Súng và Sô Cô La

Lượt đọc: 560 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2. CÁI BÓNG KHẢ NGHI

“Chuyện đó là thật đấy! Này, chú không tin anh sao?”

Marcolini vừa dứt lời thì mẹ anh ấy mở cửa phòng bước vào cùng với chiếc ấm và mấy tách trà trên tay.

“Cháu chào bác ạ!” Tôi cất tiếng chào mẹ anh Marcolini.

“Mấy đứa lại tranh cãi mấy cái chuyện thám tử và đạo chích đấy hả!?”

“Dạ, anh Marcolini chỉ dạy cho cháu nhiều thứ lắm ạ!”

Tôi nhận lấy một tách trà rồi đưa lên miệng uống một hớp. Đợi cho mẹ bước ra khỏi phòng rồi, anh Marcolini mới nói tiếp:

“Vụ bức tranh vẽ cối xay gió là anh nghe từ một ông anh trong phòng kể lại. Nôm na là nó được vẽ trên tấm thẻ mà tên trộm để lại hiện trường.”

Vừa nói anh vừa lật giở mấy trang trong cuốn sổ ghi chú về hàng loạt bài báo, hình ảnh liên quan đến hai chục vụ án của siêu trộm Godiva.

“Này, anh kể thêm cho em về chuyện đó đi!”

“Chú bận tâm thế sao?”

“Thì anh bảo làm gì có đứa trẻ nào lại không hứng thú với mấy chuyện về Royce và Godiva cơ chứ.”

Anh Marcolini thở dài một cái rồi tiếp.

“Chú phải hứa là không nói chuyện này với ai đấy nhé!”

“Tất nhiên rồi ạ.”

“Tuyệt đối không được kể cho đứa nào đâu. Anh cũng chỉ kể cho mỗi chú mày thôi đấy.”

“Anh chưa nói với ai khác ngoài em sao? Có thật không ạ?”

“Thật chứ sao không. Mà này, đổi đề tài khác đi.”

Sau một hồi trò chuyện về trường lớp, bạn bè, anh Marcolini đứng dậy thay quần áo, thắt cà-vạt. Hình như sau đây anh ấy phải đến tòa soạn làm việc cả đêm thì phải. Tôi cảm ơn rồi rời khỏi nhà anh ấy.

Ngoài trời, từng cơn gió lạnh thổi tới tấp khiến cho hai má tôi co lại. Vượt qua con đường rải đá, tôi trở về căn hộ của mình. Mẹ vẫn chưa đi làm về. Tôi lấy cuốn kinh thánh từ trong tủ rồi rút tấm bản đồ kẹp trong đó ra. Tấm bản đồ quan trọng đã kết nối tôi và Royce. Nếu đây thực sự là tấm bản đồ do siêu trộm Godiva vẽ thì chắc chắn tôi sẽ nhận được tiền thưởng. Với số tiền này, đương nhiên tôi sẽ đưa cho mẹ làm quà rồi. Biết đâu mẹ sẽ không còn cần phải đi làm chạy bàn mỗi tối cuối tuần nữa. Tôi hướng về phía thư viện.

“Anh Goncharoff này, tình hình điều tra đến đâu rồi? Có tiến triển gì không ạ?”

Thư viện là một tòa nhà cổ kính gợi nhớ đến một di tích khổng lồ. Trong không gian rộng lớn, hàng loạt những giá sách xếp hàng dài cùng với những dãy bàn được kê sẵn dành cho độc giả. Dưới bộ dạng của một sinh viên nghệ thuật, Royce đang mở một cuốn sách dày cộp ghi ghi chép chép gì đó ở một chiếc bàn trong góc nhà. Đám tóc mái dài rủ xuống che hết cả mặt nhưng tôi vẫn kịp nhận ra anh ấy bởi chiếc áo khoác quen thuộc với đống đồ nghề vẽ vời lủng lẳng khắp nơi.

“Anh bạn Marcolini đã nói gì?” Royce vừa nói vừa kéo chiếc ghế bên cạnh, bảo tôi ngồi xuống.

Tôi ngồi xuống và bắt đầu thuật lại nội dung cuộc trò chuyện với anh Marcolini.

“Như vậy là anh ta chưa nói gì với ai cả... Thì ra là thế...”

“Anh đang làm gì vậy ạ?” Tôi nhìn vào phía tay Royce hỏi.

“Anh đang tìm hiểu về những vụ hỏa hoạn xảy ra trong vài năm trở lại đây. Anh muốn biết là vụ cháy nhà thờ đó đã xảy ra ở địa phương nào.”

Royce cầm cuốn sách lên và cho tôi xem tờ bìa. Trên đó có ghi tựa đề “Sự cố hỏa hoạn – Chủng loại và Thống kê”.

“Thế chú Browny đâu ạ?”

“Cũng giống anh thôi, chú ấy đang chạy quanh hỏi han mấy người liên quan đến nhà thờ về vụ cháy.” Royce ngồi đó, duỗi lưng. “Xác suất tấm bản đồ đó do Godiva vẽ là rất cao. Nếu câu chuyện của ông chủ quầy hàng kể là thật thì chúng ta phải biết được tên tuổi, mặt mũi của chàng thanh niên đã cứu sống đứa bé. À mà này, em đi cùng bạn đến đây phải không?”

“Dạ không. Em đi một mình.”

“Kỳ thật! Anh lại có cảm giác là có đứa trẻ nào đó bước vào thư viện ngay sau em.”

Anh ấy nghiêng đầu nhìn quanh nhưng không có đứa trẻ nào như thế cả.

“Có thể anh nhìn nhầm chăng?”

“Chắc vậy. Em có mang theo tấm bản đồ không?”

Tôi rút tấm bản đồ từ trong túi áo khoác ra. Royce thốt lên đầy ngạc nhiên.

“Em bất cẩn quá! Cái này mà rơi một cái thì sao em biết không?”

“Em xin lỗi anh Goncharoff.”

Royce cầm tấm bản đồ rồi giở ra. Cả hai chúng tôi cùng yên lặng nhìn vào tấm bản đồ.

“Để anh chụp ảnh lại rồi gửi về thủ đô. Nhiều người cùng tham gia tìm có khi sẽ biết được đây là khu vực nào. Chắc chắn sẽ tốn công tốn sức lắm đây. Vì trên này cũng không ghi phương hướng nên không có gì đảm bảo là nó ở quốc gia này. Thế nhưng, cũng đáng để thử lắm.”

“Biết đâu những bảo vật bị lấy cắp đang được cất giấu ở đây cũng nên...” Tôi vừa nói vừa chỉ tay vào ký hiệu có hoa văn giống với đồng xu bị trộm trên bản đồ.

“Vẫn còn hơi sớm để kết luận.”

Chợt có tiếng cọt kẹt gì đó ở giá sách phía sau chúng tôi. Tiếp đó là tiếng chân trần của ai đó chạy vụt ra ngoài. Tôi và Royce nhìn nhau. Royce vớ lấy tấm bản đồ đứng bật dậy, nhòm vào phía sau giá sách. Tôi bám sát theo sau. Không có ai ở đó cả. Royce gấp tấm bản đồ lại, cho vào trong túi áo rồi đi vòng xung quanh hòng tìm bóng dáng kẻ khả nghi. Tuy nhiên, trong thư viện không có ai khác ngoài một vài người đang đọc sách.

“Từ giờ phải cảnh giác hơn mới được.” Royce vừa nói vừa đặt tay lên túi áo.

Tôi quyết định giao tấm bản đồ cho Royce cất giữ, như thế sẽ yên tâm hơn.

“Em cứ tiếp tục sinh hoạt bình thường như chưa có chuyện gì xảy ra nhé. Nếu có thông tin gì mới, cậu sinh viên nghệ thuật sẽ tìm đến nhà em.”

Chào tạm biệt Royce, tôi rời khỏi thư viện. Cột khói bốc lên từ nhà máy kéo thành một vệt dài trên bầu trời hoàng hôn. Tôi về nhà, cùng mẹ ăn tối rồi lên giường. Khí lạnh luồn qua tấm chăn mỏng tanh, thấm sâu vào da thịt. Tôi cuộn mình lại, nhắm mắt định ngủ thì đầu óc lại nhớ về chuyện ở thư viện. Làm gì có chuyện cái giá sách tự dưng cọt kẹt phát ra tiếng động được chứ. Hẳn là phải có ai ở đó, đứng dựa vào giá sách, dỏng tai nghe trộm cuộc nói chuyện của chúng tôi. Và chắc chắn kẻ đó đã nghe hết mọi thứ, kể cả câu nói “Biết đâu những bảo vật bị lấy cắp đang được cất giấu ở đây cũng nên...” của tôi.

“Này, sao hôm qua cậu không tới vậy hả?”

Vừa đến trường thì cậu bạn Hefti cùng lớp liền chạy tới hỏi. Cậu ấy vừa cao ráo lại vừa giỏi thể dục thể thao nên gần như là thủ lĩnh trong lớp chúng tôi.

“Cậu mà tới thì đội mình đã có cơ hội thắng rồi. Tại thiếu cậu nên bọn mình phải chơi với mười người thôi đấy.” Vừa nói, Hefti vừa đập vào vai tôi một cái. Mới sáng sớm nên trong lớp chỉ có vài người.

“Tớ bận chút việc ấy mà.”

Chả là mấy thằng con trai lớp tôi bảo nhau lập đội bóng đá, định kỳ thi đấu mỗi tuần một lần vào buổi chiều tối. Tôi thuộc đội Hefti nhưng hôm qua tôi lại quên béng mất là có lịch thi đấu, tan học cái là tôi chạy thẳng đến nhà anh Marcolini luôn. Thế nên Hefti có giận thì cũng dễ hiểu. Đối với chúng tôi, thua trận đấu đó cũng đồng nghĩa với việc cắt đứt mạch thắng liên tiếp của cả đội.

“Thôi, bỏ qua đi!”

Mấy thành viên khác trong đội đã đến. Đó là những đồng đội vẫn hay luyện chuyền bóng với tôi. Mấy đứa vỗ vai Hefti cố gắng an ủi, xoa dịu. Hefti hừ một cái rõ to rồi quay lưng bước đi. Tưởng như mọi chuyện đã lắng xuống thì tôi lại nghe thấy nó lẩm bẩm.

“Đúng là không nên cho cái loại di dân vào đội.”

“Cậu nói gì cơ?” Tôi lớn tiếng hỏi khiến cả bọn dừng chân, quay lại nhìn.

“Tớ đùa thôi mà. Tuần sau nhớ ra sân nhé!” Hefti nhún vai nói.

Tôi quay về bàn được một lúc thì Dean và Deluca tới.

“Hôm qua tiếc quá. Bị thua ngược mới đau chứ.” Dean nói với tôi với giọng đầy tiếc nuối.

“Xin lỗi nhé. Lúc nãy Hefti có nói tao biết rồi.”

“Không sao đâu.” Dean cười và vỗ vai tôi.

“Mà sao hôm qua mày không tới vậy?” Deluca hỏi.

Tôi lúng túng, không nói nên lời. Cho dù có không quên lịch đấu thì có lẽ tôi vẫn cứ qua chỗ anh Marcolini hỏi chuyện rồi đến thư viện gặp Royce thôi.

“Dạo này mày lạ lắm nha. Có gì giấu bọn tao phải không?” Deluca nói.

“Rõ ràng là mày đang lảng tránh bọn tao.” Dean bổ sung.

Cô giáo vào lớp và giờ âm nhạc bắt đầu. Chúng tôi dịch chuyển bàn ghế, tạo không gian để xếp thành một hàng ngang. Sau đó cô đánh piano cho chúng tôi hát theo. Chúng tôi phải luyện hợp xướng để chuẩn bị cho buổi biểu diễn tháng sau. Mồm tôi thì hát nhưng đầu cứ quanh quẩn nghĩ về câu nói của thằng Debailleul.

“Thế là nhân từ với mày lắm rồi đấy. Bởi vì đằng nào thì mày cũng sẽ phải chết mà không kiếm được một công việc tử tế. Sống cũng chẳng có ý nghĩa gì đúng không nào?”

Trước đây không lâu lắm, ông bà nội tôi từng sinh sống ở một quốc gia khác. Khi chiến tranh nổ ra, họ đã rời bỏ quê hương và chuyển đến đất nước này. Vì vậy mà ai cũng gọi họ là di dân. Tôi là dòng dõi, con cháu của những người di dân. Những đứa con mang dòng máu di dân sẽ không bao giờ kiếm được việc làm. Bởi đến cả những người dân sống lâu đời tại đây còn đang chật vật kiếm sống thì lấy đâu ra việc cho những kẻ di dân mới chỉ bén mảng đến từ vài chục năm trước. Debailleul có lý. Tôi chẳng có cơ hội nào để kiếm cho mình một công việc ra hồn. Mà nếu có thì cũng sẽ bị ghen ghét, đố kỵ đến mức chẳng biết sẽ bị đối xử ra sao. Mới gần đây thôi, có một người cũng mang dòng máu di dân đã dùng số tiền vất vả làm lụng tích góp được để mở một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Thế nhưng ngay hôm sau đã bị ai đó phóng hỏa, chỉ còn lại đống tro tàn. Đó là lời cảnh báo tới những người di dân rằng đừng hòng mong ngóc đầu lên. Tôi là kẻ di dân, vì khói lửa chiến tranh mà trôi dạt đến đất nước này. Chẳng khác gì đang được cho ở nhờ trên vùng đất của người khác.

Tan học, tôi cùng Dean và Deluca, ba đứa rủ nhau qua khu phố Cafetasse chơi. Thấy tôi có vẻ gắng nhịn mua kẹo, hai đứa nó lần lượt chia cho tôi một ít sô-cô-la và kẹo cao su. Dean bảo “Ăn sô-cô-la cùng với kẹo cao su đi, mày sẽ thấy có cảm giác như kẹo cao su tan ra trong miệng vậy.” Tôi làm thử xem sao và quả thật kẹo cao su đúng là tan ra trong miệng. Chúng tôi bước đi trên phố, lúc thì thong thả ngắm nghía mấy tấm poster giới thiệu phim ở rạp hát, lúc thì cuống cuồng bỏ chạy khi con chó bị xích ở cột đèn sủa inh ỏi. Kể cũng vui. Hai đứa nó hôm nay cũng không quên hào hứng nói cười, kể lể về chuyện thám tử Royce và siêu trộm Godiva. Royce hình như đang rời thủ đô để điều tra về Godiva nhưng không ai biết anh ta đang làm gì, ở đâu. Deluca còn dẫn lời mấy bài phóng sự đăng trên báo nữa.

“Cánh phóng viên cũng không biết tung tích anh ta ở đâu cơ á?” Dean hỏi.

“Anh ta đi đâu được nhỉ!?” Deluca băn khoăn.

Cứ thế hai đứa chúng nó vừa ăn kẹo vừa xôn xao bàn luận. Vừa đúng lúc đi ngang qua cửa hàng bán chỉ, tôi bâng quơ ngó vào trong thì bỗng phát hiện thấy cậu sinh viên nghệ thuật Goncharoff ở đó. Anh ta đang mải miết ngắm nhìn những cuộn chỉ đầy đủ màu sắc được xếp ngay ngắn trên giá với vẻ mặt rất đăm chiêu.

“Royce nhất định là ra nước ngoài rồi. Dắt theo rất đông cảnh sát để điều tra về siêu trộm Godiva.” Tôi nói vài lời cho qua chuyện.

“Chắc chắn là thế rồi.” Hai đứa tán đồng với ý kiến của tôi.

Đến ngã rẽ, tôi dừng lại.

“Thôi chết. Tí quên. Tao có chút việc rồi!”

Vừa dứt lời tôi liền lao thẳng đi, mặc kệ hai thằng bạn đang đần mặt, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Sau khi đảm bảo hai đứa không đuổi theo mình, tôi luồn qua đường trong và tìm đến cửa hàng bán chỉ lúc nãy.

“Bọn trẻ đang xôn xao bàn tán vì sự mất tích đột ngột của anh đấy.”

Tôi bước vào cửa hàng và bắt chuyện với anh Goncharoff nhưng anh ấy không phản hồi gì cả mà cứ nhìn chằm chằm vào đống chỉ.

“Ý em là hai cậu bạn Dean và Deluca mà ban nãy cùng em đi ngang qua đây đúng không?”

“Anh biết sao?”

“Anh tinh lắm đấy nha!”

Royce với tay nhặt lấy ba cuộn chỉ rồi tiến tới quầy thu ngân. Thanh toán tiền, nhận túi chỉ xong, chúng tôi bước ra ngoài. Vừa đi Royce vừa nhòm vào túi chỉ với con mắt sáng rực như thể đang nhìn thấy kho báu.

“Những lúc đi du lịch, riêng kim đan là kiểu gì anh cũng phải mang theo.”

“Cả chiếc kính lúp nữa chứ ạ! Thương hiệu của anh còn gì.”

“Làm màu đấy. Chỉ để cho mọi người thấy trông giống thám tử thôi.”

“Nhưng mà có rất nhiều ảnh chụp anh cầm kính lúp trên tay mà?”

“Làm thế chỉ để vui lòng người hâm mộ thôi. Chứ cái kính lúp đấy có ích lợi gì đâu.”

“Ôi, toàn chuyện bất ngờ nha...”

Royce mời tôi vào một quán cà phê ở góc phố. Chúng tôi ngồi đối diện nhau. Vì anh ấy bảo là sẽ khao nên tôi đã mạnh dạn gọi một cốc sô-cô-la nóng.

“Anh đã chụp ảnh tấm bản đồ rồi. Nãy anh đi ra bưu điện để gửi ảnh cho thanh tra Ganache.”

“Hôm nay anh lại cải trang thành cậu sinh viên học vẽ nhỉ!”

“À, thì anh chỉ có mỗi hai bộ đạo cụ hóa trang thôi mà. Một là ông lão, hai là cậu sinh viên này.”

Quán lúc này khá đông, đây đó rôm rả tiếng nói cười.

“Hiện thanh tra Ganache đã điều động tất cả các cán bộ điều tra đi tìm hiểu toàn bộ các khu chợ trên phạm vi toàn quốc.”

“Toàn bộ các khu chợ? Trên cả nước cơ ạ?”

“Đúng vậy. Tính cả những khu chợ nhỏ thì chắc phải lên đến hàng trăm đấy. Tất nhiên, mục đích là để tìm ra người chủ quầy kia.”

Tôi cảm thấy quay cuồng, chóng mặt trước quy mô quá lớn của câu chuyện.

“Thế nhưng hình như trong vài năm trở lại đây lại không có nhà thờ nào bị cháy thì phải.” Royce tiếp tục với vẻ mặt có vẻ khó chịu.

“Có lẽ nào chuyện xảy ra ở một đất nước khác thì sao nhỉ...”

“Hoặc biết đâu tay chủ quầy đã bịa ra chuyện này cũng nên.”

Trong lúc hai chúng tôi đang thì thầm bàn luận về tình hình điều tra thì nhóm học sinh ngồi phía sau Royce đột nhiên lớn tiếng bình phẩm, làm huyên náo cả một góc phòng.

“Phải nhanh chóng tìm ra tên trộm này rồi phanh thây hắn ra mới được!”

“Đúng là đồ bệnh hoạn! Ai đời đã đi ăn trộm rồi lại còn để lại tấm thẻ có tên mình trên đó cơ chứ!”

“Thằng này bị điên là cái chắc rồi!”

Nói xong cả đám cùng nhau đập bàn rồi phá lên cười. Những gì họ đang nói cũng chính là nội dung các bài báo viết về siêu trộm Godiva. Tôi không mấy bận tâm bởi đây là quang cảnh đã quá quen thuộc. Thậm chí tôi còn muốn nhập bọn với họ để cùng đưa ra những đánh giá khinh miệt, coi thường về Godiva nữa cơ. Thế nhưng, ngay lúc đó tôi chợt nhận thấy phản ứng của cậu sinh viên hội họa có chút kỳ lạ nên đã cất tiếng hỏi.

“Anh Goncharoff này. Anh sao vậy?”

Anh ấy vung hai nắm đấm đứng bật dậy, quay người giơ tay chỉ thẳng vào đám học sinh đang cười cợt.

“Bọn bay không được nói những lời lẽ như thế!” Giọng anh đanh thép, vang khắp cửa hàng. Không chỉ đám học sinh mà tất cả mọi người trong quán đều im bặt nhìn qua với vẻ mặt thất kinh, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. “Xin thứ lỗi!” Royce thản nhiên buông tiếp một câu rồi cầm tờ hóa đơn tiến về phía quầy thanh toán.

Bước ra khỏi quán, anh ấy vừa bước đi vừa hít một hơi thật sâu.

“Quả thực anh không thể nào chịu nổi khi nghe thấy ai đó nói xấu về siêu trộm Godiva.”

“Anh đang đùa phải không ạ? Chẳng phải đi đâu anh cũng phát biểu là ‘không được để cho phường ác nhân đó lộng hành’ hay sao?”

“Đấy chỉ là những lời cánh phóng viên bắt anh phải nói thôi. Mà không, có lẽ nên nói là anh đang bị bắt phải diễn kịch bởi một tổ chức bí mật núp đằng sau đám phóng viên thì đúng hơn.”

“Tổ chức ư?”

Ra khỏi khu phố Cafetasse thì dòng người không còn đông đúc nữa. Thỉnh thoảng mới có một vài người đi qua nhưng ai nấy đều giữ chặt áo khoác của mình, co rúm người trước giá lạnh.

“Em biết không, có những người đang biến siêu trộm Godiva thành kẻ xấu hòng hướng sự phẫn nộ của dân chúng về phía đó để họ không lọt vào tầm ngắm. Còn anh chỉ là một con rối, được dựng lên như một anh hùng để phục vụ cho âm mưu của bọn họ.”

“Anh nói thế là sao?”

“Nếu phóng viên không viết về Godiva như một kẻ xấu xa thì có lẽ chính hắn đã là một người hùng thực sự rồi. Thế nhưng bọn họ sợ điều đó sẽ xảy ra. Vì vậy họ đã quyết định tự tạo ra một người hùng. Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước này đã đánh mất quá nhiều thứ. Phải bỏ ra một khoản tiền lớn để bồi thường. Bởi thế mới cần tới cái mánh khóe đó. Người dân luôn tìm kiếm một cái gì đó để tin vào mà.”

Royce tháo bộ tóc giả ra, để lộ hẳn cả khuôn mặt.

“Anh làm gì vậy?”

Tôi vội vàng giơ cả hai tay lên, cố gắng che mặt anh ấy lại. Nếu lúc này có ai nhận ra anh ấy thì sẽ ầm ĩ hết cả lên cho mà xem.

“Anh nào phải anh hùng. Nhưng anh lại rất muốn trở thành người hùng. Phức tạp lắm. Lòng anh đang rối như tơ vò.”

Royce liên tiếp hít thở vài hơi thật sâu rồi đội lại bộ tóc giả. Chúng tôi chia tay tại đó.

Về đến nhà, mẹ tôi đã đi làm về và đang ngồi với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Mẹ bảo chú Morozoff nhà bên đang phải nhập viện vì gặp tai nạn giao thông. Chú ấy đã bất tỉnh một thời gian, gần đây mới khá hơn và có thể viết thư được rồi. Mẹ đưa cho tôi xem bức thư với những dòng chữ nguệch ngoạc mà chú ấy mới gửi về. Có thể thấy ngay là tay chú còn yếu lắm.

“Kiểu này có khi chú ấy sẽ không về được cũng nên...” Mẹ nói.

“Còn giữ được mạng sống là tốt rồi mà mẹ.” Tôi nói.

Nghe thật khiếm nhã nhưng tôi đã có suy nghĩ nhờ việc chú Mozoroff đi du lịch vắng nhà mà tôi mới có cơ hội đọc báo, rồi mới có thể gửi thư cho Royce. Lúc nào có thời gian tôi sẽ viết thư cho chú ấy. Tôi nói thế với mẹ rồi lên giường đi ngủ.

Tin dữ ập đến vào buổi chiều ngày hôm sau.

« Lùi
Tiến »