”
“Hả, phải thế không?”
Royce vội vàng hạ chân xuống rồi nhìn chằm chằm vào cái áo len với vẻ mặt rất khổ sở. Tôi ngồi xuống giường và ngắm nhìn anh ấy. Phải nói là cái dáng vẻ bối rối, lúng túng, vừa gãi đầu vừa ú ớ của anh ấy rất đáng yêu, nhìn mãi không chán.
“Mà này, hôm nay sẽ có một vị khách tới đây đấy.”
Đúng vào lúc Royce vừa cất giọng nói thì có tiếng gõ cửa.
“Đúng là thanh tra có khác. Siêu đúng giờ!”
Chú Browny bước ra mở cửa và ngay lập tức, một người đàn ông có dáng người cao to, vạm vỡ như một bức tượng bước vào phòng. Người này trông lớn tuổi hơn cả Royce và Browny, trên khóe mắt đã xuất hiện một vài nếp nhăn. Ông ta khoác chiếc áo may bằng loại vải có vẻ đắt tiền, trên tay ôm một cái hộp khá to.
“Tôi mang quà đến cho cậu thám tử đây. Loại sô-cô-la cậu thích nhất đấy!”
Ông ta vừa nói vừa chỉ vào cái hộp.
“Ngài thanh tra cũng tinh tế đấy nhỉ!”
Royce đặt chiếc áo len đang đan dở xuống.
“Đây chắc là Lindt, người mà cậu đã nhắc đến trong thư hả. Chào cháu! Ta là Ganache, người quen của Royce và cũng là một cảnh sát.”
Người đàn ông tên Ganache nhìn xuống tôi với ánh mắt như của một ông trùm băng đảng hay xuất hiện trên phim ảnh. Tôi cúi đầu chào mà tim đập thình thịch trong lồng ngực.
“Cháu chào chú Ganache!”
Chú Browny nhận hộp bánh từ tay chú Ganache. Đó là một chiếc bánh kem to bự chảng. Chú Browny ra khỏi phòng rồi một lúc sau quay lại với bốn cái đĩa nhỏ cùng dao và dĩa. Có vẻ như đây là những vật dụng được chuẩn bị sẵn trong chiếc vali của chú ấy ở phòng 503 bên cạnh.
“Chú mang theo cả những thứ này cơ ạ?”
“Toàn là đồ cần thiết cho những chuyến đi đấy nhóc ạ. Luôn phải chuẩn bị sẵn sàng để cắt bánh ở bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào.” Chú Browny thản nhiên trả lời.
Royce ngồi ở ghế, còn tất cả bọn tôi ngồi túm tụm trên giường bởi thân hình quá đỗi to béo của cả chú Browny lẫn thanh tra Ganache.
“Phía thủ đô có gì mới không?” Royce vừa ăn bánh vừa hỏi.
“Yên ắng lắm. Chỉ có đám phóng viên thấy hơi lạ vì cậu đột nhiên biến mất thôi. Cuộc điều tra lần này, cậu cần bao nhiêu người đây?”
“Cháu vẫn chưa biết. Trước mắt chỉ mình cháu là đủ rồi.”
“Thôi nào, thôi nào! Nội trong hôm nay ta còn phải về báo cáo nữa đấy. Thông tin lần này liệu đáng tin được bao nhiêu phần trăm đây?”
Royce quay sang nhìn tôi.
“Xin hãy tin ở cháu!”
“Bộ cậu đã quên mình bị lừa bao lần bởi những thông tin thất thiệt hay sao?”
“Lần này thì khác.”
Hương vị chiếc bánh kem thanh tra Ganache mang đến thật tuyệt vời. Tôi chưa bao giờ được ăn cái bánh nào ngon đến như thế trong đời. Ăn xong một miếng, tôi lại được chú Browny cắt thêm cho một miếng khác nữa. Royce thì ngồi đó, tay ôm lấy một bên đầu gối, mắt dán vào không trung bắt đầu trầm ngâm suy nghĩ gì đó, chẳng nói chẳng rằng, ai hỏi cũng không trả lời. Nghe nói đây là bộ dạng thường thấy của anh mỗi khi suy nghĩ. Dường như đã quá quen với khung cảnh này, kệ cho Royce ngồi đó, thanh tra Ganache và chú Browny bắt đầu trò chuyện gì đó với nhau.
“Cháu xin phép hỏi một chút ạ.” Tôi bắt chuyện với thanh tra Ganache. “Hôm qua, cũng ở căn phòng này, cháu đã được cho xem tấm thẻ mà tên siêu trộm đã để lại ở hiện trường vụ án. Trên đó cháu thấy có ghi số thứ tự là ‘Số 21’ nhưng nếu cháu nhớ không nhầm thì theo công bố chính thức của cảnh sát, tên trộm này đến giờ mới chỉ thực hiện có hai mươi vụ trộm mà thôi. Tại sao lại có tấm thẻ ghi số 21 vậy ạ?”
“Này, những gì cháu vừa nói là một trong những thông tin tuyệt mật đấy. Cháu phải hết sức cẩn thận. Nhưng mà thôi, không sao. Đến nước này rồi để ta giải thích cho mà nghe.” Thanh tra Ganache nói với vẻ mặt đầy trầm ngâm. “Chính cảnh sát bọn ta cũng đang mất ăn mất ngủ vì sự nhầm lẫn này. Nhưng có vẻ bọn ta đã bỏ sót một vụ nào đó của tên trộm này.”
“Bỏ sót?”
“Tấm thẻ trong vụ trộm ‘Đồng xu anh hùng’ là số 19, trong khi trên tấm thẻ tại hiện trường vụ trộm ‘Đôi giày bạc trắng’ lại đánh số 21. Như vậy là có thể còn có một vụ trộm khác chưa được phát hiện. Bọn ta cũng đang điều tra về vụ này.” Thanh tra Ganache nháy mắt ra hiệu rằng không được hé răng nửa lời về vụ này. “Đến lượt ta hỏi đây. Về vụ tấm bản đồ, tất cả những gì cháu viết trong thư là thật chứ hả?”
“Dạ, nó được cất giấu trong cuốn kinh thánh mà bố đã mua cho cháu.”
“Nếu như tấm bản đồ đó là của Godiva thì chắc chắn sẽ có gì đó ở vị trí được đánh dấu.” Một tia sáng hy vọng lóe lên trong ánh mắt của chú Browny.
“Nào, giờ em hãy kể lại thật chi tiết những gì đã xảy ra hôm mua cuốn sách này đi.” Royce nói. Tất cả bọn tôi đều quay lại nhìn anh ấy.
Thế là tôi thuật lại hết mọi thứ về cái ngày tôi cùng bố ra phố đi dạo, việc mua cuốn kinh thánh cùng chỗ bán hạt tiêu ở một quầy hàng ngoài chợ, câu chuyện về người chủ cũ của cuốn kinh thánh mà ông chủ quầy đã kể cho.
“Người chủ cuốn sách đã cứu mạng sống của một em bé trong vụ hỏa hoạn nhà thờ sao!” Royce đứng bật dậy rồi bắt đầu đi lại quanh phòng. “Nếu tấm bản đồ là do chính tay tên trộm vẽ thì câu chuyện đó là minh chứng rõ nét giúp ta dần hình dung ra được chân tướng của hắn.” Royce vừa nói vừa lôi từ trong ngăn kéo ra một cái phong bì và một tờ giấy viết thư. Nhìn kỹ mới thấy đó chính là bức thư tôi viết gửi cho anh ấy. “Trong thư em có viết ‘mặt sau bản đồ có vẽ hình chiếc cối xay gió’. Đọc đến đây bọn anh tin chắc ngay, rằng đây không phải là thông tin thất thiệt.”
“Bởi lẽ hình vẽ cối xay gió cho đến giờ vẫn là một bí mật chưa được công bố ra ngoài. Chỉ có cảnh sát và một vài phóng viên biết được mà thôi.” Chú Browny bổ sung.
Cũng trong câu chuyện này tôi được biết tất cả hình cối xay gió trong các tấm thẻ đều được vẽ bằng tay. Phía cảnh sát đã tiến hành điều tra rất nhiều về bức hình này. Có ý kiến cho rằng bức hình là sản phẩm bắt chước những bức tranh nổi tiếng và họ đã tìm hiểu xem có họa phẩm nào tương tự hay không. Họ còn mời cả những họa sĩ có nét vẽ tương đồng đến thẩm vấn rất lâu. Thậm chí còn xin ý kiến các chuyên gia thực vật xem các chi tiết cây cối ở phần nền bức vẽ là loài thực vật được trồng ở địa phương nào. Tuy nhiên, kết quả không như mong muốn, không ai biết gì về chiếc cối xay gió này cả.
“Thực ra chuyện về bức hình là em nghe được từ anh bạn Marcolini của mình. Anh ấy đang là phóng viên học việc ở tòa soạn báo. Ngay khi nghe anh ấy nói về bức hình là em đã nghĩ ngay liệu có khả năng nào tấm bản đồ là thật hay không.” Tôi giải thích.
“Như vậy là cháu đã biết chuyện trước khi viết thư ư? Có vẻ như hơi ngược thì phải!?” Thanh tra Ganache tỏ vẻ cau có.
Royce ngồi xuống ghế trầm ngâm suy nghĩ gì đó. Tôi lấy dĩa chọc một miếng bánh cho vào miệng.
“Ngày mai em hãy thu xếp đến gặp anh bạn Marcolini giúp anh được không? Anh muốn em hỏi anh ấy xem, ngoài bọn em ra thì còn có ai biết về chuyện hình vẽ cối xay gió hay không.” Royce nói với tôi.
“Anh sẽ mắng anh Marcolini sao?”
“Không, không có mắng mỏ gì cả. Anh chỉ muốn biết là thông tin hiện đã bị lộ đến mức độ nào thôi. Gặp Marcolini xong, em hãy cầm theo tấm bản đồ đến thư viện nhé. Nếu sợ đi một mình thì để anh bảo chú Browny đi cùng em.”
“Rồi, thế là cuộc điều tra đã bắt đầu!”