1. Tín ngưỡng

Tâm Lý Dân Tộc An Nam

Lượt đọc: 599 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương III
TIẾN HÓA XÃ HỘI VÀ TIẾN HÓA CHÍNH TRỊ

❊ ❊ ❊

Để giải thích lịch sử và phân tích văn minh dân tộc An Nam, đến đây chúng ta chỉ mới viện đến đơn độc những hiểu biết về bản sắc quốc gia An Nam; từ bây giờ chúng ta phải tính đến một yếu tố quan trọng hơn: tín ngưỡng.

“Nghiên cứu về các nền văn minh khác nhau tiếp nối từ khởi thủy thế giới cho thấy chúng là kết quả của một số ý tưởng cơ bản”, bác sĩ Le Bon[143] nói. Những ý tưởng này rất ít về số lượng, nhưng sức mạnh của chúng rất đáng kể; các thiết chế chính trị xã hội dựa trên các ý tưởng này; chúng là cơ sở, nền tảng, “lý do bị bỏ qua” (theo Taine), bởi vì những ý tưởng này chỉ có hành động thực sự như là “chúng xuất phát từ những vùng vận động của tư tưởng, trong vùng ổn định và vô thức của cảm xúc nơi tự thiết kế những hình thái hành động của chúng ta”.

Dưới dạng tôn giáo và triết học, định kiến truyền lại đóng một vai trò lớn hơn trong nền văn minh An Nam, vì gốc rễ của nó sâu hơn, nguồn gốc của nó xa hơn, đầu đề của nó lại ít được thảo luận.

Chính từ ý tưởng tôn giáo và triết học mà phong tục, tập quán, luật pháp, nói một cách dễ hiểu, toàn bộ tổ chức chính trị xã hội của dân tộc An Nam đều dựa theo.

I. Ý niệm tôn giáo và sự phát triển của nó trong xã hội

1. Tín ngưỡng

Người An Nam thường bị quy cho là vô thần, không tín ngưỡng; nhiều lần họ bị chê trách vì tính hay thay đổi tôn giáo của mình; người ta đã gặp những biểu hiện quá mức hình thức cho sự thành tâm với lòng nhiệt thành ngoan đạo của họ, một biểu hiện đặc biệt cùa sự giả hình bẩm sinh có tính chủng tộc.

Còn sau đây, nếu nhất thiết phải có, là một lý thuyết đặc biệt. Đó là người An Nam sùng đạo, thiết tha với tôn giáo, nhưng không phải theo kiểu cách của chúng ta. Với chúng ta, đức tin tôn giáo thường là một nhân tố không cưỡng lại được; nét đặc trưng của các tôn giáo phương Tây, cần thiết cho tất cả niềm tin tự phụ về việc nắm giữ sự thật và cái đúng tuyệt đối, là không khoan nhượng. Đặc điểm của đức tin An Nam, trái lại, là sự bao dung rộng nhất, sự thờ ơ dễ dãi nhất. Người An Nam, như chúng tôi đã nói, chưa bao giờ nhiệt tình truyền đạo; và điều này chắc chắn phụ thuộc phần lớn vào bản chất lãnh đạm của họ. Nhưng có thể dựa vào đó mà nói rằng họ là một dân tộc không có đức tin không?

Trái lại, không ai hơn người An Nam gắn bó với niềm tin xưa cũ của họ; không có gì trong thờ phượng trao cho các vị thần hơn là niềm tin ngây thơ và sâu đậm, niềm tin tốt lành này làm cho mọi người hạnh phúc; không có gì thấm đẫm sâu sắc tình cảm tôn giáo hơn trong các hành vi của đời sống riêng tư hoặc các thiết chế chính trị.

Đó là tôn giáo mà ở An Nam, đã cấu thành gia đình, thiết lập hôn nhân và quyền lực gia trưởng, hàng ngũ thân tộc, quyền sở hữu, thừa kế; cuối cùng chính nó, khi mở rộng gia đình thành bộ tộc, đã chủ trì thiết chế hiện tại của chính quyền đế quốc.

Vậy thì, tôn giáo này là gì mà mạnh mẽ như vậy, qua nhiều thế kỷ, thực hiện sự thống trị của nó đối với các dân tộc và khiến con người phục tùng uy quyền của nó?

Đó là một tôn giáo rất đơn giản, rất sơ khai mà tất cả các nền văn minh đều tìm thấy ở điểm khởi đầu của họ, vẫn còn tồn tại trong các cư dân man rợ đương thời: niềm tin vào các linh hồn, nhân lên, thành một cuộc sống thứ hai ở thế giới khác hoặc ở ngay trong thế giới này.

Chúng ta biết rằng những niềm tin này, phối hợp tạo thành một trong những mặt của hệ thống thuyết vật linh rộng lớn, nảy nở ở những người nguyên thủy do một yêu cầu thuần trí tuệ thôi thúc. Trí tuệ, được gợi bởi một số sự kiện tự nhiên rõ ràng, cố gắng đưa ra ít nhiều giải thích hợp lý cho những hiện tượng. Do đó, các quyền lực tự nhiên hoặc các vật vô tri được cho là có khả năng ý chí hoặc cảm xúc; người ta cho lửa, nước, đất, một linh hồn có khả năng yêu thương cũng như giận ghét. Hợp lý hơn, những động vật có sự sống và vận động được coi là những thực thể có lý trí.

Từ thuyết vật linh này đến niềm tin duy linh, chỉ có một bước[144] nhưng khoảng cách là rất lớn tính từ giai đoạn tiến hóa tinh thần này đến tôn giáo có tổ chức của chúng ta (người châu Âu).

Tuy nhiên, trong thời kỳ nguyên thủy này, tôn giáo An Nam vẫn còn được lồng vào, bảo tồn không thay đổi, không thanh lọc, những tín ngưỡng tổ tiên, những mê tín cổ xưa.

Những niềm tin còn lưu hành tương đổi phổ biến ở An Nam về động vật như rùa, hổ, voi, v.v. sẽ định hình đầy đủ cho chúng ta về mức độ tinh thần chưa cao của người An Nam, nếu chúng ta còn chưa nắm bắt được. Người An Nam tự nhân cách hóa về mặt tâm lý một số loại động vật và gán cho chúng một linh hồn. Tôn trọng ở mức kinh sợ nhất, họ đặt cho chúng cái tên, như “Chúa tể”, mà họ gọi là "ông cọp” (Monsieur le tigre), đặt nó ở chùa và thắp hương tôn vinh.

Theo Cha Viện phụ Launay, người Giao Chỉ xưa tin vào linh hồn; đây là một khẳng định mà chúng ta có thể chấp nhận gần như không ngần ngại. Ông nói, “choáng ngợp với cảnh tượng kỳ diệu của thiên nhiên, khắp mọi nơi cho chúng ta thấy các lực lượng bí ẩn luôn hoạt động, người Giao Chỉ kết luận về sự tồn tại của những tạo vật siêu đẳng có sức mạnh tạo ra những hiện tượng không thể giải thích này. Đối với những tạo vật siêu đẳng này, họ gán cho những phẩm chất và khuyết điểm của con người, đồng thời thêm vào những sở thích liên quan đến chức năng của chúng. Linh hồn của những ngọn núi phải thật khủng khiếp và đáng sợ; của thung lũng và dòng suối, là duyên dáng và ngọt ngào... Những người dân này cũng có những ngôi đền nơi họ hiến tế cho các thần linh bất tử, đại diện hoặc hành động theo ý muốn các thế lực tự nhiên và thu nhận điều lành hoặc xoay chuyển sự tức giận.”[145]

Image

Đền thờ cọp. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.

Niềm tin của người An Nam ngày nay vẫn còn gần như trẻ con. Đây là điều mà R. P. Cadière nói về họ: “Ngoại trừ ý tưởng về thiên đàng, Trời, xuất hiện mơ hồ trong ý thức và ngôn ngữ của người An Nam như một thực thể ít nhiều mang tính cá nhân, thống trị thế giới và phán xét hành động của con người, thế giới siêu nhiên bị thu hẹp lại thành Thần, những thần linh tốt, những kẻ bảo vệ làng mạc, là chủ thể thờ phượng công cộng và Ma. Từ Ma trong tiếng An Nam chỉ xác chết con người và linh hồn leo lắt sau khi chết được cho là vẫn còn trong lăng mộ, hoặc lang thang khắp nơi trong cõi trần, khi xác chết không được chôn cất; nó còn chỉ những linh hồn xấu xa... Hai nghĩa sau cùng có thể lồng với nhau, hoặc là nhân quả của nhau, vì người ta tin rằng, những linh hồn bị bỏ rơi cũng được phú cho những quyền lực siêu nhiên mà chúng thường sử dụng để làm phiền nhiễu người sống, cho đến khi chúng được an ủi, bằng cách chôn cất xác chết hoặc bằng các lễ vật thường lệ... Có rất nhiều loại Ma... Ma ra (ma da) dưới nước và dường như trong tâm trí người dân đó là hồn những người chết đuối mà thi thể không được chôn.”[146]. Do đó, người An Nam tin và còn tin vào sự bất tử của linh hồn, vào sự tồn tại của nó trong cõi vĩnh hằng. Linh hồn, theo họ, giữ lại ký ức về tình trạng ban đầu của nó; nó yêu, ghét, vui hay buồn, tốt lành hay ác ý, tùy theo việc nó được chăm sóc hay bỏ bê. Họ cũng tin - ví dụ về Ma ra (ma da) là bằng chứng - rằng hồn không tách khỏi xác và bị nhốt cùng với xác trong mộ. Linh hồn không có nơi cư trú sống lang thang, cảm thấy bất hạnh và trở nên hung ác với con người. Vì vậy người ta phải chôn cất thi thể một cách trang trọng, không có món quà nào được cha mẹ già đánh giá cao hơn một cỗ áo quan đẹp đẽ được những đứa con hiếu thảo tặng; trước hết, họ hạnh phúc khi nghĩ rằng sau khi chết, hồn và xác họ sẽ được chôn cất chắc chắn.

Như đời sống trần thế, thân xác có những nhu cầu cần đáp ứng, nên người chết cần thức ăn, cần người hầu, những đồ vật quen thuộc, ngựa, kiệu... Lịch sử không cho chúng ta thấy phong tục đòi hỏi quá như ở Ấn Độ - phong tục Ấn Độ giáo có liên quan nhiều đến phong tục An Nam - như là góa phụ và người hầu đi theo xuống mộ cùng người chồng hoặc chủ nhân quá cố. Trong mọi trường hợp, người An Nam bảo tổn các nghi thức tang lễ, những thực hành dường như được chứng minh là đã tồn tại trước đó với các quy tắc tương tự. Ngày nay người ta còn đốt trên mộ những hình nộm của người, voi, ngựa, những nén vàng và bạc rồi sẽ đồng hành với thân xác trong thế giới khác. Thức ăn được đặt trên mộ, thỉnh thoảng người ta còn đặt vào quan tài những món đồ chuẩn bị cho cuộc hành trình cuối cùng.

Những niềm tin này ngay từ sớm đã sinh ra các quy tắc cụ thể, được ban hành trong Bộ luật (Gia Long) và có chế tài xử phạt bằng các hình phạt nghiêm khắc.

Image

Bắc kỳ, Hà Nội - Nội điện một ngôi chùa. © p. Dieulehls, xuất bản năm 1892

“Các nghi thức quy định chôn cất thi thể và hỏa táng chỉ được phép trong trường hợp cái chết xảy ra ở những vùng rất xa và con cái tuyệt nhiên không có phương cách nào đem quan tài trở về.

Trong tất cả trường hợp khác, hỏa táng hoặc ném xác cha mẹ xuống nước là một tội bị phạt một trăm trượng.”[147]

Các nghi lễ cũng quy định việc dâng cúng các bữa ăn cho tổ tiên gia đình vào những thời điểm nhất định trong năm. “Trước Tết[148] ít lâu, phải chăm sóc dọn dẹp mồ mả; đêm giao thừa, phải chuẩn bị một bữa ăn và dâng cúng thức ăn trên bàn thờ tổ tiên. Theo lễ nghi này trong ba ngày Tết, phải đặt thức ăn như một phẩm vật trước tất cả bàn thờ, từng ngày, thay mới vào những giờ ăn hằng ngày.”[149]

Như vậy một tục lệ thờ phượng thực sự được thiết lập, một tôn giáo chân chính mà những giáo điều đã tồn tại qua thời gian, những nghi lễ vẫn được người dân An Nam thực hành một cách trung thành. Việc sùng bái tổ tiên có các lễ nghi, lễ hội, hiến tế, cầu nguyện của nó.

Khi cúng tế bàn thờ, chủ gia đình, mặc quần áo đẹp nhất, trước mặt các thành viên của gia đình, tĩnh tâm sâu lắng, rót ba chén rượu và thì thầm với chính mình: “Hôm nay là ngày giỗ của ông tôi; tôi mời tất cả ông bà cố, ông, bà, chú, dì... đến tiếp nhận lễ mà con cháu thành kính dâng cúng.” Nói điều đó, ông ta quỳ lạy sáu lạy, rót thêm rượu vào cốc, rót trà và vái ba vái.

Sau đó, người dâng lễ tế hoàn thành nghi lễ dâng hương bằng cách thắp lên những cây nhang thơm ngát cắm sẵn trên bàn thờ, và ông ta nói: “Tôi là... (ông ta đọc tên và họ của mình); hôm nay ngày giỗ của ông tôi; tôi thắp nén nhang cầu nguyện cho linh hồn ông trở về cõi dương để tận hưởng và bảo vệ con cháu”. Sau đó, ông ta thực hiện các nghi lễ tế rượu bằng cách lấy chén rượu rưới xuống nền nhà, lặp lại lời khấn như trước: “Tôi cầu nguyện cho hình bóng tổ tiên tôi...”

Sau đó, người cúng tế phải tĩnh tâm, cố gắng tưởng tượng ra sự hiện diện của tổ tiên đến ngự ở bàn thờ và dùng bữa. Sau đó, ông ta phải lạy bốn lạy, quỳ xuống, rót đầy hoặc nhờ trợ tế bên phải rót đầy ba chén rượu và cúi lạy hai lần cho mỗi lần rót. Những nghi lễ này hoàn tất, người chủ tế rót trà hoặc nhờ người hầu lễ bên trái rót thêm rượu vào chén. Nghi lễ mới này, được gọi là “mời uống hoặc ăn, kết thúc bằng bốn lạy thành nghi lễ tạm biệt”[150].

Chúng ta thực sự thấy sự hiện hữu của một tôn giáo nhưng cũng phải nhận ra rằng tôn giáo này khác nhiều so với hầu hết những tôn giáo được thực hành bởi những tín đồ khác. Trong khi Ki-tô giáo, Phật giáo[151] hay Hồi giáo có một vị Thượng đế duy nhất, mà mọi người đều có thể tôn thờ, thờ cúng tổ tiên là đặc biệt đối với một gia đình duy nhất, là trọng trách chỉ dành cho nam giới; chỉ có thể được thực hành bởi các thành viên của chính gia đình. Sự thờ phượng người chết chủ yếu có tính gia đình. Người An Nam không như Ki-tô hữu hay tín đồ Hồi giáo - có nghĩa địa lớn chung (cho một giáo xứ/xóm đạo) hay một nghĩa trang bình thường; ngôi mộ của người An Nam nằm trong phạm vi gia đình, tổ tiên tiếp tục sống giữa những người thân của mình, bảo vệ họ bằng sự hiện diện vô hình của mình, là thiên thần hộ mệnh.

Chúng tôi đã nói rằng vị tư tế của tôn giáo này là người cha của gia đình; một mình ông, trừ phụ nữ và trẻ em, phải giao tiếp với những vong linh tổ tiên; chỉ mình ông ta có thể thực hành các nghi lễ, dạy chúng cho con trai cả; vì đặc điểm của tôn giáo gia đình này là chỉ được truyền từ nam sang nam. Không nghi ngờ gì nữa, phải thấy đó là ảnh hưởng của một niềm tin cổ xưa theo đó nguồn gốc phát sinh chỉ nằm ở người cha. Tính cách thờ cúng đặc biệt này sẽ có tác động quan trọng trong tổ chức gia đình.

2. Gia đình

Trong nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc An Nam, chúng tôi đã thấy gia đình là một nhóm cô lập, tự trị, độc lập với các nhóm khác, có những vị thần riêng, có các hoạt động thờ cúng đặc biệt, có lăng mộ, nhà thờ (temple), bàn thờ của riêng nó.

Chúng ta sẽ tìm thấy ở hầu hết thiết chế của dân An Nam cùng một nhu cầu liên kết, đó là tinh thần tập thể, đặc biệt với các chủng tộc da vàng đã được chỉ ra trong chương trước. Vậy, điều gì nối kết mạnh mẽ đến mức đoàn kết chặt chẽ các thành viên của cùng một nhóm? Có phải chỉ là bản năng xã hội hay cảm giác bị cô lập yếu đuối và sức mạnh tập thể? Nó vẫn là tình cảm tự nhiên, sức mạnh gia đình hay hôn nhân? Là mỗi thứ một ít, điều này không cần phải nghi ngờ gì thêm; nhưng vẫn có, và nhất là, mang đậm tính tôn giáo - cái mà chỉ mình nó kết nối con người (re-ligate).

Gia đình An Nam là một bang hội tôn giáo; như vậy, nó hoàn toàn khép kín; để tham gia vào đó phải qua một lễ nhập môn thực sự. Cô dâu, một người ngoài đối với sự thờ phượng của người chồng tương lai, không phải là một phần của gia đình anh ta cho đến sau khi có sự thừa nhận của hôn nhân; tương tự, sau khi kết thúc buổi lễ, cô không còn được tính là thành viên trong gia đình cũ của mình nữa và không thể đòi hỏi thừa kế của cha mẹ cũ. Luật đặt ra theo cùng một nghĩa và vì những lý do tương tự, liên quan đến con trai riêng và con trai nuôi, theo cùng một tinh thần, nó đặt ra các mức độ khác nhau của mối quan hệ và quy tắc các quyền đối với sự thừa kế, đó là, không phải theo dòng dõi, mà theo quyền tham gia thờ cúng gia đình.

Image

Một đám cưới ở Sài Gòn năm 1866. ©Émile Gsell

Từ bây giờ, điều cấp bách phải biết đâu là đặc điểm chủ yếu của toàn bộ hành động nhằm giới thiệu một thành viên mới vào gia đình. Trên thực tế, hôn nhân và việc nhận con nuôi là các phép tắc phải thực hiện trước sự hiện diện của những ai ủng hộ, nghĩa là tất cả thành viên gia đình tập trung trước bàn thờ tổ tiên.

“Nghi lễ kết hôn - ngày nay người ta quy cho người thảo là các môn đồ của Khổng Tử - là sự kết hợp hai người họ tộc khác nhau, để thờ tự bên trên là tổ tiên trong nhà thờ, và bên dưới, họ sản sinh những thế hệ tiếp theo.”

Đảm bảo sự thờ phượng lưu truyền là mối quan tâm chính yếu trong các hành vi đời sống An Nam. Hôn nhân, có tầm quan trọng nhất trong tất cả hành vi này, là việc được cử hành rất trọng thể.

“Theo Luro, hôn nhân được đặt ra, từ thời cổ đại, có sáu nghi lễ khác nhau. Ngày nay chỉ còn lại ba, được mô tả trong Gia Lễ hoặc Kinh Lễ:[152]

1. Lễ chọn (hay nạp thái): Yêu cầu kết hôn được chuyển tải bằng thư. Buổi sáng ngày gửi thư này phải thông cáo cho tổ tiên. Bởi vậy, người cha, trước bàn thờ đã được thắp nến, quỳ lạy bốn lạy. Vừa rót rượu, ông quỳ xuống, đọc một tờ sớ thông báo cho tổ tiên về lời cầu hôn. Sau đó, ông quỳ lạy bốn lạy, đốt tờ sớ; ông bỏ thư trong hộp có thẻ ghi tên, tuổi và ngày sinh con trai ông. Cha của cô gái nhận được tin nhắn thì cũng thông cáo cho tổ tiên của mình, sau đó viết trả lời gửi lại bằng tờ giấy đỏ ghi tên, tuổi và ngày sinh của cô gái.

Cha chàng trai đọc thư trả lời; ông thắp nến, hương trên bàn thờ, mở tủ, nơi đặt những bài vị tổ tiên, tự mình quỳ lạy bốn lạy, đọc một tờ sớ thông cáo cho tổ tiên và lại quỳ lạy.

2. Lễ nạp tệ (hay nạp trứng - tức tặng vật phẩm thường dùng). Khi người ta xem quẻ, thấy thuận lợi, họ đem sính lễ đến, là vải vóc hoặc các đồ vật khác, nhằm thể hiện ý định chắc chắn thực hiện cuộc hôn nhân. Một lá thư nữa được trao đổi để xác nhận ý định của cả hai bên; và người chủ mỗi gia đình thông cáo, theo cách được nói ở trên, cho tổ tiên của ông về tất cả các bước thực hiện.

3. Lễ thân nghinh (đám cưới). Vào ngày cưới, người chủ gia đình bên nhà trai, với đông đủ họ hàng, đến trước bàn thờ tổ tiên. Ông mở hộp chứa những bài vị tổ tiên và thông cáo thẩm với những bậc bề trên này; sau đó ông thắp nến, hương, rót rượu vào chén và tự quỳ lạy hai lạy; sau nữa, ông rót rượu trên bàn thờ, quỳ lạy và đốt sớ báo tin.

Người con trai sau đó rưới một vài giọt rượu trong chén xuống đất, uống phần còn lại, quỳ lạy, đứng dậy và cúi chào cha mình, ông ban lệnh cho anh ta đi rước dâu.

Người con trai đi, theo đoàn người, đến nhà vị hôn thê. Ở nhà cô gái lại thực hiện nghi lễ giống như trên vừa mô tả. Sau nhiều lời thăm hỏi, chàng trai đưa vị hôn thê về nhà; cả hai đứng trước bàn thờ tổ tiên sau khi thực hiện nghi lễ quỳ lạy. Sau đó, chủ lễ đọc cho tổ tiên một tờ sớ: ‘Tôi (ở đây tên dự kiến) theo lệnh của cha tôi đã mang về nhà tôi... (tên của người vợ) để làm vợ tôi và tiếp tục thờ cúng tổ tiên. Tôi cầu xin ông bà tổ tiên ban phước cho cuộc hôn nhân của chúng tôi - (anh ta quỳ gối) - tôi cầu xin sự bảo vệ các người hóa vàng cho chúng tôi.’ Tờ sớ được đốt, vợ chồng đứng lên, buổi lễ hoàn tất.”

Trong tình trạng phong tục hiện nay, ba nghi lễ quy định bởi Gia Lễ được thực hiện với ít nhiều sai lệch, tuy nhiên việc cầu khấn tổ tiên vẫn là bắt buộc. Điều này cho thấy hôn nhân của người An Nam không chỉ là sự kết hợp nam nữ đơn thuần mà còn là mối liên kết thiêng liêng vào cùng một sự thờ phượng.

Từ niềm tin có vong linh tồn tại dẫn đến những hệ quả khác liên quan đến gia tộc, người An Nam nghĩ rằng vong linh tổ tiên rất vui khi sự thờ phượng của họ được thường xuyên đảm bảo, nghi lễ được thực hiện cho họ, các bữa ăn theo quy định được cúng cho họ vào những thời điểm ấn định; những vong hồn bị bỏ rơi, trái lại, chìm trong đau khổ. Vì vậy, mỗi người phải cố gắng để đảm bảo việc có hậu thế.

Sự chuẩn bị cần thiết này cho tương lai, mối lo lắng đối với việc kế tục thờ tự, đã làm nảy sinh nhiều phong tục có vẻ xa lạ đối với một người quan sát không hiểu biết gì.

Do đó, người ta đọc trong Chu Lễ hoặc Kinh Lễ: “Quan chức về hôn sự được giao phụ trách việc hôn nhân trong dân chúng. Đối với mỗi cá nhân, dù là nam hay nữ, ông đều ghi lại tên và tuổi. Ông ta hạ lệnh cho đàn ông ở tuổi ba mươi kiếm vợ, gái ở tuổi hai mươi lấy chồng. Vào tuần trăng của mùa xuân, ông ra lệnh tập hợp nam nữ. Tại thời điểm này, những người này kết hợp với nhau, không tuân thủ lễ giáo mà không bị ngăn cấm”, theo Biot. Những tập tục man di này, hôm nay, chúng tôi phải nói, đã hoàn toàn biến mất; tuy nhiên, tình trạng độc thân luôn bị coi là một sự bất kính nghiêm trọng và bất hạnh.

Mục đích thực sự của hôn nhân là sinh con đẻ cháu, và phải là con cháu trai, vì nhờ chính điều này mà có thể kế tục thờ cúng. Đa phần do ảnh hưởng của ý tưởng này mà đã thiết lập chế độ đa thê.

Người đàn ông không có con với người vợ đầu có thể kiếm một người vợ thứ để sinh con trai. Nếu người phụ nữ này vẫn chỉ sinh cho anh ta con gái, anh ta có thể kết hôn với người vợ thứ thứ hai. Theo Luro, số vợ, về mặt lý thuyết chỉ bị giới hạn bởi sự ra đời của một trẻ trai.

Vẫn còn mối bận tâm như vậy về sự nối dõi mà nhà lập pháp đã tuân theo bằng cách đặt sự vô sinh trong số bảy trường hợp được cho phép ly hôn.

Người không có nối dõi phải làm tất cả trong khả năng để có người nối dõi. Đây là nguồn gốc của việc bất đắc dĩ nuôi con nuôi. “Không chỉ định ai đó kế tục nối dõi dòng họ, thực sự, đó là để mất gốc rễ, là làm gián đoạn việc thờ cúng tưởng nhớ tổ tiên và làm cho tổ tiên bị xem như bất hạnh và bị lăng nhục. Hình phạt đối với nghĩa vụ này, đó là bị Nhà nước tịch thu tài sản của gia đình khi hết hậu nhân.”[153]. Việc tịch thu tài sản này ngày nay dường như đã hoàn toàn rơi vào tình trạng không áp dụng được; chỉ cần đề cập đến trong Bộ luật là đủ để thấy rằng nó từng có hiệu lực và do đó đã đáp ứng nhu cầu thực sự của xã hội.

Có hai loại con nuôi: con nuôi thừa tự (con nuôi hợp pháp hoặc toàn tòng) và con nuôi thường (đơn thuần hoặc từ thiện). Sự khác biệt này là kết quả tự nhiên từ một nguyên tắc đã nêu. Trong khi con nuôi đơn thuần là những trẻ không thể dùng để nối dõi và hưởng quyền thừa kế của cha nuôi, thì trái lại việc nhận con nuôi thừa tự nghĩa là trao cho con nuôi những quyền và những nghĩa vụ tương tự như người con trai đích thực.

Nếu việc nhận con nuôi thường hoàn toàn tự do, thì việc nhận con nuôi thừa tự có các quy tắc nghiêm ngặt và có thể bị xử phạt. Đó là bắt buộc đối với bất cứ ai không có con trai dù vẫn có con gái. Thêm nữa, người ta bắt buộc phải nhận làm người thừa kế con trai của anh hoặc em trai ruột hoặc, trong trường hợp không có, con trai của anh em họ, nghĩa là một người họ hàng không đồng bậc với mình so với gốc gác chung, nhưng kém hơn một bậc duy nhất. Trong những điều kiện này, có thể xảy ra việc một nhánh thứ bị tước đi con đẻ trực tiếp để thế vào nhánh trưởng. Tuy nhiên hậu quả của việc này có thể rất nghiêm trọng, gây trở ngại việc nuôi con nuôi hợp pháp; trong thực tế, việc này làm cho gốc chính, tức nhánh trưởng của gia tộc, không bị đứt, bởi thờ cúng tổ tiên phải được kế tục trong khi sự tuyệt tự của nhánh thứ không làm ngưng việc thờ cúng gia đình.

Cũng như quy định việc nhận con nuôi, tôn giáo góp phần ấn định thứ bậc khác nhau của quan hệ họ hàng.

Theo J. Sylvestre[154], “chừng nào gia tộc chỉ dựa trên cộng đồng của các vị thần bản địa làm nền tảng, thì mối quan hệ họ hàng có những quy tắc rất đơn giản, bất cứ ai ngoài phả hệ kế tiếp đều là người ngoài trừ khi được gắn vào quan hệ này bởi các nghi lễ của hôn nhân và nhận con nuôi. Do đó, mối quan hệ họ hàng chỉ tồn tại giữa tổ tiên của dòng cha, cha, mẹ, con cái. Không còn quan hệ dòng họ bên mẹ kể từ khi người phụ nữ kết hôn từ bỏ sự thờ phượng ban đầu và sau đó là gia đình cô ấy.”

Nhưng ngày nay mọi thứ không đơn giản như vậy; thực tế, người An Nam thừa nhận quan hệ mẹ con hoặc vợ chồng[155], đã thiết lập những gì người La Mã gọi là cognatio (họ Ngoại). “Giống như người La Mã, người An Nam phân biệt họ nội với họ ngoại. Đầu tiên là bà con của dòng gốc, tức là huyết thống của người cha trong gia đình, mang cùng họ và thờ cúng tổ tiên chung, cũng như vợ của những người bà con này và con trai nuôi... bởi bà con họ nội được gọi là dòng bên trong (Nội). Các họ ngoại hoặc bà con của dòng ngoài (Ngoại) đều là bà con của gia đình mẹ. Bà con của gia đình vợ không phải là họ hàng bên ngoài, mà chỉ là thông gia.”[156]

Chính quy tắc thờ cúng đã quyết định quyền thừa kế của con cháu, cơ nghiệp của người cha trong gia đình. Sự thờ phượng được truyền từ nam sang nam, theo cùng một cách, về nguyên tắc, tài sản phải được truyền thừa theo. Người thừa kế của cải là người tiếp tục thờ phượng. Theo quy tắc này, con gái hoặc đứa trẻ tư sinh không được thừa kế. Trái lại, con nuôi được thừa kế.

Trong thực tế, phong tục đã không giữ nguyên đến thời đại của chúng ta, luật này, có thể hợp lý từ một quan điểm nhất định, nhưng vẫn không kém bất công theo lẽ tự nhiên. Con gái An Nam ngày nay không còn hiển nhiên bị loại khỏi việc thừa kế như trước; tuy nhiên, vị trí của họ luôn thấp hơn nam.

Cuối cùng, tôn giáo đã thiết lập phụ quyền trong gia đình. Người cha là tư tế, giáo chủ, chủ nhân toàn quyền, sau khi chết, sẽ trở thành một tổ tiên đáng kính. Chính ông là người quy định việc thờ cúng, đảm bảo sự trường tồn và do đó, gia đình là vĩnh cửu. Vì vậy, ông ta có thể rẫy bỏ người vợ vô sinh và lấy thê thiếp. Ông ta cũng có thể nhận con nuôi; ông giữ những đứa con và những đứa cháu, theo luật[157] thì vẫn phải ở trong gia đình mà không thể cư trú bên ngoài nhà nội. Mức độ tuân thủ quy tắc này đã giảm nhẹ đi theo thời gian, nhưng luôn được duy trì ở người con trưởng. Theo Luro, “người con trưởng sẽ không rời khỏi nhà nội nếu không có sự đồng ý của cha và mẹ; con trưởng, vợ và các con sẽ ở dưới quyền của người cha. Nếu con trai trưởng bỏ đi khỏi nhà, người cha sẽ truất quyền thừa kế và quyền trưởng nam của người này bằng một di chúc xác thực.”

Người cha, trong gia đình, là chủ sở hữu duy nhất; miễn là ông còn sống, gia sản vẫn chưa phân chia. Một mình ông ta có thể chia tài sản của mình cho con cháu; chính ông là người ấn định phần dành cho việc duy trì sự thờ phượng. Người vợ phải đòi hỏi sự hỗ trợ để có thể chuyển nhượng hoặc thỏa hiệp.

Giống như ông ta có quyền sở hữu tất cả tài sản, ông ta - hoặc ít ra là ở thời xưa - là chủ nhân tuyệt đối của những người dưới quyền. Ông ta có thể bán vợ, con trai, thuê người hầu. Các Nho gia thừa nhận rằng hơn cả thế, người cha còn nắm quyền sống chết đối với con cái. Ngày nay, trong mọi trường hợp, ông còn giữ lại quyền trừng phạt vượt ngoài mọi phán xử xã hội khác. Gia đình là một xã hội hoàn toàn khép kín, trong đó chính quyền dân sự không thể can thiệp. Người cha, hay ông nội, một mình có quyền giải quyết tranh chấp, một mình phán xử chuyện gia đình.

Chúng ta vừa thấy rằng theo nguyên tắc phụ quyền, gia đình không thể bị chia ra do hôn nhân của con trai; họ có thể tự thành lập và hình thành một nhánh thứ, nhưng họ vẫn phụ thuộc vào người chủ gia đình.

Gia tộc không thể bị giải thể bởi cái chết của tổ tiên chung. Luro nhận định, “trong trường hợp không có tổ tiên chung (mà vốn dĩ sự tồn tại này ngầm duy trì tất cả các quyền nối dõi) thì luật thế thứ (có từ thời xa xưa bắt nguồn từ những kinh sách đầu tiên của thời cổ đại Trung Hoa) lập lại các mối liên hệ tưởng chừng như có thể bị phá vỡ. Khi ông tổ chung chết, mỗi người là chủ sở hữu tài sản hoặc phần tài sản thừa kế của mình; nhưng theo như các nghi lễ có liên quan, ý kiến của kinh sách là quyền lực gia đình được truyền cho người già nhất của gia đình.” Vậy nên con cháu đã “thành niên” về mặt tuổi tác, nhưng trên phương diện tâm linh, nghĩa là về phía nghi lễ, quyền lực tuân theo luật thế thứ; người dâng lễ thờ phượng nhân danh gia tộc phải thực sự là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo.

Do đó, với sự mở rộng của tộc họ, chúng ta thấy quyền lực phụ quyền biến đổi và mở rộng. Nói đúng ra “cha” không còn là chủ gia đình; ông chỉ là người đứng đầu trực tiếp của con cháu mình; phía trên ông có ông nội, tổ tiên chung, hoặc người thay thế ông do luật thế thứ. Vậy, người đứng đầu dòng họ - hoặc Trưởng tộc - là người lớn tuổi nhất của một tập hợp các gia đình khác nhau cùng họ, nhận cùng một tổ tiên[158]; quyền hạn của người này, được mở rộng, là quyền hạn của người cha gia đình ban sơ. Theo Luro, ông là thẩm phán, người hòa giải hợp pháp của tất cả các tranh chấp giữa bà con của các nhánh khác nhau. Về mặt chức năng, ông thay thế cha hoặc ông nội của mỗi gia đình cụ thể, khi gia đình này thiếu khuyết người đứng đầu. Ông chăm lo các lễ nghi tôn vinh tổ tiên do trưởng nam nhánh trưởng cử hành[159]. Ông giám sát việc phân chia gia sản; ông bảo vệ những ai còn vị thành niên vì lợi ích của họ và chỉ định người giám hộ nếu cần.

Sau những gì vừa được nêu về quyền lực gia trưởng và quyền lực của trưởng tộc, có vẻ như vai trò phụ nữ trong gia đình đơn giản là bị lu mờ. Nguyên thủy, quyền lực của chồng đối với vợ là tuyệt đối. Bằng chứng ngày nay (thời điểm đầu thế kỷ XX) là trong luật vẫn cấm bán hoặc cho mượn phụ nữ. Người chồng là chủ tuyệt đối đối với tài sản là vợ mình; anh ta có thể tùy ý sử dụng ngay cả khi việc đó trái với ý muốn của người vợ vì theo luật, vợ không thể nộp đơn khiếu nại chồng. Về cái chết của chồng, nếu anh ta không phải là chủ gia đình, nếu anh ta vẫn sống trong nhà người cha, thì góa phụ sẽ ở dưới quyền lực của cha hoặc ông của người quá cố.

Nhưng tập tục ở đây có vai trò làm nhẹ đi sự nghiêm khắc của luật lệ và khiến phụ nữ trở nên độc lập hơn, có vai trò cao quý hơn, gần với vị trí phụ nữ theo Ki-tô giáo. Phụ nữ không còn có thể bị bán hoặc cho mượn, họ còn có một số quyền nhất định mang lại cho họ một thứ hạng cao trong gia đình hơn so với trước đây. Quyền của người mẹ trong gia đình thực sự không bao giờ bằng được người cha. Trong mọi trường hợp, người vợ không thể hoàn thành các nghi lễ tôn giáo và do đó, không thể hưởng các đặc quyền gắn liền với thực hành này. Nhưng họ có một thẩm quyền đạo đức không thể chối cãi; những đứa con phải phục tùng, kính trọng họ như với người cha. Ngày nay họ có quyền tự do xử lý tài sản của mình, với điều kiện được sự ủng hộ của người đứng đầu gia đình hoặc họ hàng. Trở thành góa phụ, ngoại trừ trong một số trường hợp nhất định, người ta coi rằng cái chết của người chồng đã giải phóng họ khỏi mọi quyền giám hộ. Họ hưởng lợi tức tài sản do người quá cố để lại, và những đứa con không có quyền đòi lại phần thừa kế của chúng, trừ khi người cha đã lập di chúc hoặc phân chia cho chúng khi ông còn sống.

Nhưng những đặc quyền này chỉ gắn liền với phẩm hạnh của góa phụ[160]; nếu họ không thủ tiết, con cái và tài sản của người chồng đầu vẫn để lại cho gia đình. Con phải thuộc về gia đình của cha chúng, khi căn cứ vào việc thờ phượng: chúng không thể tách khỏi tổ tiên của chúng. Bấy giờ, khi tái hôn, người mẹ thay đổi tông phái; vậy họ phải chịu mất tất cả quyền đối với con cái và tài sản dành cho việc duy trì gia đình và thờ phượng mà họ từ bỏ.

Đây là các quy tắc chung trong quản lý tổ chức gia đình. Chúng vẫn tồn tại lâu dài và bất biến vì chúng xuất phát từ việc áp dụng hợp lý một nguyên tắc duy nhất, cực kỳ đơn giản, được chấp nhận rộng rãi, một phần trong những tín ngưỡng cơ bản của người An Nam. Nguyên tắc giống nòi này không chỉ gây khó khăn cho gia đình: nó còn là ý tưởng tôn giáo đã chủ trì thiết chế của các nhóm lớn hơn - làng xãnhà nước; nó đã cho ra các quy tắc ứng xử và do đó tạo ra đạo đức gia đình, chuẩn bị hình thành nên đạo đức xã hội; cuối cùng là cơ sở chế định quyền sở hữu tài sản.

Sự phát triển của quyền sở hữu[161] song song với sự phát triển của nhóm gia đình. Chính trong tập thể tôn giáo gia tộc, ý tưởng về quyền sở hữu tư nhân đã ra đời.

Bằng chứng sáng rõ liên quan đến quyền sở hữu ở người Hy Lạp và La-tinh[162] của Fustel de Coulanges[163] có thể được áp dụng từng điểm ở đây. Ở An Nam cũng như ở Hy Lạp cổ đại, mỗi gia đình đều có tổ tiên; tổ tiên có lăng miếu mà qua đó thể hiện họ có sở hữu đất đai. Không ai có quyền tước đoạt đất đai họ chiếm giữ; một ngôi mộ không bao giờ có thể bị phá hủy hoặc di chuyển; luật nghiêm khắc cấm điều đó[164]. Đây là một phần đất, nhân danh tôn giáo, thành đối tượng tài sản vĩnh viễn của mỗi gia đình. Mảnh đất này rất quan trọng với gia đình, đến nỗi không thể tách ra và không được phép nhường lại. Phần đất nơi yên nghỉ của người chết là không thể thay đổi và vô thời hiệu.

Vậy, quyền sở hữu tư nhân là chế định mà tôn giáo gia đình không thể bỏ qua.

Nhưng tài sản không phải của một cá nhân nào; nó chỉ thuộc về nhóm gia đình được đại diện bởi người lãnh đạo và không thuộc về bất kỳ thành viên nào.

Gia đình, mở rộng để trở thành một bộ tộc, phải đưa đến thay đổi tương ứng trong luật tài sản. Trưởng bộ tộc là chủ sở hữu duy nhất của các vùng đất; tuy nhiên thực sự không thể tuyệt đối tuân theo điều đó được, mỗi nhánh thứ vẫn giữ lại việc sử dụng và tôn tạo phần được phân bổ ban đầu; sẽ là “vô đạo đức” khi thay đổi những phân bổ này bằng việc tuần tự tiến hành chia lại. Bởi vì ở đây không phải là vấn đề, nói về thuyết công sản: đó là cánh đồng mà gia đình canh tác, tổ tiên được chôn cất; gia đình không thể, không được bỏ cánh đồng này.

Do đó, quyền sở hữu thô đối với lãnh địa của bộ tộc thuộc về trưởng bộ tộc, tuy nhiên, ông không thể lấy lại quyền chiếm hữu của gia đình.

Sau đó, bộ tộc trở thành vương quốc, rồi đế chế, quan niệm về quyền sở hữu thích nghi với tổ chức chính trị mới. Hoàng đế trở thành chủ sở hữu đất đai của quốc gia; các thần dân chỉ là những người lĩnh canh phải trả một loại phí thuê: thuế tài sản. Nhưng có thể nói, người dân được thuê đất vĩnh viễn; người ta chỉ có thể lấy lại quyền này trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Điều này giải thích thực tế rằng luật pháp An Nam đã thiết chế di chúc và dường như để qua đó công nhận, cho các cá nhân, một quyền sở hữu thực sự đối với đất đai. Nói tóm lại, quyền di chúc là quyền phân chia đơn giản, phân chia giữa những người thừa kế của người quá cố: quyền sở hữu thô của đất luôn thuộc về Hoàng đế, quyền sở hữu chỉ thuộc về gia đình chiếm giữ hoặc canh tác đất này. Chính nhờ nguyên tắc này mà các vùng đất bị bỏ hoang trong một thời gian xác định được quy trở lại thành lãnh địa của quốc gia[165].

Một hệ quả hợp lý khác cùng một nguyên tắc tất yếu là sự bất khả xâm phạm của di sản. Tuy nhiên, quy tắc này không phải lúc nào cũng có thể giữ được sự cứng nhắc nguyên thủy của nó; như ông J. Sylvestre nhận định hoàn toàn đúng, rồi cũng đến lúc “những nhu cầu của đời sống xã hội” đặt ra nhu cầu chuyển nhượng. Nhưng nhiều dấu tích của sự không thể chuyển nhượng nguyên thủy vẫn còn tồn tại trong tập tục hiện tại. Luật pháp luôn bảo tồn lăng mộ, đặc tính sử dụng bất di dịch đối với một gia đình như vậy khiến cho việc bán đất lăng mộ bị cấm và bị trừng phạt.

Khổng Tử dạy rằng trong ba năm đầu cư tang, con trai không được thay đổi bất cứ điều gì “theo đường lối của cha mình”, nghĩa là tài sản của gia đình trong suốt thời gian này phải giữ không được phân chia giữa con cháu của người quá cố.

Về những tồn lưu khác liên quan đến tính ổn định của quyền sở hữu đất đai là: định chế của hương hỏa, của địa bộ và tập tục bán những bất động sản đã mua lại (a remere). Người An Nam chỉ đành lòng bán những đất đai khi không hy vọng chuộc được. Địa bộ hoặc sổ thuế tài sản, không phải là sổ ghi tên của chủ sở hữu - ở đây không xét đến vấn đề này, là “bản mô tả đất đai”, một mình nó, trước nhà nước, có một tư cách pháp nhân. Hương hỏa, một phần di sản dành để cung cấp các chi phí duy trì việc thờ cúng và được quản lý bởi người chủ gia đình không thể thay đổi. Việc bán tài sản được giao để thờ cúng được Bộ luật tuyên bố là bất hợp pháp và bị phạt bằng việc gởi đi phục dịch ở vùng biên giới xa xôi.

3. Đạo đức

Ngay trong gia đình, như chúng ta đã nói, đạo đức An Nam được phác thảo nên; chính từ môi trường này đã dần dần hình thành nên các quy tắc cơ bản mà đến nay vẫn là cơ sở cho tổ chức xã hội hiện tại.

Đạo đức thay đổi tùy theo từng xứ sở, “nhưng là thay đổi xoay quanh một luật cố định, như một hàm toán học”, Taine nói. “Mỗi xã hội có các yếu tố, cấu trúc, lịch sử, môi trường xung quanh và như vậy, kéo theo đó là các điều kiện sống còn đặc thù của nó... Trong mỗi thế kỷ và ở mỗi quốc gia, các điều kiện sống này được thể hiện bằng các huấn lệnh ít nhiều truyền nối, quy định hoặc cấm các loại hành động như vậy. Khi cá nhân nghĩ về một trong những huấn lệnh này, anh ta cảm thấy bắt buộc; khi anh quên, anh hối hận; xung đột đạo đức là cuộc đấu tranh nội tâm giữa những huấn lệnh phổ quát và mong muốn cá nhân.” Ở An Nam, những điều kiện sống còn này là sự tiếp nối của thờ phượng và gia đình, việc tuân thủ các nghi lễ, duy trì quyền lực gia trưởng. Huấn lệnh chung là tôn trọng truyền thống, tôn giáo và thẩm quyền xuất phát từ đó.

Do đó, ở An Nam, đó không phải là lương tâm chỉ ra cho con người nhận biết nghĩa vụ của mình và giao quyền hạn cho họ; đó không phải là trái tim hướng dẫn hành vi của họ, để dựa vào đó mà họ hành động; nhà đạo đức An Nam không bao giờ nghĩ ra ý tưởng về sự tốt lành, công bằng, sự thật tuyệt đối. Cái chủ đạo có quyền lực tuyệt đối, chỉ một mình đã có thể chỉ huy với tư cách tối thượng mà tất cả phải luôn luôn tuân theo, đó là truyền thống, tôn giáo, thẩm quyền, luật pháp, khuôn phép.

Đạo đức An Nam không khởi từ nội tâm, không xuất phát từ ý thức; “Nghĩ hay hành động theo bản ngã là một tội ác”; luật đạo đức, đó là nghi lễ, tập tục, tôn giáo; đức hạnh, đó là sự hoàn thành chu đáo các nghi lễ, tiêu chí tốt đẹp tuyệt đối, đó là quá khứ.

Các nhiệt tình tự phát, khuynh hướng tự nhiên, các cử chỉ hào phóng bị kìm nén, biến dạng bởi khuôn mẫu cứng nhắc đóng khuôn tâm hồn An Nam.

Hãy lấy một đứa trẻ và nghiên cứu quá trình hình thành cảm xúc của nó. Sự ích kỷ nguyên sơ, đầu tiên làm trẻ nhầm lẫn giữa cảm giác đói với ý tưởng về vú nuôi và nhận thức về vú của mẹ, sẽ sớm được thay thế bằng một sự gắn bó nhất định với người mẹ, một cảm giác quyến luyến sẽ trở thành tình hiếu thảo. Nhưng tình cảm này sẽ phát triển trong nó theo một mức độ và theo đúng nghĩa tương ứng với sự trìu mến có trong môi trường xung quanh mà trẻ nhận biết được; những cái đó, kể từ những giây phút đầu tiên, bị lệch lạc ở đứa trẻ An Nam.

Trong một môi trường đa thê, trong một cộng đồng cực kỳ rộng lớn, trẻ có thể bị tách khỏi người mẹ tự nhiên của mình nếu mẹ là người vợ thứ, hoặc là góa phụ, là người mẹ tái hôn; hơn nữa, được quen thấy ở cha mình là một người chủ đôi khi đáng sợ, có quyền áp đặt sống chết lên nó, một quan tòa khiếp đảm, một tư tế đáng kính, một tổ tiên sẽ trở thành thần, đối với cha mẹ mình đứa trẻ chỉ có thể nhận thấy một cảm giác hòa lẫn giữa sợ hãi, giữ ý, tôn trọng. Thay vì nghe theo mệnh lệnh tự nhiên của con tim, cảm xúc này sẽ bị áp đặt bởi truyền thống, bởi lý lẽ; nó sẽ không còn là một sự trìu mến tự nhiên lẽ ra phải được tự do triển nở, mà là một nghĩa vụ tôn giáo, bức thiết, tất yếu. Ở An Nam không có tình hiếu thảo, chỉ có đạo hiếu.

Khi mối quan hệ của đứa trẻ mở rộng, tình cảm của nó mang đến cho những người khác cũng chính là sự cẩn trọng và lạnh lùng. Cảm xúc yêu mến sẽ không nảy nở mãnh liệt như ở các dân tộc phương Tây. Ngay khi còn thiếu niên, nó không biết nụ hôn của mẹ[166], trưởng thành, nó sẽ bỏ qua những tình cảm cao hơn xuất phát từ tình hiếu thảo: tình yêu đồng bào, tình yêu tổ quốc, tình nhân loại. Sự cởi mở của nó bị tổn hại, sự thăng tiến của nó bị nhốt trong những giới hạn xác định là gia đình. Không có gì tồn tại, cũng không thể tồn tại ngoài vòng hạn chế này.

Cũng như nó không biết làm thế nào để nới rộng một quả cầu lớn hơn so với gia đình, tình cảm của nó, hay cái được gọi là như vậy, người An Nam bất lực trong việc tách rời khỏi tập thể gia đình cái cá tính của họ, tính cách đạo đức của họ; họ không biết cách tự tách khỏi gốc rễ, tự trổ nhánh riêng để nhận thức bản thân. Nền văn minh An Nam sẽ còn đóng băng vĩnh viễn khi không lưu hành trong đó ý tưởng chủ đạo về tôn trọng con người. “Niềm tự hào được tán dương”, như Taine nói, đó là tình cảm về quyền nhà ở, những quyền cố hữu bản chất. Đó là một trong những nền tảng đạo đức của châu Âu chúng ta, nó không được biết đến trong tâm hồn An Nam.

Bị tước bỏ những bản nguyên hiệu quả này, tức những tình cảm tự nhiên, đạo đức nơi người An Nam sẽ khô khan, về cơ bản là thực tế; thực dụng hơn là vị tha, chính trị hơn là nhân đạo.

Sinh ra trong gia đình, họ sẽ gần như chuyên chú trong phạm vi ngôi nhà thay vì những gì mang tính cá nhân hay xã hội. Trong cộng đồng nguyên thủy, cá nhân chưa khác biệt; nó vẫn còn lẫn lộn với các nhân tố khác của khối dân cư; nó không phải là một con người. Thể nhân của họ là gia đình; đối với họ, con người có những nghĩa vụ với các thành viên khác trong gia đình nhiều hơn là với nhân loại.

Mặt khác, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình An Nam không bị điều chỉnh bởi tình cảm tự nhiên, đạo đức của người An Nam sẽ hoàn toàn giả tạo, tất cả đều tương đối; sẽ không có gì tuyệt đối; khác với đạo đức khoa học. Điều đó có nghĩa là đạo đức này sẽ luôn thiếu tầm cao? Xua đi khỏi chúng tôi ý tưởng này. Nhưng không rút ra sức mạnh từ chính nó, chỉ dựa vào quyền lực của truyền thống, nó sẽ thiếu nhiệt tình, tính tự nguyện; thay vì được gợi lên từ một tình cảm bên trong, bật ra từ nguồn mạch, nó sẽ bị áp đặt bởi một ảnh hưởng bên ngoài; thay vì là thành quả của chiêm nghiệm, sẽ chỉ là một mục tiêu để học hỏi, một sự tiếp thu trí tuệ đơn thuần. Có triết gia từng nói: “Ta đã dành cả ngày không ăn và cả đêm không ngủ, để miệt mài chiêm nghiệm, và điều đó không có ích lợi thực sự; việc học hỏi tốt hơn nhiều.”[167] Đạo đức có thể cao siêu; họ chắc chắn sẽ lạnh lùng; không bao giờ khoan dung, sẽ luôn khác với đạo đức tình cảm là đạo đức Ki-tô giáo vốn dĩ luôn vượt trội hơn. Khổng Tử không bao giờ sánh ngang với Chúa Giê-su.

Người An Nam, giống như người Trung Hoa, đã lấy đạo đức và triết lý đặt hàng đầu, đó là nghĩa vụ với gia đình, và trong đó, là đạo hiếu. De Lanessan nói[168], toàn bộ dân tộc thấm nhuần quan niệm đạo đức này đến mức tất cả tổ chức chính trị xã hội của Trung Hoa và An Nam được thành lập dựa trên đó. Tội ác chống lại cha mẹ hiếm đến nỗi có thể xem như không hề tồn tại ở hai quốc gia này. Lòng tôn kính của con cái đối với cha mẹ là như vậy, một đứa con trai, cho dù nó bao nhiêu tuổi, sẽ không bao giờ dám ngồi trước cha mình khi không được cha trực tiếp cho phép; trong mọi nơi mọi lúc, nó phải cúi đầu trước ông, không bao giờ để mặt trời có thể chiếu bóng mình lên mặt cha, v.v.

Đạo hiếu, được viết trong Luận Ngữ, là nguyên tắc cơ bản của loài người.[169] Bởi vì nếu bạn cư xử đúng mực với mọi người trong gia đình rồi “bạn mới có thể giáo huấn bổn phận anh em trong một nước”.[170]

Đạo hiếu cũng là nguồn gốc của sự kính trọng người cao niên, đối với những người lớn tuổi hơn mình, hoặc có phẩm giá cao hơn; đó là lý do vì sao sự lễ độ Trung Hoa này sẽ là tuyệt vời nếu nó không phải một lớp sơn đạo đức giả tạo thay vì là biểu hiện chân thành của một tình cảm sâu sắc và chân thật.

Nó còn là căn nguyên đầu tiên của sự tôn trọng quá khứ, tổ tiên và nam giới. Kính trọng những gì tổ tiên kính trọng; trân trọng những gì họ yêu thích; để phục vụ họ chết như thể họ còn sống; để tôn vinh họ được chôn cất trong mộ như thể họ vẫn còn hiện diện: đây không phải là tột độ của đạo hiếu sao?[171]

Tôn trọng đạo hiếu thảo, tôn trọng tổ tiên, tôn trọng quá khứ, đây là những bổn phận chính được quy định trong nền đạo đức An Nam; đây chắc chắn là một quy tắc cao quý; nhưng quy tắc Ki-tô giáo không phải khuyên răn nhẹ nhàng hơn sao, ngoài ra còn tình hiếu thảo và tình đồng loại thì sao?

Đối với triết gia Trung Hoa, đức nhân là gì? Đó có phải là một tình cảm mà mọi người phải được đối xử bình đẳng, hoặc, như trong giáo lý Ki-tô giáo, nhất là đối với những người bất hạnh, yếu đuối, thiệt thòi về bản chất hay cuộc sống? Đó có phải là một tình cảm nhân từ, một lòng yêu thương anh em? Hơn cả sự tôn trọng. Sự tôn trọng này còn có sự phân biệt trong đối xử với mọi người; chỉ những người đức hạnh hoặc rất đức hạnh mới xứng đáng với điều đó. Mạnh Tử bảo Vạn Chương rằng: “Kẻ sĩ đức hạnh trong một làng hãy nên kết bạn với những kẻ sĩ đức hạnh của làng đó; kẻ sĩ đức hạnh trong một vương quốc hãy nên kết bạn với những kẻ sĩ đức hạnh trong vương quốc đó; kẻ sĩ đức hạnh trong thiên hạ hãy nên kết bạn với các kẻ sĩ đức hạnh trong thiên hạ”[172] và cứ thế, cho đến khi nó lan rộng ra, những tình cảm thân ái này trở thành tình cảm với tất cả mọi người đức hạnh. “Khi sống ở quốc gia nào, hãy giao du để theo học những kẻ khôn ngoan trong các đại phu của quốc gia này và kết bạn với những hiền nhân và đức hạnh trong số các học giả.” Theo Tử Cống, “thực hành đức nhân”[173], không nghi ngờ gì nữa, là một giới luật tốt đẹp, một câu châm ngôn đáng ngưỡng mộ; nhưng lòng lân tuất, yêu thương của Chúa Giê-su với người chài lưới, phải chăng đó là một tình cảm cao đẹp hơn, cảm động hơn, đáng yêu hơn đức nhân được hiểu ở người Trung Hoa, chỉ bao gồm trong sự kính trọng và ngưỡng mộ của con người đức hạnh?

Sự kính trọng và ngưỡng mộ này có thể tạo ra những kết quả xứng đáng. Cụ thể, chúng dẫn đến việc bắt chước các gương tốt và do đó góp phần phát triển tình yêu hoàn hảo ở An Nam và Trung Hoa, vốn là nền tảng cho đạo đức cá nhân. Không nghi ngờ gì nữa, như ở phương Tây, sự tôn trọng bản thân được dựng lên như một quy tắc: “Cẩn thận đừng làm gì ở nơi bí mật nhất mà khiến bạn phải đỏ mặt”[174]; nhưng họ đã không đạt được như ở chúng ta “sự tán dương” mà tôi vừa nói; họ đã không đưa đến một sự khẳng định cấp bách về quyền con người; họ vẫn giữ một tình cảm bình lặng và yên tĩnh, không hăng hái và hiệu quả; họ không vươn đến chủ nghĩa duy tâm, ngay cả với quan niệm về quyền và công lý tuyệt đối, họ vẫn ở trong phạm vi đời sống thực tiễn; họ giữ một tính cách cơ bản con người; họ luôn thấm đẫm cái mùi vị kỷ. Kinh Thi nói: “Chú tâm đến chính mình ngay khi ở trong nhà - Đó là người quân tử được kính trọng, ngay cả khi chưa làm gì cả.”[175] Bất chấp tất cả, lợi ích cá nhân xuyên thấu dưới bề ngoài tráng lệ bao quanh nó. Người ta vẫn cảm thấy - và luôn luôn - sự bất lực cơ bản này của tâm trí để giải thoát bản thân khỏi thực tại vật chất, để đạt được ý tưởng thuần khiết, ý tưởng chủ đạo, ý tưởng quyền lực, đức tin không thể lay chuyển được thế giới và đặt con người ở cấp độ thần thánh.

Các triết gia của xứ sở da vàng không bứt được cái nhìn của họ khỏi mặt đất; họ không bao giờ nói như Chúa Giê-su: “Vương quốc của tôi không thuộc về thế gian này.” “Vương quốc của họ, như de Lanessan viết, ở đây, bên dưới; đó là trên trái đất, con người đức hạnh, cần cù hoàn thành mọi nghĩa vụ với bản thân, cha mẹ, bạn bè và những người khác, sẽ gặt hái thành quả lao động, học tập, kiên trì và đức độ. Chính trong niềm hạnh phúc và tình cảm của mình, sự tận tâm của bạn bè, sự tôn trọng của đồng bào và sự hài lòng với lương tâm chính mình, họ sẽ tìm thấy phần thưởng. Chính cũng ở trong thế giới này mà con người sẽ phải chịu sự trừng phạt khi thiếu hiểu biết, thô lỗ, mắc tật xấu và gây lỗi lầm. Nếu họ giết người, họ sẽ bị báo thù; nếu họ hám lợi, họ sẽ bị khinh bỉ; nếu họ không hoàn thành nghĩa vụ với gia đình, bạn bè, đồng bào, họ sẽ bị mọi người ghê tởm và kết án, không bao giờ vươn đến bậc ‘quân tử’ xứng đáng để giáo huấn và cai trị người khác.”[176]

Đạo đức lạnh lùng và nghiêm trang này, không sôi nổi, không có tình yêu đại lượng, không có tưởng tượng cao siêu, rất phù hợp với tính khí uể oải của chủng tộc; có lẽ sẽ tốt hơn khi nói rằng cái đó chỉ đơn giản là biểu hiện của chính họ.

Dù thế nào đi chăng nữa, với thời gian và nhờ hiệu quả của hệ thống giáo dục, nó đã thâm nhập các tâm hồn và qua đó là toàn bộ xã hội. Giáo dục và huấn thị đã tác động, nhưng hiệu quả hơn thế nữa, trong cùng một nghĩa là đạo đức. Bắt đầu như từ một nguyên tắc sai lầm, chúng không giá trị hơn đạo đức.

Đạo đức cư trú, không phải trong tình cảm, nhưng trong những thực hành đơn giản, các nghĩa vụ không gì khác hơn là những lề thói đơn thuần, việc dạy đạo đức chủ yếu mang tính hình thức. Hiểu biết về khuôn phép, sở hữu những châm ngôn đã trở thành toàn bộ đạo đức. Đạo đức được học như người ta học vật lý hoặc địa lý, chuyên tâm huy động ghi nhớ chứ không phải nhận thức. Ý nghĩa đạo đức không tồn tại; đạo đức là toàn bộ vỏ ngoài; giá trị đạo đức nằm ở hình thức, không phải trong bản chất hành động, vẻ ngoài thể hiện cái bên trong; người phô bày, trong các diễn văn, những châm ngôn tuyệt diệu, giới luật khôn ngoan, là một người đức hạnh.

Ta có thể đoán định hệ quả mà một sự sai lệch ý nghĩa đạo đức như vậy có thể gây ra trong tổ chức xã hội. Khi tình cảm chính trực biến mất, khi ý nghĩa về công lý bị làm sai lệch hoặc mất đi, khi ý niệm tốt xấu bị lẫn lộn với vẻ ngoài của nó, khi sự thật bị chôn vùi và quy ước ngự trị, xã hội lao đến sự phân rã, tiêu vong.

Vậy công lý không được nhận thức ở An Nam? Không hề, không nghi ngờ gì nữa, tất cả người dân đều có cảm giác mơ hồ ít nhiều về nó; ở đây, công lý được hướng dẫn bởi các nguyên tắc sai lầm, giả tạo; công lý không phải là biểu hiện của luật vĩnh cửu “với phần bản văn không nằm ở đâu khác ngoài những lý lẽ thiêng liêng và trong ý thức loài người”. Trong đức hạnh của mối tương quan mật thiết giữa luật của bổn phận và luật của hình phạt, điều này sẽ dựa trên các nguyên tắc chuẩn tương tự như luật đầu tiên.

Người ta sẽ nhận ra rằng chúng tôi nói: “luật hình phạt” và không phải là “luật” phổ quát. Luật dân sự, tư pháp, quyền con người không tồn tại ở An Nam, hoặc ít nhất nó chưa bao giờ được xây dựng; nó chỉ đơn giản nằm trong tập tục; nó chưa bao giờ là nội dung với các điều khoản rõ ràng. Và đây không chỉ là một sơ suất; đó là hậu quả tự nhiên của một nguyên tắc đã được thể hiện: về mặt đạo đức, cá nhân không tồn tại; về mặt pháp lý, không có công dân An Nam. Đơn vị đạo đức là gia đình; đơn vị hành chính cũng sẽ là gia đình hoặc những gì chúng ta có thể xem là phần mở rộng của nó: làng xã. Nhà nước không biết đến cá nhân, nên nó không phải quan tâm các quy tắc chi phối các quan hệ cá nhân, Bộ luật im lặng trong việc liên quan đến tình trạng của con người và tài sản, hợp đồng, nghĩa vụ, v.v. Nhưng mặt khác, nó triển khai một cách xa xỉ các quy chế, toàn bộ kho hình phạt nhằm đảm bảo sự tôn kính của tôn giáo và việc duy trì uy quyền và truyền thống.

Image

Bắc kỳ, Hà Nội - cổng Văn Miếu.

Bộ luật có các luật nghi lễ liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên và các lễ nghi, tang ma và mộ phần, thiết lập các quy tắc tang chế theo mức độ quan hệ họ hàng và các quy tắc chế định và quản lý tài sản thờ cúng; thêm nữa, các luật nghi lễ này cung cấp các quy tắc nghi thức đặc biệt đối với vua chúa và nói chung áp dụng chúng cho tất cả các quan chức công. Thêm vào đó, các nhà lập pháp thể hiện đầy sự quan tâm với gia đình mà họ rất quan tâm hòng bảo đảm sự nối dõi; kết hôn, ly dị, nhận con nuôi là phần nội dung của các quy định tỉ mỉ; họ vĩnh viễn hóa quyền lực gia trưởng bằng việc ban hành các hình phạt nghiêm khắc. Nhưng trong tất cả những điều này, không bao giờ có quan điểm hướng vào cá nhân; không bao giờ coi luật pháp là tài sản bất khả xâm phạm của cá nhân con người; con người chỉ tồn tại như một thành viên của gia đình hoặc của xã hội: một gia đình lớn. Công lý An Nam giống như đạo đức: thực dụng; mục đích là để đảm bảo trật tự công và lợi ích chung, thậm chí gây bất lợi cho lợi ích cá nhân.

II. Khổng giáo và ảnh hưởng của nó lên thiết chế chính trị

1. Quan niệm của Trung Hoa về nhà nước

Chúng ta phải dừng lại một chút để xem xét một yếu tố mới, trong lĩnh vực tiến hóa này của xã hội An Nam, mà chủng tộc đã không rút ra từ nền tảng của chính nó. Có thể thừa nhận rằng cho đến nay tất cả những gì chúng ta đã thấy về nền văn minh An Nam đều là nguyên bản. Ngôn ngữ, tín ngưỡng, cách cư xử, phong tục, đạo đức trong nước, tổ chức của gia đình và làng xã, tất cả điều này là của An Nam; nhưng chỉ điều đó, bởi vì tổ chức hiện tại của dân tộc An Nam đòi hỏi một ảnh hưởng nước ngoài, một sự thúc đẩy mà nếu không có thì nó sẽ không đạt đến mức độ ưu việt được công nhận ngày nay. Nếu các nền móng đầu tiên của xã hội là thuần An Nam, thì tổ chức chính trị lại hoàn toàn Trung Hoa; nguyên tắc chủ trì quan niệm của nó là Trung Hoa; nguyên tắc này là triết học.

Học thuyết triết học tại An Nam, tất cả nhập từ Trung Hoa, việc này dẫn đến hệ quả lớn nhất: chính nó đã khởi xướng cho toàn bộ nền văn minh Trung Hoa-An Nam; đó là điều mà chúng ta phải nhìn nhận trong tất cả thiết chế được lập bởi dân tộc chinh phục.

Học thuyết của Khổng Tử, trên thực tế, có một đặc tính chính trị nổi trội; nó hàm chứa, và nó đúng, trong nó một giáo huấn đạo đức, tuy nhiên mục đích thiết yếu của nó là cai trị con người cho tốt đẹp.

Nguyên lý triết học Trung Hoa là không ngừng tu sửa bản thân và tu chỉnh tha nhân. Pauthier viết, “tu sửa hoặc hoàn thiện bản thân là tuyệt đối cần thiết để đi đến cải biến những người khác. Người càng nổi trội, thứ bậc càng cao, nhiệm vụ tự hoàn thiện càng lớn; vậy, Khổng phu tử coi việc trị nhân là sứ mệnh cao nhất và quan trọng nhất có thể được trao cho bậc chí thánh, như một thiên mệnh thực sự.”[177]

“Trong thiên hạ, triết gia Trung Hoa nói, chỉ có bậc chí thánh, bằng khả năng nhận biết thấu đáo và hiểu đầy đủ các quy luật nguyên thủy của chúng sinh, mới xứng đáng sở hữu quyền lực chủ tể và chỉ huy con người; người mà, bởi khả năng của mình có một tâm hồn vĩ đại, cao thượng, nhã nhặn và dịu dàng, có khả năng sở hữu quyền lực ban bố ân huệ tràn đầy; người mà, bởi khả năng của mình luôn trung thực, đơn giản, nghiêm trang, chính trực và công bằng, có khả năng thu phục sự kính trọng và tôn sùng; người mà, bởi khả năng của mình được khoác lên hào quang trí tuệ, và tài năng mang lại từ một sự học tập cần mẫn, và sự thông minh đưa đến một sự truy cứu chính xác về những điều ẩn giấu nhất, những nguyên tắc tinh tế nhất, có khả năng phân biệt chính xác giả chân, thiện ác.”[178]

Nguyên tắc kỳ diệu, trong thực tế, đã trao cho tất cả các thiết chế chính trị và xã hội của Trung Hoa và An Nam, cái đặc tính này dân chủ và sâu sắc đến mức được bảo tồn cho đến ngày nay: những luật lệ vĩnh cửu, bất biến chi phối nhân loại, dưới mối tương quan tay ba của con người về bản chất được coi là đạo đức hoàn hảo, trong quan hệ gia đình, cũng như thành viên của xã hội, chỉ có thể được nhận biết và dạy dỗ hoàn hảo bởi những người có văn hóa đạo đức trí tuệ nhất; bằng cách học tập, bằng công việc, bằng tâm hồn cao thượng, mỗi người đều có thể đạt đến phẩm giá tối cao của “nhân giáo”, có thể xứng đáng với “thiên mệnh”. Nguyên tắc kỳ diệu, trong thực tế, tôi nhắc lại, nhưng áp dụng cho người Trung Hoa, nghĩa là với một lý lẽ ấu trĩ như là thảm họa, đã cho những hậu quả thảm hại nhất: duy chỉ “thánh nhân” mới xứng đáng với vương quyền; vậy bậc đế vương phải là một “thánh nhân”; chỉ có “hiền nhân”, “quân tử” mới có khả năng giáo huấn và cai quản con người; do đó, các quan lại và học giả cai quản và giáo huấn con người phải là “những quân tử”, “những hiền nhân”.

Tuy nhiên, từ nguyên tắc này, nguồn cội của rất nhiều sự giả dối và quan niệm giả tạo về gia đình, khởi nên tất cả các học thuyết chính trị của Trung Hoa cùng toàn bộ tổ chức của xã hội An Nam.

Chưa hết, còn cần phải thêm vào những giáo điều này sự lạc quan ngây thơ của Viễn Đông. Đối với triết gia Trung Hoa, bản chất con người rất tốt, Mạnh Tử nói, “Bản chất con người, bẩm sinh là tốt đẹp, như nước chảy xuống tự nhiên. Nếu không có con người nào tốt bẩm sinh, thì nước cũng chẳng theo lẽ tự nhiên mà chảy từ cao xuống thấp.” Giả thuyết này dẫn đến những giả thuyết khác, không kém phần lạc quan, không kém phần giả dối: sự tốt đẹp của gia đình, và người ta tổ chức xã hội theo mô hình của nó; sự thiện hảo của chủ gia đình, và ông đã được trao quyền tuyệt đối; sự xuất sắc của lãnh đạo các chủ gia đình: Hoàng đế hoặc đại diện của ông, và như vậy thuyết chuyên chế đế quyền được thiết lập và thừa nhận, do đó điều huyễn hoặc quái gở này được thực tế hóa, “trò đùa vĩ đại” của một chủ nghĩa chuyên chế trị vì trong một xã hội mang tinh thần dân chủ.

2. Nhà nước An Nam

Tổ chức hiện tại của Nhà nước An Nam không phải hoàn toàn là tác phẩm của sự đô hộ Trung Hoa. Vào thời điểm xảy ra các cuộc xâm lăng đầu tiên của Thiên triều, quốc gia Giao Chỉ đã trải qua các biến đổi xã hội để chuẩn bị đón nhận cách tổ chức cao cấp mà người chiến thắng ban cho.

Trên thực tế, theo quan điểm chính trị, chúng ta nên nghĩ rằng với việc dân tộc An Nam đã trải qua gần như song song cùng giai đoạn với Đế chế Trung tâm, rất có thể là giữa nhà nước man rợ Giao Chỉ đầu tiên và nhà nước văn minh của người dân An Nam đương thời đã có một thời kỳ chế độ phong kiến.

Chúng ta biết rằng Trung Hoa, trước khi trở thành một đế chế rộng lớn như ngày nay, là một liên minh đơn giản của các bộ lạc, mỗi thủ lãnh là một tù trưởng hoặc một tiểu vương, được hợp nhất bởi các cộng đồng chủng tộc hay lợi ích, dưới sự chỉ huy của những liên minh mạnh nhất. Mãi đến thế kỷ III TCN, tám (sáu – BT) nước phong kiến nguyên thủy bị chinh phục dưới uy quyền Hoàng đế Tần Thủy Hoàng. Không còn nghi ngờ gì nữa, An Nam cũng vậy, nhờ hiệu ứng tự nhiên của quy luật tiến hóa xã hội học phổ biến đối với tất cả các dân tộc.

Gia đình, một tập thể vững chắc thành lập, được tổ chức vững mạnh dưới ảnh hưởng tôn giáo, như chúng ta thấy, có khả năng phát triển vô hạn. Chúng tôi đã giải thích làm thế nào mỗi đứa con trai trở thành người chủ gia đình, nhánh chính, mà không làm gia đình tan rã, thậm chí thay vào đó có thể mở rộng chi của nó. Sở hữu các quy tắc đầy đủ, chính xác, được biểu hiện bằng những tín ngưỡng sâu sắc và có thể dễ dàng thay đổi, một cách hợp lý, cho phù hợp với một phạm vi ngày càng rộng lớn, đó là mô hình phù hợp để theo đó thiết lập hoặc, chính xác hơn, tái lập thị tộc và bộ lạc.[179]

Người đứng đầu gia đình hoặc dòng họ, chủ sở hữu của cải và con người của tập thể, vương quyền và giáo quyền, nhất thiết rồi sẽ trở thành người đứng đầu một nhóm ngày càng mở rộng. Trong nhóm này, sự phân chia tài sản, cuộc sống chung dưới quyền của người cao niên nhất, là quy tắc; mỗi nhánh thứ đều tổ chức lễ cúng riêng, nhưng các nghi lễ tôn vinh tổ tiên chung thì mỗi năm đều triệu hồi đủ tất cả thành viên cùng một gốc rễ. Người đứng đầu của cộng đồng tuyệt vời này, mặt khác, đã tuân thủ các quy tắc gia đình, quyền phán xử đối với tất cả các thành viên của nó. Nếu được thêm vào, vì nhu cầu riêng của mình, nhóm có thể đi đến quyết định dựng lên một nhà thờ chung, một ngôi nhà chung, v.v. và đến đây ta thấy rằng nó đã thiết lập một tổ chức tuyệt đối hoàn chỉnh.

Vẫn là làng xã ngày nay, bộ máy hành chính thuần An Nam, đạo đức cá nhân độc lập, không có quyền giám hộ; một nhà nước nhỏ trong nhà nước; tự quản lý, phân phối thuế và thu chúng để nộp lại cho Quốc khố; bảo đảm cho sự cai quản lãnh thổ và bảo trì các công trình công cộng; “trưởng làng”, tóm lại, là người điều chỉnh các vụ việc ngoài phạm vi can thiệp của triều đình.

Nhưng nhà nước tự trị nhỏ bé này, tự nó không đủ, cũng ghen tỵ với sự độc lập, quyền lợi, đặc quyền của nó. Từ đó sự đối chọi, đấu tranh, chiến tranh xảy ra liên miên; song song với đó là những cuộc liên minh, đồng minh, hợp nhất chống lại một kẻ thù chung; cứ thế là một sự mở rộng mới, một cấp độ mới vượt lên trong tổ chức xã hội. Một số thị tộc thống nhất tạo thành một bộ lạc; một số bộ lạc tạo thành một vương quốc.

Như vậy, gần như trước cuộc xâm lược của Trung Hoa, (có thể đã có) nhà nước của quốc gia Giao Chỉ mà sau này được gọi là Bách Việt hoặc Trăm bộ lạc. Trung Hoa đã cho những bộ tộc bán man rợ này sự gắn kết chính trị mà họ thiếu, và khiến vị vua bản xứ trở thành chư hầu. Dưới sự bảo vệ toàn năng này, vương quyền trở nên mạnh mẽ hơn song song với việc quốc gia nhận thức được về bản thân và sức mạnh của mình. Sau khi đánh đuổi kẻ xâm lược, An Nam lớn lên; vương nghiệp trở thành Đế chế.

Hoàng đế là chủ tế, giáo chủ, thẩm phán tối cao. Đế quyền, như ban đầu là thẩm quyền gia trưởng, trở nên tuyệt đối, không chịu sự kiểm soát nào, không ai được kháng cáo. Đối với nền tảng đó là tôn giáo; đối với các giới hạn, là tập tục. Giống như quyền lực gia trưởng, đó là sự thừa kế; được truyền theo các quy tắc tương tự. Sự kế vị ngai vàng truyền từ nam sang nam theo thứ tự quyền trưởng nam; và bởi người sinh ra đầu tiên, phải hiểu, không phải là con cả của những người vợ thứ khác nhau của nhà vua, mà là con cả trong các con của hoàng hậu hợp pháp, của người phụ nữ hạng nhất. Phụ nữ không thể thờ cúng tổ tiên, vì lý do này bị loại khỏi ngai vàng. Nhưng, như trong gia đình, trong trường hợp không có người thừa kế nam, người phụ nữ vẫn giữ một thẩm quyền nhất định, họ được phép nhiếp chính.

Nếu có quyền của một người cha, Hoàng đế cũng có nghĩa vụ. Ông ta phải yêu thương dân như con của mình: “Duy có vua gợi lên niềm vui, chính là cha và mẹ của dân. Những gì dân yêu, yêu nó; những gì dân ghét, ghét nó; đây là cái gọi là cha và mẹ của dân.”[180]

Ông ta phải khích lệ sự tôn kính, đưa ra tấm gương đức hạnh. “Người nắm một đế chế không được bỏ qua việc chăm chút bản thân để hành thiện và lánh ác; nếu không tính đến những nguyên tắc này thì hậu quả là đế chế tàn hoại.”[181] Đó là quỵ định và cũng là hình phạt. Người cha xử sự không đúng mực đánh mất sự kính trọng của con cái; nhà vua xấu mất đi sự kính trọng của thần dân và ngai vàng của mình. “Được lòng dân sẽ có được đế chế. Mất lòng dân sẽ mất đế chế. - Thiên Khang cáo có viết: ‘Thiên mệnh mang lại vương quyền cho một người không trao nó cho anh ta mãi mãi’. Điều đó có nghĩa là bằng cách hành xử tốt hoặc công bằng, người ta có được nó; còn nếu hành xử xấu hoặc bất công, người ta sẽ đánh mất nó.”[182]

Ý tưởng về quyền lực tối cao không tách khỏi ý tưởng về sự tốt đẹp hoàn hảo, công lý hoàn hảo.

Nghĩa vụ như vậy tất nhiên là trách nhiệm lớn. Hoàng đế đảm đương toàn bộ. Luro viết, “Thiên tử phải tuyên bố mình có tội với những bất hạnh tác hại đến quốc gia; khiêm nhường thú nhận những điều xấu xa của chính mình trong các chỉ dụ; sắp đặt trai giới tại triều, cho các quan chức; hiến tế để xoa dịu cơn thịnh nộ từ trên cao và mang lại sự thịnh vượng.”[183]

Những quan niệm hư ảo này dường như không có hoặc rất ít ảnh hưởng thực sự ở An Nam; những điều đó đã góp phần đặc biệt vào việc duy trì nguyên tắc chủ quyền của đế quốc mà người ta có thể nghĩ là đã bị lung lay bởi các cuộc nổi dậy hoặc các cuộc nội chiến.

Nhưng bằng cách đảm bảo sự ổn định của chế độ, chúng cũng gây ra sự yếu kém.

Nếu quyền lực vô hạn nằm trong tay một vị vua chính trực và thông minh, sẽ làm triển nở được từ cội rễ sự thịnh vượng cho đất nước, niềm hạnh phúc cho người dân, còn nếu phó thác cho vị vua bất chính hay thiếu kiên quyết, và đã xảy ra rất nhiều ở An Nam, thì nó trở thành nguồn gốc của lạm quyền tất nhiên. Quan lại tham vọng nắm quyền lực thực tế; Hoàng đế tiếp tục ký sắc dụ, vẫn ngự triều nhưng không còn cai trị. Lịch sử An Nam hiện đại, như chúng ta đã thấy, phần lớn được tạo nên từ những cuộc tranh quyền đẫm máu của các chúa phủ và các lãnh chúa lớn, Trịnh và Nguyễn, dưới sự cầm quyền vô năng của vua nhà Lê. Quyền lực Hoàng đế hư danh hơn thực quyền; nếu không luôn là miếng mồi của một số kẻ thủ đoạn, thì trong mọi trường hợp đều bị giới hạn bởi thói tục, lợi ích chung hoặc riêng. Như vậy, quân chủ chuyên chế buộc phải dung túng cho chế độ tự trị làng xã. Vì vậy, trên thực tế, vai trò nào của Hoàng đế bị suy giảm? Tóm lại trong một vài việc, ông de Pouvourville nói: “Hoàng đế thủ vai đại diện cho quốc gia, vai trò tối cần, và được kính trọng nhất; sự vô dụng đến từ sự thể rằng nó lơ lửng trên các chức phận hữu ích; ông cá nhân hóa truyền thống”, vì thế ông phải là người tuân thủ nghiêm khắc và trung thành nhất. Hoàng đế chuyên chế, trong thực tế, là “tù nhân đầu tiên và vẻ vang nhất của chủ nghĩa chuyên chế của chính mình”[184]

Vì ông là cha của dân tộc, người cha là tư tế trong gia đình, Hoàng đế là tư tế vĩ đại của quốc gia.

Như vậy, nhân danh thần dân, chỉ mình ông ta có quyền dâng lên hy tế trang trọng cho vị hoàng đế tối cao của vạn vật và linh hồn.

Ông còn là người phán xử chung thẩm; và hành động ấy mở rộng - chí ít về mặt nguyên tắc - cho tất cả các vấn đề, cho tất cả mọi người. “Tất cả những người bị oan ức, được dẫn đến phiên tòa phúc thẩm trước nhà vua, chỉ cần đánh vào chiếc trống treo bên ngoài bờ thành hoàng cung. Nhưng khốn cho kẻ ngổ ngáo nào đã đánh nhầm vào trống; hình phạt thấp nhất có thể phải chịu là tối thiểu một trăm hèo.”[185] Thực tế, vai trò tòa án phúc thẩm trước vương pháp gần như là không; giống như nhiều thiết chế khác ở An Nam, việc đó là ảo tưởng.

Giống như người cha là chủ sở hữu duy nhất của gia sản, Hoàng đế là chủ sở hữu độc quyền đất đai; thần dân - con cái - chỉ là những người lĩnh canh trả tiền cho việc duy trì cộng đồng, hoàng gia, đế chế, một loại thuế ruộng đất. Trên thực tế, như chúng tôi đã trình bày ở trên, bên thuê đất không thể bị tước quyền sử dụng của mình ngoại trừ trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nhưng về nguyên tắc, quyền của vua vẫn trên hết.

Một lần nữa chúng ta thấy sự chuyên chế của chính quyền bị đánh bại bởi tập quán; quy ước bị bãi bỏ bởi thực tế. Ấy thế nhưng tất cả những giả dối mà người An Nam dựa vào đó mà sống, những giả điều khiến họ chết, tồn tại, chịu đựng lại là thiêng liêng. Thực tế mâu thuẫn với lý thuyết; thực nghiệm chứng minh tính không chính xác của nguyên tắc... Dẫu có thế nào đi nữa, truyền thống không thể đụng chạm, nó là thần thánh, là bất biến.

Giống như chỉ có vẻ ngoài uy quyền, hoàng gia bù nhìn chỉ sở hữu những thuộc tính sức mạnh ảo tưởng. Quân đội và hải quân, thị vệ bên trong và bên ngoài của ông là tuyệt vời. Nhưng chúng chỉ tồn tại trên giấy. Một lần nữa chúng ta bắt quả tang người An Nam phạm tội nói dối.

Quân đội được chỉ huy bởi năm thống chế: [186] thống chế trung tâm là nguyên súy của vương quốc và chịu trách nhiệm cá nhân phòng vệ Kinh thành Huế, nơi nhà vua trú ngụ; tiền quân đô thống, hữu quân đô thống, tả quân đô thống và hậu quân đô thống. Những thống chế này được gọi là: năm trụ cột của đế chế. Cách tổ chức này lẽ nào không thông minh sao? Quân đội đế quốc đặt dưới sự chỉ huy của nguyên soái trung tâm, chia thành quân cấm vệ và quân đội địa phương. Trong lực lượng cấm vệ, bộ binh gồm tám mươi vệ mỗi vệ gồm năm trăm người. Mười vệ thành một doanh gồm năm ngàn người, được chỉ huy bởi một chưởng doanh với các phó tướng dưới quyền. Đứng đầu mỗi vệ là một một chánh quản vệ được trợ lý bởi một phó quản vệ. Mỗi đội gồm năm mươi người có một đội trưởng với các hạ sĩ quan dưới quyền.

Quân đội hải quân có ba mươi vệ, nghĩa là mười lăm ngàn người dưới quyền chỉ huy của một đô đốc trưởng. Đô đốc này được hỗ trợ bởi một phó đô đốc, người chỉ huy mười vệ, và hai chuẩn đô đốc, mỗi người chỉ huy mười vệ.[187]

Image

Nam Định, ngày 28 tháng Mười hai năm 1897, kỳ thi Hương năm Đinh Dậu: các tân khoa làm lễ bái tại Vọng cung. © André Salle

Không phải tất cả những thứ này đáng ngưỡng mộ sao? Quả là vậy; nhưng các con số là giả dối, chỉ có bộ khung bên ngoài; quân đội thiếu người, hải quân thiếu tàu thuyền; một sự rỗng tuếch có tổ chức. Nói tóm lại, đó chỉ là thêm một giả tưởng được thừa nhận. Dân tộc An Nam mà lại không ảo tưởng?

3. Nền hành chánh

Chính quyền dân sự có quyền tổ chức quân đội. Việc này được giao cho các quan văn. Với những gì chúng ta đã biết, theo lý thuyết về người An Nam, thì những quan chức đó phải là “những hiền nhân”, “những quân tử”, những tấm gương đức hạnh. Còn chúng tôi sẽ nói họ thực sự là gì. Họ là những Nho sĩ, nghĩa là người vượt qua các kỳ thi văn chương và sở đắc những gì ở An Nam gọi là một sự đào tạo hoàn chỉnh, nghĩa là theo học thuyết Khổng Tử và các nhà hiền triết theo trường phái của ông, những sách thánh hiền, lịch sử và văn chương Trung Hoa, lịch sử An Nam, luật tập tục hoặc luật thành văn.

Luro, trong tác phẩm đáng nhớ của mình về đất nước An Nam, cho chúng ta biết những bài thi cử văn chương này là gì. Có ba kỳ:[188]

1. Kỳ thi nửa năm theo tỉnh nhằm duy trì sở thích học tập trong dân chúng.

2. Kỳ thi ba năm một lần, theo khu vực, lúc đó Nho sinh đến lấy bằng tú tài và cử nhân.

3. Các kỳ thi tại kinh đô ở đó có sự tham gia của những cử nhân đến từ các tỉnh khác nhau của vương quốc, những người muốn đạt được hạng tiến sĩ.

Các bài thi đều ở dạng thi viết và đều giống nhau, từ các kỳ thi cấp tỉnh đến các kỳ thi ở kinh đô; sự khác biệt duy nhất là trong sự lựa chọn của các chủ đề, từ bậc này sang bậc khác, ngày càng trở nên khó trình bày hơn. Phần đầu tiên liên quan đến việc giải thích một đoạn sách kinh điển, trong đó các thí sinh phải thể hiện tất cả sự uyên bác của họ. Thứ hai, có hai bài thơ sáng tác thể loại khác nhau. Thứ ba là diễn giải về một chủ đề triết học được lấy từ Tứ thư. Thứ tư, bắt nguồn gần đây, bao gồm ba chủ đề, trong đó quan trọng nhất là một bài tán tụng hoặc một bài nghị luận.

Tất cả bài văn, trong kỳ thi nửa năm, đạt điểm “tối ưu”, người viết được miễn trừ dân binh và lao dịch trong một năm. Đối với các bài văn đánh giá “ưu” hoặc “bình”, họ hưởng quyền được miễn trừ tương tự trong sáu tháng. Số hưởng đặc quyền thường quá nhiều đến mức các quan chức hành chánh làng xã không còn có thể cung ứng đủ nhu cầu về dân binh và lao dịch. Tổng đốc sau đó đã ra lệnh duyệt lại lần cuối các bài văn đạt giải và kỳ thi đã trở thành một cuộc so tài thực sự.

Một thời gian trước các cuộc thi khu vực, tất cả ứng sinh tú tài phải trải qua một kỳ sát hạch trước giám học vùng, giáo thụ truyền dẫn các thí sinh được chấp nhận đến trước thanh tra của tỉnh; sau đó tiến hành tiếp một cuộc loại bỏ mới sau một kỳ kiểm tra. Một khi cuộc sàng lọc này hoàn tất, các thí sinh được chấp nhận phải biện minh cho “tiếng tốt về trung thực và khiêm tốn; nổi tiếng về hiếu thảo và tình huynh đệ bằng hữu; sự trong sạch và khoan hòa”; con cháu phường hát hoặc con cháu trong gia đình những người liệt vào quân phiến loạn bị loại khỏi các kỳ thi.

Các thí sinh đạt điểm xuất sắc ở bốn trường thi trong kỳ thi được xếp hạng theo thành tích tương ứng của họ và sau đó được nhận danh hiệu cử nhân văn chương cạnh tranh để lấy số văn bằng được phân phối trong vùng. Những người này được xếp loại ngay sau khi nhận bằng tú tài. Các hạng “ưu” và “bình” cũng đủ điều kiện để nhận bằng tú tài. Tú tài, theo danh hiệu của họ, được miễn phục vụ quân đội và lao dịch. Họ có thể thi lên các cuộc thi ba năm một lần nếu mong đạt bằng cử nhân. Các cử nhân có thể được bổ nhiệm làm giám học, nếu họ không thích đến kinh đô để tham dự các kỳ thi tiến sĩ.

Các kỳ thi diễn ra ba năm một lần. Người ta tiến hành trên tất cả các điểm của vương quốc. Những người có bài thi giá trị trong cuộc thi được nhận vào vòng thi của triều đình, diễn ra trong cung điện của nhà vua. Sau kỳ thi này, ba người đầu tiên trong danh sách được tuyên xưng là tiến sĩ đệ nhất giáp. Các bài thi khác có thể mang lại cho tác giả danh hiệu tiến sĩ đệ nhị giáp hoặc phó bảng. Những cử nhân không được nhận tham gia kỳ thi của triều đình, được Bộ Lại ghi danh và bổ nhiệm một công việc ở phủ hoặc huyện khi có vị trí bị khuyết. Tiến sĩ đệ nhất giáp có thể được bổ nhiệm chức án sát ở các tỉnh; những tiến sĩ đệ nhị giáp có được một vị trí trong các Bộ hoặc tỉnh. Phó bảng được bổ nhiệm cuối cùng, ngay khi có một chỗ khuyết.

Một lựa chọn như vậy đưa đến kết quả gì? Các sản phẩm giả tạo của việc học từ chương này có giá trị gì? Chúng có giá trị là điều chúng mang lại cho chính hệ thống và cho sự đào tạo ở An Nam.

Thay vì một sự đánh giá hoàn toàn ở khía cạnh cá nhân mà có lẽ người ta có thể tin rằng được lấy từ một định kiến nào đó, tôi thích đưa ra ở đây một phán xét từ một người chính trực và anh minh, một người ngưỡng mộ nền văn minh Viễn Đông là Luro. Ông nói, “người ta có thể kết luận những gì chúng ta vừa nêu (liên quan đến các kỳ thi văn chương) rằng thực trạng giảng dạy cộng đồng ở An Nam tương ứng với một nền văn minh rất tiến bộ và xán lạn; hình ảnh về một nền khoa học phổ biến rộng rãi, việc sắp xếp thứ bậc tạo cho nghề nghiệp hành chánh và chính trị xứng đáng nhất trong vô số đối thủ cạnh tranh, là những dấu hiệu không lừa dối của sự thịnh vượng kỹ nghệ và thương mại đáng ghi nhận. Chúng ta đã thấy rằng nó không phải như vậy. Khoa học triết học và văn chương mà chúng tôi đã liệt kê các kỳ thi và chương trình, thường ấu trĩ, đầy kỹ xảo và vô cùng phức tạp như các đặc trưng của nó. Hoặc họ có thể so sánh kiến thức của người An Nam với khoa học kinh viện thời Trung cổ; tất cả nỗ lực tư tưởng giới hạn trong một bài luận miệt mài về kinh sách Trung Hoa. Do đó, một triết lý bế tắc và hoàn toàn ước lệ, coi thường phương pháp thực nghiệm, chỉ có thể nảy sinh các lề lối kinh nghiệm chủ nghĩa, không có mục tiêu nghiêm túc và không mang tính thiết thực.” Chúng tôi nói thêm, nhìn chung, họ chỉ có thể hình thành những lối tư duy sai lạc, bản lĩnh không cao, con người không cương trực, quan chức hành chánh không chu đáo.

Nguyên tắc không tưởng trên đó là quyền hành chánh được thiết lập sẽ tăng thêm khó nhọc mà người dân An Nam vốn đã phải gánh chịu. Hãy lắng nghe những gì Mạnh Tử nói: “Mặc dù lãnh thổ của nước Đằng nhỏ hẹp, nhưng phải có những người quân tử với kiến thức của họ (các quan lại), và phải có những người nông phu. Nếu không có người quân tử hoặc quan lại, sẽ không có ai đứng ra cai quản và điều hành những nông phu, không có nông phu không ai sẽ nuôi sống những người quân tử hoặc quan lại. Đây là lý do tại sao người ta nói: một số làm việc bằng đầu óc, những người khác làm việc bằng tay chân. Những người làm việc với trí óc chi phối con người; những người lao động chân tay được cai trị bởi con người. Những người bị cai trị bởi con người nuôi con người; những người cai quản con người được con người nuôi dưỡng. Đó là quy luật phổ quát của thế giới.”[189]

Quan lại, về nguyên tắc, là “những người quân tử” vì họ là quan lại, phải được nuôi dưỡng bởi những người dân mà họ cai trị. Chính Khổng Tử là người lập ra quy tắc; truyền thống đã thừa nhận điều đó. Vậy, đúng lý lẽ, không nhất thiết trả lương bổng cho các quan chức này vì người dân phải chu cấp cho nhu cầu của họ.

Người ta có thể thấy, trong thực tế, quy định này được áp dụng như thế nào; việc ăn hối lộ diễn ra trên quy mô rộng lớn; triều đại tham nhũng; việc mua chuộc thường được chấp nhận. Bản thân nhà nước dung túng cho nó vì đó chỉ là hệ quả của quy tắc mà trên đó họ xây dựng chính quyền. Xã hội xoay đảo không ngừng trong vòng luẩn quẩn; họ chết vì chế độ này, nhưng họ buộc đẫm mình trong những lời dối trá như vậy. Những báo cáo cho Hoàng đế nói rằng đất nước thịnh vượng và an bình, người dân hạnh phúc và sống sung túc, trong khi các quan lại chèn ép dân, tra tấn những người vô tội và nạn cướp biển và thổ phỉ mọc lên như nấm.

Tất cả mọi thứ được sắp xếp tuyệt vời trong guồng máy cai trị, các bánh xe khớp nhau rất hoàn hảo, chúng hoạt động ăn khớp, không gì có thể cản trở tiến trình của chúng. Quan lại chắc chắn không bị trừng phạt; người dân chịu đựng không rên rỉ trước những sách nhiễu tồi tệ nhất. Bằng cách nào họ có thể lên tiếng phàn nàn, khi mà họ thậm chí còn không dám gọi tên Hoàng đế? Tại sao ông phải lo lắng về một lỗi lầm hay sự bất công, vì vương quyền có trí tuệ tối cao, nhìn thấy mọi thứ trong vương quốc và có thể sửa chữa cái sai mà ông đã gây ra. Các quan chức và người dân bị trị, những kẻ thuộc hạ và các chức sắc cao, đang thông đồng để duy trì trật tự hiện hành. Con thuyền quốc gia lênh đênh trong đầy lừa mị; người cầm lái cố chấp nhắm mắt trước sự thật hiển hiện; tự nguyện mù lòa, họ lao đến bãi đá ngầm hủy diệt.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026