Tâm Lý Dân Tộc An Nam

Lượt đọc: 599 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chú Thích

❊ ❊ ❊

Chú Thích

[1]CREDITS: kaoaye, Bọ Cạp, Đình Trí, Hoa Quach, Kiều Mạnh Tú, Nguyễn Bá Hoàng

[2]Xem thêm: Alfred Fouillée, Psỵchologie du Peuple français (Tâm lý dân tộc Pháp), Félix Alcan, Paris, 1903.

[3]Léopold Pallu, Nam kỳ viễn chinh ký 1861, Thanh Thư dịch, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 135-136.

[4]Paul Giran, Tâm lý dân tộc An Nam, “Dẫn nhập”, Omega+ và Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 28.

[5]Paul Giran, Tâm lý dân tộc An Nam, “Kết luận”, Omega+ và Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 193.

[6]Paul Giran, Tâm lý dân tộc An Nam, “Lời tựa”, Omega+ và Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr 25-26.

[7]Paul Giran, Tâm lý dân tộc An Nam, “Kết luận”, Omega+ và Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 194.

[8]Nguyễn Văn Trung, Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam: Thực chất và huyền thoại, Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 16.

[9]Tức Henri IV (1553-1610), Vua của vương quốc Pháp (1589-1610), của vương quốc Navarre (1572-1610, dưới tên Henri III). Henri IV là vị quân vương đầu tiên của dòng Bourbon, có biệt danh Henri le Grand (Henri Đại đế), le bon roi Henri (Vua Henri Nhân ái) hay le Vert galant (Ông Xanh hào hiệp). Ông là một trong những vị quân vương quan tâm đến phúc lợi của thần dân, kiên định với lập trường bao dung tôn giáo (ra chỉ dụ Nantes bảo đảm quyền tự do cho những người Thệ Phản), một quan điểm khác thường vào thời ấy. Ngày 14 tháng Năm năm 1610, ông bị France Ravaillac, một người Công giáo cuồng tín, ám sát - ND.

(Lưu ý của BBT: Từ đây trở về sau, những cước chú có đề “ND” là do người dịch bổ chú, “BT” là biên tập viên, những cước chú không được ghi chú gì đều là của tác giả Paul Giran.)

[10]Lucien-Anatole Prévost-Paradol (1829-1870): nhà báo và nhà bình luận người Pháp.

Tác phẩm được để cập ở “Lời tựa” là La France nouvelle (Nước Pháp mới). Năm 1848, Nền Cộng hòa thứ ba sụp đổ, những người Orléan (Orléanisms: một phái chính trị cổ xúy tự do) phải lưu vong. Ra đời năm 1868, tức hai mươi năm sau sự kiện năm 1848, La france nouvelle thể hiện nỗi ám ảnh của tác giả Prévost-Paradol về sự suy đổi và thoái hóa của tự do và dân chủ ở Pháp. Đồng thời tác phẩm cũng nêu ra câu trả lời cho vấn đề trên, đó là phải tăng sức mạnh của Pháp trên thế giới, nghĩa là tăng số lượng công dân đồng thời với phạm vi lãnh thổ thông qua nền tảng của một đế chế Địa Trung Hải hùng mạnh, có Algérie là trung tâm và cuối cùng bao trùm toàn bộ Bắc Phi. Trong một vài tháng, luận án về việc thuộc địa chiến thắng có khả năng khôi phục vinh quang và quyền lực cho một nước Pháp đang suy tàn có một tác động to lớn với xã hội nước này - ND.

[11]Pháp bắt đầu chinh phục Algérie ngày 14 tháng Sáu năm 1830. Quá trình này diễn ra theo từng giai đoạn và phải đến năm 1902, sau chiến dịch Sahara, người Pháp mới có thể xem như đã chinh phục thành công xứ sở Bắc Phi này. Tính đến khi giành lại độc lập năm 1962, phần giáp Địa Trung Hải của Algérie bị tính vào lãnh thổ Pháp, phần còn lại là thuộc địa - BT.

[12]Năm 1804, với sự thống nhất trong Bộ luật Dân sự Pháp, người ta có thể thực sự nói về một “quốc tịch Pháp”. Sau luật nhập tịch tự động năm 1790 cho tất cả người nước ngoài có ít nhất 5 năm cư trú tại Pháp, bộ luật Napoleon áp đặt khái niệm quốc tịch hiện đại không chỉ đối với Pháp, mà còn đối với phần còn lại của châu Âu. Nó tạo ưu thế cho mối quan hệ huyết thống: quốc tịch bây giờ là một thuộc tính cá nhân chuyển qua quan hệ gia đình và không còn phụ thuộc vào nơi cư trú.

Những năm 1880 được đánh dấu bằng sự củng cố của chế độ Cộng hòa, một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng từ năm 1882, căng thẳng với Đức và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, một số dự luật ra đời nhằm xử lý tình trạng của người nước ngoài. Năm 1889, ra đời một đạo luật có thể được coi là “Bộ luật Quốc tịch” đầu tiên, liên quan đến cả việc đạt được tư cách công dân Pháp và nhập tịch Pháp. Nó cũng tạo ra một sự thay đổi cơ bản cho Bộ luật Dân sự vì ràng buộc ngay đối với một phần của người nước ngoài sinh ra ở Pháp - ND.

[13] Về mặt địa lý, giữa đảo Sicile và vương quốc Tunisie là kênh Sicile (hay kênh Cap Bon), một khu vực hàng hải quan trọng nối liền phần Đông và Tây Địa Trung Hải.

Vào nửa cuối thế kỷ XIII, chính quyền của người Pháp cai trị Sicile và Napoli bị cư dân trên đảo phản đối mạnh mẽ do ngược đãi và đánh thuế nặng. Năm 1282, Chiến tranh Kinh chiều Sicile nổ ra, người dân Sicile giết toàn bộ người Pháp trên đảo. Đây có lẽ là cơ hội thâu tóm kênh Sicile của người Pháp nhưng lại có kết cục thất bại.

Đến cuối thế kỷ XIX, vương quốc Tunisie (la Régence de Turtis hay Royaume de Tunis) thuộc Đế chế Ottoman, có rất nhiều mối quan hệ thương mại với các nước châu Âu như Pháp, Ý, Anh, Phổ... Với vị trí đắc địa, Tunisie trở thành “con mồi” của các đế quốc châu Âu. Ban đầu, Pháp kiên nhẫn dùng phương sách kinh tế từng bước can thiệp vào Tunisie, song vấp phải sự cạnh tranh của Anh, Ý.

Quyết định can thiệp vào Tunisie được Quốc hội Pháp thông qua ngày 4 tháng Bảy năm 1881 (với 474 phiếu chống và 476 phiếu thuận), sau một loạt sự kiện giao tranh ở biên giới Tunisie và Alger (vương quốc Alger nằm giữa Algérie và Tunisie, và bấy giờ người Pháp đã chinh phục thành công một phần Algérie), chuỗi sự kiện về chính trị trong nội bộ Đế chế Ottoman với các vương quốc, động thái cạnh tranh ngấm ngẩm về kinh tế-chính trị-quân sự giữa các nước tư bản Pháp-Ý-Anh, cùng các vấn để nội tại trong chính vương quốc Tunisie, v.v. - ND.

[14]Ở đoạn này tác giả có ngầm ý nhắc đến các phái bộ tài chính Pháp-Anh-Ý can thiệp vào vương quốc Tunisie; tất cả bắt đầu từ việc hai bey - người đứng đầu chính quyền vương quốc Tunisie - khiến cho vương quốc mắc nợ các chủ ngân hàng Paris một khoản lớn nhưng không thu xếp thương thảo được, dẫn đến việc hình thành một ủy ban tài chính châu Âu can thiệp mạnh vào chính trường Tunisie - ND.

[15]Căng thẳng đầu tiên giữa Pháp và Maroc bắt đầu từ năm 1840, sau sự hỗ trợ mà Maroc dành cho Abd el-Kader, thủ lãnh lớn của cuộc chiến chống Pháp ở Algérie. Trước căng thẳng, Tổng thống Ihomas Robert Bugeaud khẳng định trước người Maroc về sự cần thiết của việc phân định biên giới giữa Maroc và các tài sản của Pháp ở Algérie, đồng thời đòi hỏi vương quốc này ngừng ủng hộ Abd el-Kader. Người Maroc không đáp ứng các yêu cầu của Pháp, chính phủ của Louis-Philippe quyết định thực hiện một cuộc phô trương vũ lực bằng cách gửi một hạm đội chiến tranh, do Hoàng tử de Joinville chỉ huy, ném bom Tangier ngày 6 tháng Tám năm 1844, trước khi tấn công Mogador.

Sau thất bại của Maroc, Hiệp ước Tangier đã được ký kết một tháng sau đó, ngày 10 tháng Chín năm 1844. Maroc công nhận sự hiện diện của Pháp ở Algérie và ngừng mọi hỗ trợ chính thức cho Abd el-Kader - tuyên bố người này ở ngoài vòng pháp luật Maroc và Algérie - và xác nhận quá trình định rõ biên giới với Algérie. Mogador được sơ tán vào ngày 16 tháng Chín, biên giới giữa Maroc và các tài sản của Pháp ở Algérie được xác định chắc chắn bởi hiệp ước Lalla Maghnia ký ngày 18 tháng Ba năm 1845.

Ngày 30 tháng Ba năm 1912, Maroc trở thành xứ bảo hộ của Pháp. Ngày 2 tháng Ba năm 1956, vương quốc giành lại độc lập - ND.

[16]Atlantis: tức lục địa mất tích. Vào khoảng 9.000 năm trước thời của Plato, sau khi vương quốc Atlantis suy tàn, các vị thần quyết định phá hủy lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những trận sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nén văn minh Atlantis xuống đáy biển. Atlantis như tưởng tượng của thời hiện đại. Không cuộc tranh luận nào về Atlantis được xem là đầy đủ nếu không nhắc tới những tuyên bố mang tính tưởng tượng trong thế kỷ XIX và XX về lục địa đã mất tích. Theo Donnelly, Atlantis của Plato là ngọn nguồn của mọi thành tựu văn hóa và mọi nền văn minh tại Ai Cập, Tây Á, Ấn Độ và châu Âu, cũng như Nam và Bắc Mỹ. Lập luận của Donnelly không dựa trên khoa khảo cổ hay địa lý và không hề có bằng chứng nào về nguồn gốc chung của mọi nền văn hóa - ND.

[17]Vịnh Gabès: trước đây được gọi là Minor Sirte (Minor Syrtis) hoặc Little Sirte, là một vịnh nằm ở bờ biển phía đông Tunisie, chiếm một vị trí đặc quyền ở trung tầm Địa Trung Hải - ND.

[18]Ở đây người viết ám chỉ Anh quốc trong mối quan hệ với cựu thuộc địa Bắc Mỹ - BT.

[19]Ở đây Aymonier muốn nói đến những người cải cách ngôn ngữ ở Madagascar - ND.

[20]Tiếng Malgache (Malagasy) là một phần của một tập hợp ngôn ngữ bao gồm hơn hai mươi “biến thể” địa phương, thường được gọi là “phương ngữ”. Ở cấp độ từ vựng, hơn 90% từ vựng truyển thống của ngôn ngữ Malagasy, có thể được xác định có nguồn gốc từ Austronesian. Phần còn lại là gốc Bantu, Arabo-Swilian hoặc tiếng Phạn. Các từ mượn lâu đời nhất dường như có nguồn gốc từ tiếng Phạn thông qua tiếng Malay trong thiên niên kỷ đầu tiên. Đây thực sự là những người nói tiếng Malay ở Đông Nam Á, những người đầu tiên chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa Ấn Độ.

Chữ viết hiện đại của ngôn ngữ Malagasy trong bảng chữ cái La-tinh đã được sửa bởi sắc lệnh vào ngày 26 tháng Ba năm 1823, sau cuộc tham vấn giữa Vua Radama I và các nhà truyền giáo người Anh. Nguyên tắc là phụ âm nên được viết như tiếng Anh và nguyên âm như tiếng Ý. Trước đó, một số học giả của vương quốc đã sử dụng bảng chữ cái tiếng Ả Rập được phát triển ở phía đông nam của hòn đảo.

Đối với nguyên nhân của sự xuất hiện của những người Austronesian này, lịch sử của Ấn Độ Dương từ đầu thiên niên kỷ đầu tiên của thời đại chúng ta vẫn còn rất ít được biết đến. Người ta chỉ có thể cho rằng đảo Madagascar đóng vai trò quan trọng trong thương mại, đặc biệt là các loại gia vị, giữa Đông Nam Á và Trung Đông, trực tiếp hoặc qua bờ biển chầu Phi - ND.

[21]Vào ngày 21 tháng Sáu năm 1870, khoảng năm mươi người, chủ yếu gồm người Công giáo (gồm linh mục và nữ tu) và người Pháp, đã bị sát hại ở Thiên Tân. “Vụ thảm sát Thiên Tân” gây xôn xao cộng đồngquốc tế tại Trung Quốc, gây ra phản ứng phẫn nộ của giới ngoại giao Pháp và khiến quân đội nước ngoài phải can thiệp. Vụ việc này chấm dứt giai đoạn quan hệ hữu hảo giữa nhà Thanh (triều Đồng Trị) và các thế lực nước ngoài, ảnh hưởng đến tiến trình tái thương thuyết các điều khoản trong Hòa ước Thiên Tân ký năm 1858 - ND.

[22]Abyssinia: Đế chế Éthiopie. Nó bắt đầu với việc thành lập triều đại Solomon từ khoảng năm 1270 và kéo dài đến năm 1974. Sau khi Anh chiếm đóng Ai Cập vào năm 1882, Éthiopie và Libérie là hai quốc gia châu Phi duy nhất độc lập trong cuộc tranh giành châu Phi của các cường quốc châu Âu vào cuối thế kỷ XIX.

Những năm 1880 được đánh dấu bởi cuộc tranh giành châu Phi. Ý xâm chiếm Éthiopie và sau khi chinh phục thành công một số vùng ven biển, buộc ký Hiệp ước Wuchale ở Shewa (một vương quốc tự trị trong Đế chế Éthiopie), tạo ra thuộc địa Eritrea.

Éthiopie từ chối hiệp ước năm 1893. Bị xúc phạm, Ý tuyên chiến với Éthiopie năm 1895. Kết quả, Ý bị đánh bại ở trận Adwa năm 1896. Do đó, Hiệp ước Addis Ababa đã được ký kết vào tháng Mười, trong đó phân định chặt chẽ biên giới của Eritrea và buộc Ý phải công nhận nền độc lập của Éthiopie - ND.

[23]Phúc cho những kẻ sở hữu (beati possidentes): có nghĩa sở hữu là chín phần mười của pháp luật. Luật pháp ủng hộ người chiếm hữu, trong khi bất kỳ ai khác phải chứng minh yêu cầu của mình - ND.

[24]Sau hai trăm năm mươi năm cô lập Nhật Bản đã mở cửa lại với thế giới vào năm 1868. Sự lên ngôi của Hoàng đế trẻ Mutsuhito, tiếp theo là các cuộc nổi loạn và ám sát chính trị, đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, thời đại Meiji. Theo các hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc nước ngoài, chính phủ mới có nghĩa vụ phải hiện đại hóa và công nghiệp hóa càng sớm càng tốt, để không rơi vào sự thống trị của các nước phương Tây như trường hợp của Trung Quốc.

Trong thế kỷ XIX, Trung Quốc đã trải qua thời kỳ suy tàn trì trệ và sự sỉ nhục quốc tế. Những thất bại trong cuộc chiến tranh thuốc phiện thứ nhất, lần thứ hai, cuộc chiến tranh Pháp-Trung và cuộc chiến tranh Trung-Nhật đầu tiên, cũng như các hiệp ước bất bình đẳng, làm nổi bật sự mong manh của Trung Quốc khi đổi mặt với thế giới bên ngoài và sự sai lầm của hệ thống đế quốc. Thất bại trước Nhật Bản là một cú sốc lớn đối với Trung Quốc vì gây ra bởi một nhà nước được coi là chư hầu, nhỏ hơn nhiều và bị coi là “thấp kém”. Hơn nữa, sự thất bại của Trung Quốc trước Nhật Bản dẫn đến một cuộc đua giành “đặc quyền” từ các cường quốc nước ngoài khác, đặc biệt là từ Đức và Nga, rũ bỏ chủ nghĩa bảo thủ - ND.

[25]Phan Thanh Giản (1796-1867): một nhân vật lịch sử quan trọng can hệ nghiêm trọng đến vấn đề Pháp chiếm trọn Nam kỳ lục tỉnh năm 1867. Ngày 20 tháng Sáu năm 1867, Pháp đánh chiếm thành Vĩnh Long, trước sức mạnh quân sự của liên quân Pháp-Tây Ban Nha, ông ra lệnh cho thủ thành An Giang và Hà Tiên đầu hàng. Mồng 5 tháng Bảy năm Đinh Mão (tức ngày 4 tháng Tám năm 1867), ông uống thuốc độc tự tử - BT.

[26]Tôn Thất Đạm (1864-1888): con trai trưởng của Nhiếp chính Tôn Thất Thuyết thời Vua Hàm Nghi, là một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương. Cùng với em trai là Tôn Thất Thiệp, ông được giao nhiệm vụ bảo vệ Vua Hàm Nghi từ tháng Hai năm 1886 đến tháng Mười năm 1888. Cuối năm 1888, Vua Hàm Nghi bị bắt, hay tin, ông tự tử - BT.

[27]Nguyên văn tác giả dùng từ Moi, tức người Mọi: từ được người Pháp dùng để gọi gộp những cộng đồng người lúc bấy giờ sống ở các vùng núi, giáp với khu vực sinh sống của người An Nam trong vương quốc An Nam; các cộng đồng này từng có những vương quốc riêng, có thể từng phải chịu lệ thuộc và phải triều cống cho vương quốc An Nam xưa. Sau nhiều biến chuyển về địa-chính trị, trong tâm thức người Việt Nam hiện đại quen gọi gộp các cộng đồng này là “dân tộc thiểu số” - BT.

[28]Chữ “Quốc ngữ” hay chữ Việt viết với chữ cái La-tinh đã được các giáo sĩ truyền giáo sáng tạo ra để dùng như một công cụ truyền đạo. Vào cuối thế kỷ XIX, ngay từ khi bắt đầu cai trị các vùng mới chiếm đóng, nhà cầm quyền Pháp tại Việt Nam muốn dùng thứ chữ này thay thế chữ nôm, làm phương tiện giao lưu với dân bản xứ. Thời đó, mọi người đều công nhận thứ chữ này là một công cụ thuận lợi để dạy tiếng Việt cho các viên chức cai trị Pháp. Nhưng việc phổ biến chữ “quốc ngữ” cho toàn xứ, xem chữ quốc ngữ là chữ chính thức trong mọi công văn hành chính, đã không được sự đồng thuận nhất trí của giới thẩm quyền Pháp. Cuộc tranh luận xảy ra rất sôi nổi.

Quan điểm của Aymonier, cũng là đường hướng tiêu biểu của phe chống đối chủ trương phổ biến chữ “Quốc ngữ”.

Bài phát biểu của Aymonier đặt ra hai vấn đề: 1. Khả năng phát triển của tiếng Việt. 2. Vì quyền lợi lâu dài của nước Pháp, nên phổ biến “chữ Quốc ngữ” hay nên “Pháp hóa” người Việt?

Aymonier là một trong những người Pháp thuộc địa, dù đứng trên lập trường bảo vệ quyền lợi của nước Pháp, tìm cách củng cố nền thống trị của người Pháp, đã dùng những từ “Phe kháng chiến quốc gia” (Le parti de la résistance nationale), “người An Nam yêu nước” (patriotes annamites), để chỉ những người chống lại Pháp (thời đó là phong trào Cần vương), đã dự đoán ngay từ đầu thời Pháp thuộc là về lâu dài Pháp sẽ bắt buộc phải trả lại quyền tự chủ cho người Việt. Do đó, mục tiêu ông thấy cần phải đạt tới là làm sao biến người Việt thành người Pháp-Á Đông. Nếu tất cả người Việt, nhất là giới bình dân vốn là đại đa số, nói tiếng Pháp (dù là thứ tiếng Pháp “biến thể”, thô sơ, “tiếng bồi”), suy nghĩ như người Pháp, thì một khi được trả chủ quyền, Việt Nam vẫn sẽ gắn bó với “mẫu quốc” như với đất nước mình, mua hàng của Pháp và quyền lợi của nước Pháp tại đất Việt sẽ được bảo tồn.

Aymonier chấp nhận những người Việt chống lại Pháp là người yêu nước. Aymonier cũng tự nhận mình là người yêu nước. Nhưng ông là người Pháp, dĩ nhiên yêu nước Pháp, bảo vệ quyền lợi của nước Pháp.

Những đề nghị của Aymonier đã không thể hiện được, cuối cùng chính sách “Pháp hóa” không thành, người Việt vẫn nói tiếng Việt, lại dùng chữ “quốc ngữ” làm phương tiện trao đổi ghi nhận tư duy ở mọi cấp độ, bình dân cũng như đại học. (Trích E. Aymonier, Tiếng Pháp và nền học chính tại Đông Dương, “Lời giới thiệu”, Lại Như Bằng dịch và chú giải) - ND.

Bạn đọc có thể tiếp cận nội dung tác phẩm Tiếng Pháp và nền học chính tại Đông Dương (cùng bài phản biện của Émile Roucoules) ở link sau:

http://chimviet.free.fr/giaoduc/lainhubang/lnb_aymonier_TiengphapVaHCDD l_GD.htm - BT.

[29]Étienne Aymonier (1844-1929): nhà ngôn ngữ học và thám hiểm người Pháp. Ông là người đầu tiên khảo sát có hệ thống sự suy tàn của Đế chế Khmer, trải khắp Campuchia, Thái Lan, Lào và miền Tây Nam Bộ Việt Nam ngày nay. Ông trở thành giám đốc đầu tiên của Trường Thuộc địa, từng là thành viên của Hội Đồng quản trị Hội Pháp Văn Liên hiệp. Ông đã thu thập được một lượng lớn tác phẩm điêu khắc Khmer cổ mà nay được trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Paris; đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm về ngôn ngữ Chăm - BT.

[30]Đại chủng Á hay người da vàng là danh từ để chỉ một trong bốn đại chủng trong nhân chủng học. Đại chủng Á là những người sống ở Đông Á, quần đảo Indonesia cùng các quần đảo khác tại Ấn Độ Dương và châu Mỹ. Người Hán Hoa là nhóm người lớn nhất thuộc đại chủng này, ngoài ra đại bộ phận dân cư vùng Trung Á và vùng Bắc cực như người Yakut, người Inuit, người Tây Tạng, và tất nhiên là người Mông Cổ nữa. Đại chủng Á chiếm gần 40% dân số thế giới.

Cư dân vùng Đông Nam Á cũng được coi thuộc Đại chủng Á theo lý thuyết bốn đại chủng ở trên, tuy nhiên, họ rất khác với các cư dân miền Bắc Á hoặc Trung Á nên được một số nhà nghiên cứu coi như một đại chủng riêng biệt. Điều này cũng tương tự như các thổ dân châu Mỹ - ND.

[31]Jean Louis Armand de Quatrefages de Bréau (1810-1892): nhà sinh học người Pháp, là người phê bình Darwin song không chống lại tiến hóa luận. Những nghiên cứu về phẫu thuật học của ông vẫn còn giá trị đến ngày nay, nhưng nhiều công trình khác đã bị quên lãng - BT.

[32]Indo-Mongol: Theo học giả người Pháp - Louis Finot (1864-1935) - Thuyết này dựa trên kiến thức chung về quá trình giống Indonesian (Cổ Mã Lai) xưa cư trú ở tiểu lục địa Ấn Độ, bị giống Aryan (nay gọi là Ấn-Âu) xâm lấn (hồi 30-50 Ka BP), nên phải chạy sang phía đông, trong đó có bán đảo Trung Ấn.

Finot cho rằng tại phía đông bắc bán đảo, giống người Indo hợp với giống da vàng làm thành giống Việt Nam - ND.

[33]Eugène Cortambert và Léon de Rosny, Tableau de la Cochinchine (Giới thiệu vùng đất Nam kỳ), A. Le Chevalier, Paris, năm 1862.

[34]Albert Bouinais và A. Paulus, L’Indo-Chine fracaise contemporaine (Đông Dương thuộc Pháp đương thời), Challamel, ainé, Librairie Maritime et Coloniale, Paris, năm 1885.

[35]Culi: nghề tay chân; ở đây chỉ người giúp việc tay chân - ND.

[36]Culi-xe: phu kéo xe - ND.

[37]“État de la Cochinchine française pendant les années 1900 et 1901” (Tình hình xứ Nam kỳ thuộc Pháp, giai đoạn 1900-1901), Thông cáo chính thức của Chính quyền Nam kỳ.

[38]Théodule-Armand Ribot, L’Hérédité psychologique (Kế thừa tâm lý).

(Ở thời điểm năm 1904 này, có thể ở đây tác giả Paul Giran muốn nói đến tác phẩm Lhéredité: Etude psỵchologique sur ses phénomènes, ses lois, ses causes, ses consequences (Di truyển: Nghiên cứu tâm lý về hiện tượng, quy luật, nguyên nhân và hệ quả của nó), Librairie philosophique de Ladrange, Paris, 1873 - BT.)

[39]Paul Broca, Sur la Topographie cranio-cérébrale (Bàn về hình dạng sọ não), Ernest Laroux, Paris, năm 1876.

[40]Tuy nhiên, chỉ một trong số họ, nói đúng ra là chủng tộc Mông Cổ, có tất cả các thuộc tính của chủng Mông Cổ. Nó dường như làm hình thành nên một loại ở trung tâm để từ đó tỏa đi nhiều nhánh khác nhau về địa lý và dân tộc, hộp sọ lúc đó dần dần kéo dài thành đầu dài (dolichocéphalie) - theo Quatrelfages.

[41]Alfred Fouillée, Psychologie du peuple français (Tâm lý dân tộc Pháp), F. Alcan, Paris, năm 1898.

[42]Léon Cahun, Introduction à l’histoire de L’Asie (Dẫn nhập lịch sử châu Á: người Đột Quyết và Mông Cổ, kể từ năm 1405), Armand Colin & cie, Paris, năm 1896.

[43]Êlisée Reclus và Onésime Reclus, L’Empire du milieu (Đế chế Trung tầm: khí hậu, đất đai, chủng tộc và tài nguyên của Trung Hoa), Librairie Hachette, Paris, năm 1902.

[44]Hầu hết các dân tộc châu Á đã sử dụng chu kỳ lục thập phân từ thời cổ đại từ rất sớm, chia thành những chu kỳ 12 năm. Người Ấn Độ, người Trung Hoa, người Đông Dương (và trong số đó, ngay cả những dân cư rừng núi như Lôlô) đều sử dụng cùng cung hoàng đạo có con giáp trùng tên ở khắp mọi nơi: chuột, bò, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn. Đây là một thực tế cho thấy sự tiếp xúc cổ xưa, thường xuyên và kéo dài giữa các dân tộc khác nhau, nếu không từ một nguồn gốc chung.

[45]Cuộc đời của Abraham được nhắc đến trong Cựu Ước. Tên ban đầu của ông là Abram, nghĩa là “cha cao quý” hoặc “người cha được tôn kính”. Về sau ông được Chúa đổi tên thành Abraham, nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”. Ông được tôn làm là tổ phụ của người Do Thái và người Ả Rập. Ba tôn giáo lớn là Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo thường được gọi chung là “các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham” - BT.

[46]Ở đây có thể Cha de la Liraye đã quy “bốn bộ lạc” theo các gọi Bắc Rợ, Đông Di, Nam Man và Tây Nhung của quan niệm Trung Quốc cổ xưa; do những người Giao Chỉ sống ở phía nam vùng trung tâm Trung Hoa nên nằm trong nhóm Nam Man - BT.

[47]Phía nam của đế quốc là khu vực miền núi, tương ứng ngày nay là các vùng được gọi là Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Bắc Bộ.

[48]Giao Chỉ: có ngón cái tách khỏi các ngón khác. Đó là một dấu vết không chối cãi chỉ có ở chủng tộc An Nam và chủng tộc Mã Lai.

[49]Trong lịch sử, cao nguyên Hoàng Thổ (loess plateau) từng cung cấp nơi trú ẩn đơn sơ nhưng cách nhiệt khỏi mùa đông giá lạnh và mùa hè nóng cho người dân trong vùng tại các ngôi nhà được gọi là diêu động được tạo nên bằng cách đục khoét vào lớp đất hoàng thổ; trong thời trung cổ của Trung Quốc, hầu hết người dân đều sống ở đây; một vài gia đình vẫn sóng tại những nơi này cho đến ngày nay. Trong Động đất Thiểm Tây 1556, gần một triệu người đã chết do các hang động được đục khoét trong lớp đất hoàng thổ bị sập - ND.

[50]Élisée Reclus và Onésime Reclus, L’Empire du milieu, sđd.

[51]Những nhóm quan trọng còn lại của những cư dân này vẫn sống ở một số vùng trong dãy Trường Sơn: Thái, Mán, Mèo, Lôlô, v.v.

[52]Cũng giống như người Tartar và Mãn đối với người Hán Hoa. Tuy nhiên, từ cùng một gốc, họ vẫn xa lạ với nhau trong nhiều thế kỷ. Khí hậu khắc nghiệt của Bắc Á và khí hậu ôn hòa hơn của trung tâm đã tạo ra khác biệt không thể hòa giải giữa họ, về khí chất và tính cách.

[53]Tức Đế quốc Trung tâm, Trung Hoa - BT.

[54]Phong tục này chỉ bắt nguồn sau khi các bộ lạc Mãn Châu cuộc chinh phạt thành công vùng Trung Nguyên.

[55]Phương ngữ Hán Việt (tên này được hiểu là cách phát âm cụ thể được người An Nam gán cho các chữ biểu ý của Trung Hoa) rất gần với phương ngữ Quảng Đông, như có thể thấy trong bảng từ vựng sau đây, trong đó chúng tôi đặc biệt lưu ý nơi các phụ âm đầu tiên, ở sự hoán vị của các chữ cái p, k, y, p, s, t, ch và ts của tiếng Quảng Đông với b, g, n, b, t, d, 0 trong tiếng An Nam:

Image

Đối với các biến đổi ở âm cuối, có sự giống nhau đáng kể giữa phương ngữ Quảng Đông và An Nam; do đó; , ví dụ như bốn ngữ điệu cuối sau đây, và không bao giờ thấy trong phương ngữ tiếng Hoa, ở Nam Kinh, giống nhau ở tiếng An Nam và tiếng Quảng Đông:

Image

Các âm cuối khác của tiếng An Nam với tiếng Quảng Đông và với các phương ngữ khác của tiếng Hoa liên quan tương tự.

Như vậy, rõ ràng là phương ngữ An Nam rất gần với phương ngữ tiếng Hoa Quảng Đông...” (Eugène Cortambert và Léon de Rosny, Tableau de la Cochinchine, sđd, tr. 293-294-295).

[56]Jocelyn Pène-Siefert, Ịaunes et Blancs en Chine - Les Jaunes (Người da vàng và da trắng ở Trung Hoa - Phần “Người da vàng”), Berger-Levrault & cie, Paris, năm 1902, tr. 142.

[57]Tức cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX - BT.

[58]“Trước công cuộc bồi lấn đất đai, Vịnh Bắc Bộ lấn sâu vào bên trong. Bản đó của R. P. Alexandre de Rhodes, được vẽ vào thế kỷ XVII, cho thấy vịnh có hình tam giác rõ nét hơn nhiều so với ngày nay: đỉnh của góc phía tây đã bị phù sa sông bồi đắp dần. Những ngọn đồi nằm ở đồng bằng và chạy xuôi về phía biển giảm dần về chiều cao so với bờ hiện tại, từng là những hòn đảo nơi sóng đã đào hang sâu, để lại dấu vết xói mòn và vỏ sò biển.

Các tài liệu Trung Hoa chứng minh rằng vào những năm 600 của thiên niên kỷ này, Hà Nội là một cảng biển, và cũng chỉ ra sự bồi lấn hằng năm khoảng 48 mét đất trên mặt nước. Thế hệ hiện tại chứng kiến sự hình thành tổng Kim Sơn, ở tỉnh Nam Định từ năm 1831. Vùng duyên hải sông Đáy tăng lên ba tổng trong những năm gần đây. Những trung tâm nơi người Hà Lan buôn bán hai thế kỷ trước, và đặc biệt là Hưng Yên, giờ có năm hoặc sáu nơi cập bến” (Bouinais và Paulus, L’Indo-Chine française contemporaine, sđd).

[59]Jean Baptiste Éliacin Luro, Henri Louis Gabriel de Bizemont (Tử tước), Le pays d’Annam. Étude sur l’organisation politique et sociale des Annamites (Xứ An Nam. Nghiên cứu về tổ chức chính trị và xã hội của người An Nam), Saint-Germain, Paris, năm 1878.

[60]Histoire du peuple d’Annam (Lịch sử dân tộc An Nam).

Ở đây có lẽ tác giả Paul Giran muốn đề cập đến tác phẩm sau của Cha Adrien Launay: Histoire ancienne et moderne de l’Annam, Tong-King et Cochinchine: depuis l’année 2700 avant l’ère chrétienne jusqu’à nos jours (Lịch sử cổ xưa và hiện tại của ba xứ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ: kể từ năm 2700 TCN đến thời chúng ta), Challamel ainé, Paris, năm 1884 - BT.

[61]Jean Baptiste Éliacin Luro, Henri Louis Gabriel de Bizemont (Tử tước), Le Pays d’Annam, sđd.

[62]Adrien Launay, Histoire du peuple d’Annam, sđd.

(Tham khảo cước chú số 1, trang 47 - BT.)

[63]“Bản địa” có lẽ chính xác là từ nên được dùng ở đây, để chỉ các bộ lạc hoang dã cư trú ở vùng núi Đông Dương và những nhóm người mà người An Nam đã có và vẫn có quan hệ thường xuyên (người Thái, Mán, Mèo, Lôlô, Mọi, v.v.). Thật sự không chắc chắn rằng những bộ tộc này, hoặc ít nhất trong số họ, có nguồn gốc từ cùng cái xứ sở họ đang cư trú. Họ dường như đã di cư sớm, ở những thời điểm rất xa, đi xuống từ cao nguyên Tây Tạng, như ý kiến thường được bày tỏ.

[64]Ngoài các phương ngữ được sử dụng bởi người Miao-Tze (Miêu tộc) và Yaos (Dao) ở Quảng Đông, trên biên giới Bắc kỳ, từ Móng Cái đến Lào Kay, đã tìm thấy tới hai mươi hai nhóm ngữ vựng khác nhau, việc so sánh cho phép khôi phục bốn nhóm thành phần dân tộc rõ rệt ở khu vực này: Thái, Mán, Mèo và Lôlô. Cũng như người Miêu và Dao ở Trung Hoa, ở An Nam người Thái, người Mán, người Mèo, người Lôlô tự cô lập mình khỏi những người di cư đến; họ tỵ nạn ở vùng núi, khu vực nguy hiểm và khó tiếp cận mà người An Nam không muốn xâm nhập, họ đã giữ được ngôn ngữ, phong tục, tập quán và tổ chức nguyên thủy của họ. Mặt khác, điều kiện cư trú góp đa phần để duy trì chúng trong tình trạng hoang sơ.

Tuy nhiên, bất chấp sự cô lập hoang dại này, một hiện tượng tự thâm nhập chủng tộc phải xảy ra giữa người nhập cư và người bản xứ. Chủng tộc Thái đặc biệt “tự biến chuyển qua hình ảnh của những dân tộc mà nó đã tiếp cận trên đường đi của mình, người Thái ở Vân Nam giống với người ở Trung Hoa... ở Lào và người Xiêm ở Khmer”, và như “người Thái của Bắc kỳ tại An Nam” (Louis Finot, Rapport annuel sur les travaux de l’Ecole Française d’Extrême-Orient, 1900).

Để ảnh hưởng này có thể xảy ra, một sự giao thương phải được thiết lập giữa hai cộng đồng cư dân; do đó, chúng ta có thể thừa nhận không quá khinh suất, rằng có một yếu tố bản địa xâm nhập, ở một mức độ nhất định, vào sự định hình kiểu mẫu chủng tộc người An Nam hiện tại. Phần này chắc chắn là rất yếu; ngày nay nó không để lại dấu vết gì rõ ràng, bối cảnh nguyên thủy cũ của chủng tộc đã trải qua những thay đổi quá thường xuyên và quá sâu đậm. Tuy nhiên, sự pha trộn đầu tiên này đã đóng góp ở một mức độ nhất định để giúp những người mới đến dễ dàng thích nghi hơn dưới một vùng khí hậu nhiệt đới họ còn chưa quen thuộc.

[65]Charles Jean-Marie Letourneau, Psychologie ethnique (Tâm lý dân tộc), Schleicher frères, Paris, năm 1901.

[66]Còn gọi: Champs hay Ciampa.

[67]Ở đây có lẽ tác giả dùng “dân tộc Chăm” ở khía cạnh xét về mặt khái niệm “dân tộc” gần với “quốc gia”, “vương quốc của người Chăm”, không phải về mặt “nhóm dân cư” - BT.

[68]2. Sau khi đàn áp cuộc kháng cự của người Chăm vào năm 1505, An Nam tiến hành đóng quân ở các vùng đất của người Chăm mới chinh phục được. Cha Launay nói, “Bằng cách định cư trên xứ sở này, người An Nam đã làm việc sáp nhập trở nên bền vững hơn. Tuy nhiên, sự hợp nhất chủng tộc đã không diễn ra; người An Nam ít kết hôn với người ở xứ này; nhưng, nhờ sự sinh sản nhanh chóng của họ, chủng tộc bại trận dần dần bị đẩy trở lại vào núi” (sđd).

[69]“Sự miễn dịch này có thể được giải thích”, theo Bouinais và Paulus, “bằng cách khai thác quá mức đất đai, qua thâm canh, sử dụng tất cả các phương cách tổ chức; không để lại bất kỳ sự bùng phát có hại nào. Cách phân chia các mùa vụ theo hiện tượng khí tượng cũng không phải là không có ảnh hưởng. Vào thời điểm sương mù tháng Ba làm ẩm sâu mặt đất, làm bùng phát đợt sốt rét vào mùa xuân; chẳng mấy chốc những cơn mưa lớn ập đến; đất ngập nước, nước ngọt phân bố khắp các cánh đồng; đồng bằng không khác gì ao hồ; do đó, càng nhiều đầm lầy, càng nhiều chướng khí, những ca sốt cũng càng nhiều hơn. Hơn nữa, khi tạnh mưa, đất đai còn sũng nước, lưỡi cày xới lên những đường cày mới. Bệnh sốt rét mới bùng phát, nhưng với sự phát triển nhanh chóng, cây lúa hấp thụ độ ẩm của đất, khô nhanh đến mức nứt theo mọi hướng, không còn gì là của đầm lầy nữa” (L’Indo-Chine française contemporaine, sđd, chương II, tr. 470).

[70]Auguste Comte (1798 -1857): một nhà tư tưởng Pháp, nhà lý thuyết xã hội, người tạo ra ngành xã hội học, nhà thực chứng luận đã đưa ra thuật ngữ Sociology (Xã hội học). Ông đã đóng góp không nhỏ vào lĩnh vực xã hội học của thế giới, những đóng góp của ông về mặt lý thuyết như quan niệm về xã hội học, xem xã hội học là khoa học nghiên cứu các tổ chức xã hội. Quan điểm nhìn nhận về xã hội và cấu trúc xã hội bao gồm: bộ phận, thành tố, quan hệ, sắp xếp theo trật tự nhất định. Ông xem xã hội là một hệ thống có cấu trúc, cá nhân, gia đình và các tổ chức xã hội.

Auguste Comte cho rằng xã hội học phải có nhiệm vụ góp phần tổ chức lại xã hội và lập lại trật tự xã hội dựa vào các quy luật tổ chức và biến đổi xã hội do xã hội học nghiên cứu phát hiện được.

Theo quan điểm của Auguste Comte, xã hội học giống như khoa học tự nhiên, như vật lý học, sinh vật học trong việc vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu để tìm hiểu bản chất của xã hội. Vì vậy, Comte còn gọi xã hội học là vật lý học xã hội.

Xã hội học nghiên cứu xã hội bằng các phương pháp thực chứng, tức là thu thập và xử lý thông tin, kiểm tra giả thuyết và xây dựng lý thuyết, so sánh và tổng hợp cứ liệu.

Auguste Comte phân loại các phương pháp xã hội học thành những nhóm:

1. Quan sát;

2. Thực nghiệm;

3. So sánh;

4. Phân tích lịch sử.

Quan điểm thực chứng luận của Comte về xã hội học thể hiện đặc biệt rõ qua việc trình bày các phương pháp này. Theo đó, ông quan niệm rằng xã hội học là khoa học sử dụng các phương pháp khoa học thực chứng để nghiên cứu các quy luật biến đổi của xã hội. Các quan điểm của Comte đã mở đầu cho thời kỳ xây dựng và phát triển một khoa học mới mẻ mà Comte gọi là xã hội học hay vật lý học xã hội - ND.

[71]Điện áp không khí (từ gốc trong bản tiếng Pháp: la tension électrique de l'air): có liên quan đến độ tích điện trong môi trường không khí (nóng, ẩm ở Việt Nam) - BT.

[72]Alfred Fouillée, Psychologie du peuple française, sđd.

[73]Xu là một phần trăm đồng bạc Đông Dương và tương đương, hiện nay (1904), khoảng hai xu rưỡi của chúng ta.

[74]Một phần, đó là do chế độ ăn không tốt cho sức khỏe dẫn đến sự suy nhược của chủng tộc An Nam, thiếu sức sống và năng lượng.

Đây phải được coi là một dạng mới của ảnh hưởng môi trường. Bản chất của đất đai, cùng với tác động khí hậu, cản trở sự đa dạng văn hóa. Ngoài ra, nói chung, người An Nam hầu như chỉ trồng lúa, sản phẩm dinh dưỡng cơ bản của họ cùng vô vàn loài cá có ở khắp mọi nơi ở Đông Dương.

Có thể sự cải thiện trong chế độ ăn sẽ mang lại những cải thiện tương ứng về chủng tộc. Có thể sẽ tốt hơn nếu tạo cho người An Nam thói quen ăn thịt. Nếu họ không ăn, có nghĩa là họ không có, hoặc có rất ít. Họ chỉ có thịt lợn, vả lại họ cũng không ăn nó thường xuyên.

Tình trạng thiếu thịt có thể ăn được này vẫn phụ thuộc vào thổ nhưỡng. Vùng đồng bằng châu thổ, quá ẩm thấp, thường ngập lụt, không thích hợp để lập những đồng cỏ chăn nuôi gia súc. Cũng vậy, chăn nuôi rất hiếm ở Bắc kỳ và Nam kỳ. Chắc chắn một số loài có thể được đưa đến thuộc địa và làm cho thích nghi; người ta có thể, thật ra đã làm rồi, lập nên những bãi chăn thả ở vùng cao; còn tất cả bước kể trên sẽ là công việc sắp tới của công cuộc thuộc địa. Được trao cho nguồn tài nguyên, người An Nam không bao giờ tiến hành chăm sóc mà cứ thế vô thức thuận theo tự nhiên, để rồi dường như cản mọi nỗ lực kiểu này.

[75]Tre đan lại hoặc bằng bùn.

[76]Bouinais và Paulus, L’Indo-Chine française contemporaine, sđd, tập 1.

[77]Paul Bourde, De Paris au Tonkin (Từ Paris đến Tonkin), Calmann Lévy, Paris, năm 1885 (thông qua phần trích dẫn của Bouinais và Paulus trong L’lndo-Chine française contemporaine)

[78]Alfred de Pouvourville, La Chine des Mandarins (Trung Hoa của các quan lại), Schieicher frères, Paris, năm 1901.

[79]Tức lăng trì - ND.

[80]Eugène Cortambert và Léon de Rosny, Tableau de la Cochinchine, sđd.

[81]Bộ luật An Nam.

[82]Alfred de Pouvourville, La Chine des Mandarins, sđd.

[83]Nếu những ví dụ này không đủ để chứng minh sự tàn ác của người An Nam, chúng ta có thể trích dẫn những sự thật gần đây, tiết lộ những phong tục tàn bạo và vô nhân đạo tồn tại và dường như trái ngược với cách cư xử nhìn chung hiền hậu của người dân.

Một trong những phong tục này đưa ra những hình phạt khủng khiếp đối với người vợ ngoại tình và đồng phạm của họ. Trong số ra ngày 12 tháng Tám năm 1902, một tờ báo ở Hà Nội đã nhắc lại rằng hình phạt mà những kẻ ngoại tình phải chịu vẫn còn hiệu lực. Một chiếc bè gốm tre và thân chuối đã chìm xuống Việt Trì; trên bè, một người đàn ông và một người phụ nữ bị đóng đinh, cố định bằng những chiếc đinh lớn, miệng họ đầy nhựa dính; giữa họ, một đứa trẻ bị nhốt trong lồng. Sự ác độc có tính di truyền nơi người An Nam còn thể hiện ở thói quen vặt lông sống những con gia cầm họ định làm thức ăn.

[84]Charles Letourneau, Psychologie ethnique, sđd.

[85]Philarète Chasles, Voyages d’un critique à travers la vie et les livres (Những hành trình của một nhà phê bình qua cuộc đời và kinh thư), Didier et cie, Paris, năm 1869.

[86]Eugène Simon, La Cité chinoise (Thành thị Trung Hoa), Nouvelle Revue, Paris, năm 1891.

[87]Jean-Louis de Lanessan, La morale des philosophes chinois: extraits des livres classiques de la Chine et de l’Annam (Giáo huấn của các triết gia Trung Hoa: Trích dẫn từ các sách kinh điển của Trung Hoa và An Nam), F. Alcan, Paris, năm 1896.

[88]Lý lẽ của Panurge: Trong văn học cổ điển Pháp có tiểu phẩm nổi tiếng của nhà văn Rabelais Những con cừu của Panurge. Do có hiềm khích với người lái buôn cừu trước đó nên khi cùng đi trên một chiếc thuyền, Panurge đã lập mưu trả thù. Panurge, người lái buôn dạn dày kinh nghiệm, một hôm lên tàu buôn của đối thủ mua một con cừu, y giả vờ năn nỉ người chủ đàn cừu bán cho một con, sau đó, ông ta ôm cừu ra trước mũi tàu và quăng nó xuống biển. Cả đoàn cừu nghe tiếng kêu theo nhau nhảy xuống biển và bị dòng nước cuốn trôi.

Tinh ranh của Falstaff: Nhân vật trong Chuyện về Sir John Falstaff của William Shakespeare. Sir John Falstaff là một nhân vật hư cấu được đề cập trong bốn vở kịch của William Shakespeare. Một hiệp sĩ béo, vô ích, kiêu hãnh và hèn nhát, anh ta dành phần lớn thời gian để uống rượu tại quán trọ của Boar với những tên tội phạm nhỏ, sống bằng tiền bị đánh cắp hoặc vay mượn.

Triết lý của Sancho: Về cặp nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết của Cervantes, nhà thơ Đức H. Heine có viết: “Hai nhân vật mang tên Don Quixote và Sancho Panza không ngừng nhại lại nhau nhưng đồng thời bổ trợ cho nhau một cách kỳ lạ để gộp lại với nhau thành nhân vật chính của tiểu thuyết, hai nhân vật này chứng tỏ linh cảm nghệ thuật và chiều sâu trí tuệ của nhà văn”. Cặp nhân vật lưỡng hóa Don Quixote và Sancho Panza là một sáng tạo độc đáo của Cervantes. Không đơn thuần là một thủ pháp hình thức, cặp nhân vật này còn mang trong mình cả giải pháp cho vấn đề chính mà tác phẩm đặt ra - vấn đề thực tế và lý tưởng.” (Trích từ Cặp nhân vật lưỡng hóa Don Quixote và Sancho Panza - sáng tạo độc đáo của Cervantes, tác giả: Đỗ Hải Phong) - ND.

[89]Philarète Chasles, Voyages d'un critique à travers la vie et les livres, sđd.

[90]Alfred Russel Wallace, Malay archipelago, Macmillan, London, năm 1869 tập II, tr. 273. Trích dẫn lại trong Psychologie ethnique của Charles Letourneau.

[91]Letourneau, Psychologie ethnique, sđd.

[92]Alfred Russel Wallace, Malay archipelago, sđd, tập II, tr. 272.

[93]Joseph Chailley-Bert, Java et ses habitants (Java và các cư dân của nó), Armand Colin et cie, Paris, năm 1900.

[94]Theo Alfred Fouillée; có thể là từ tác phẩm Tempérament et Caratère selon les invidus, les sexes et les races (Tính khí và tính cách tùy theo mỗi cá nhân, giới tính và chủng tộc), F. Alcan, Paris.

[95]Émile Boutmy, Essai d'une Psychologie politique du peuple anglais au XlXe siècle (Tiểu luận về một tâm lý chính trị của dân tộc Anh ở thế kỷ XIX), Armand Colin, Paris, năm 1901.

[96]Charles-Émile Bouillevaux (1823-1913): một nhà truyền giáo và nhà thám hiểm người Pháp, tác giả của những mô tả đầu tiên về tàn tích của Angkor. Là một linh mục Hội Thừa sai Paris, năm 1848 ông được gửi tới Đông Dương. Trong một chuyến du lịch quanh Battambang và Siêm Riệp, ông đã khám phá lại tàn tích của đền Angkor và dẫn đầu nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về những ngôi đền Khmer bị rừng rậm phủ kín. Nghiên cứu này hoàn toàn không được chú ý, ngoại trừ Henri Mouhot, người mang văn bản trở lại châu Âu - ND.

[97]Charles-Émile Bouillevaux, L’Annam et le Cambodge. Voyages et notices historiques (An Nam và Campuchia Những chuyến đi và ghi nhận lịch sử), Victor Palmé, Paris, năm 1874.

[98]Tính không lo xa của người An Nam không chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân tâm lý; có lẽ phần nào nó cũng đến từ những đặc thù nhất định của tổ chức xã hội.

Thực tế, thiết chế gia đình ngăn cản sự phân tán của con cái; về nguyên tắc, chúng phải luôn ở lại (trong gia đình ngay cả khi đã trưởng thành), và trên thực tế thường vẫn ở dưới quyền của người đứng đầu gia đình. Do đó, các bậc cha mẹ được đảm bảo, trừ những trường hợp đặc biệt, sẽ có được sự giúp đỡ của con cháu khi về già. Có thể hiểu rằng, trong hoàn cảnh này, người An Nam không hề có mối bận tâm về tương lai, chính xác hơn là tính lo xa.

[99]Charles Letourneau, Psychologie ethnique, sđd.

[100]Albert Bouinais và A. Paulus, L’Indo-Chine française contemporaine, sđd.

[101]Hippolyte Taine, Les Origines de la France contemporaine (Những nguồn gốc của nước Pháp đương đại), Librairie Hachette et cie, Paris, 1875-1893 (gồm 3 phần lớn, tổng cộng 12 tập)

[102]Êvariste Régis Huc, L’Empire Chinoise (Đế chế Trung Hoa), Gaume frères, Paris, năm 1854, chương II, tr. 374

[103]Người ta có thể phản đối những cuộc tàn sát các nhà truyền giáo diễn ra ở An Nam và Nam kỳ, trước khi Pháp xâm chiếm. Một sự phản đối như vậy không đáng chút nào; trên thực tế, người An Nam chỉ bảo vệ thứ mà họ phải gìn giữ trên hết thảy: tôn giáo của họ.

[104]Sự suy giảm trí nhớ khá thường gặp ở những người sống một thời gian ở những xứ nóng; nhiều ngườichâu Âu ở Đông Dương đã có những trải nghiệm khó khăn đó

[105]Một nguyên nhân khác khiến môi trường vật chất cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của người An Nam. Trong Những nguyên lý sinh học (Principes de Biologie, F. Alcan, Paris, năm 1893) của mình, Herbert Spencer nhận xét rằng “có một mối quan hệ rõ ràng giữa sự phát triển não bộ và sự chậm trưởng thành về giới tính; nơi nào có khả năng sinh sản phi thường, nơi đó có sự lười nhác của trí óc”. Quan sát này được chứng minh bằng những thực tế liên quan đến chủng tộc An Nam. Dưới ảnh hưởng của khí hậu và tín ngưỡng (sự cần thiết có người nối dõi để đảm bảo thờ cúng), khả năng sinh sản của người An Nam đã trở nên đặc biệt. Có lẽ, do sự hoang phí tình dục quá mức này, một phần, làm cho trình độ trí tuệ của họ trở nên thấp kém.

[106] Jean-Marie Guyau, Éducation et hérédité (Giáo dục và sự kế thừa), F. Alcan, Paris, năm 1889

[107]Téruaki Kobayashi, La société japonaise (Xã hội Nhật Bản), Junkichi Yoshida dịch Nhật-Pháp, F. Alcan, Paris, năm 1914

[108]Lý Bí tuyên bố độc lập, thành lập nhà nước Vạn Xuân – BT

[109]Cuộc khởi nghĩa của Đinh Kiến và Lý Tự Tiên chống nhà Đường – BT

[110]Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan chống nhà Đường – BT

[111]Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thành lập nhà nước Đại Cổ Việt – BT

[112]Adrien Launay, Histoire ancienne et moderne de l’Annam, sđd

[113]Đinh Bộ Lĩnh – BT

[114]Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất do Lê Hoàn chỉ huy – BT

[115]Sự kiện Champa nhượng lại cho Đại Việt ba châu xảy ra năm 1069, dưới thời Lý Thánh Tông. Ba chầu này là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, nay thuộc địa phận hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị - BT

[116]Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai dưới triều nhà Lý – BT

[117]Ba đợt tấn công lần lượt vào các năm 1257-1258, 1284-1285 và 1287-1288 – BT

[118]Ngưu Hống hay Lò Lẹt, hoặc Ngu Háu (tên hiệu, nghĩa là rắn hổ mang), một lãnh chúa người Thái Đen cai quản vùng Mường Mỗi (Thuận Châu, Sơn La) vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIV thời Trần Minh Tông (hoàng đế Đại Việt trị vì 1314-1329), Trần Hiến Tông (Hoàng đế Đại Việt trị vì 1329-1341). Ngưu Hống là tên gọi của ông trong Đại Việt sử ký, phiên âm từ tên hiệu tiếng Thái là Ngu Háu. Năm 1329, Lò Lẹt (Ngưu Hống) dẫn quân xâm phạm đạo Đà Giang của Đại Việt. Thượng hoàng Trần Minh Tông thân chinh dẫn quân đi đánh dẹp, thu nạp đất Mang Việt nay là Yên Châu Sơn La, sau đó bắt Ngưu Hống thần phục nhà Trần vào năm 1337 – ND

[119]Năm 1439, Thái Tông tăng cường quân đội và tổ chức duyệt quân binh lớn cả nước. Cùng năm họ Cẩm ở châu Phục Lễ nổi dậy, tướng Ai Lao là Nữu Hoa đem 3 vạn người sang giúp họ Cẩm chống lại Đại Việt, nhà vua tự mang 6 quân đi đánh. Mùa xuân năm 1440, ông lại đi đánh quân Hà Tông Lai ở huyện Thu Vật, thuộc huyện Tuyên Quang. Ngày 19 tháng Giêng Âm lịch, đại quân bắt được con Tông Lai là Tông Mậu, sang hôm sau chém được Tông Lai. Trên đường về nhà vua cùng quân sĩ nghỉ chân tại Động La (Thẳm báo ké), Lê Thái Tông thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, nhà vua đã để lại bài thơ và lời tựa gồm 14 dòng, mỗi dòng 10 chữ với 140 chữ Hán khắc trên vách núi, sử gọi là Văn bia Quế lâm ngự chế.

Đến tháng Ba Âm lịch năm 1440, Thái Tông thân chinh đánh thổ quan Nghiễm nổi dậy ở châu Thuận Mỗi (trấn Gia Hưng). Nghiễm dâng trâu và voi tạ tội; lại gặp lúc trời đang nắng gắt nên nhà vua thu quân về. Tháng Ba Âm lịch năm 1441, Thái Tông đi đánh Nghiễm lần hai. Ông đã bắt được viên tướng Ai Lao là Đạo Mông cùng vợ con ở động La, rồi bắt luôn hai con của Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đỗng. Nghiêm thất thế, phải chịu quy phục triều đình. Nhà vua về kinh sư làm lễ cáo thắng trận ở Thái Miếu - ND.

[120]Tức Mạc Đăng Dung – BT

[121] Thực chất là thế giằng co giữa nhà Lê và tàn dư nhà Mạc – BT

[122] Theo J. Sylvestre trong Considérations sur 1’étude du droit Annamite ((Những xem xét về nghiên cứu luật pháp An Nam), Administration du Recueil général de jurisprudence coloniale la Tribune des Colonies et des Protectorats, Paris, năm 1901): “Người An Nam mượn từ Trung Hoa những luật quân sự; trong đó họ đã nhầm lẫn và bất kỳ nghiên cứu tâm lý nào cũng cho thấy điều đó ngay từ cái nhìn đầu tiên. Đặc tính dân tộc, tính khí, truyển thống, lịch sử của họ rất khác với người Trung Hoa, người ta thấy họ tự giải phóng khỏi xiềng xích của chủ nghĩa hình thức Trung Hoa ngay khi mối nguy hiểm thực sự đe dọa họ... Họ hăng hái hơn trong cuộc đấu tranh vũ trang, lão luyện hơn trong nghệ thuật tiêu diệt lẫn nhau.”

J. Sylvestre nói thêm: “Người An Nam là những người miền núi hoặc biển, dễ kích động, hiếu chiến, và họ thể hiện bằng các cuộc chiến tranh chinh phạt liên miên cho đến cuối thế kỷ trước.”

[123]“Người Mọi An Nam, một báo cáo chính thức của Toàn quyền Đông Dương cho biết, không phải lúc nào cũng bị giới hạn trong vùng của họ, nằm trên đỉnh phía đông của dãy Trường Sơn. Trước đây, họ sinh sống trên tất cả các thung lũng sâu ẩn trong khối núi lớn Đông Dương: họ vẫn chiếm giữ một vài nơi. Năm mươi năm trước, hai mươi năm trước, họ khai phá những góc đồng bằng vẫn còn mang tên họ, ruộng mo.

Làn sóng xâm lăng của một dân tộc kiên nhẫn, bền bỉ, cần cù hơn và nhất là sinh sản nhiều hơn, đẩy họ dần dần lên cao.

Sau đó, dưới tay những kẻ chiếm đóng mới, những cánh đồng lúa nhỏ bé này về lâu dài được mở mang thêm; những sườn đồi, chưa bị cây dại làm trầy xước, được cày sâu bởi cái cày An Nam, và ở trung tâm của những khu vườn ban sơ, một túp lều, hai túp lều, mười túp lều được dựng; cuối cùng, với sự dựng lên dễ dàng một ngôi nhà trung tâm, một cái đình, thế là bắt đầu một cuộc sống cộng đồng cho ngôi làng phôi thai này.

Để bảo vệ những di dân này, vốn hữu ích cho việc chống lại sự cướp phá của người dân tộc thiểu số hoặc sự trả thù của họ, các quan lại hàng tỉnh được thành lập ở vùng bị chinh phục, rồi đến một đồn lính tiền tiêu, khi mà những sự tăng trưởng tiếp tục này trở nên quan trọng thì hình thành nha (tòa án, quận) nằm dưới quyền của một quan chức thất phẩm hoặc bát phẩm, được triều đình ban cho chức danh quan kinh lý.

Người dân tộc thiểu số dưới áp lực không ngừng và luôn bị đẩy ngày càng sâu hơn vào vùng núi, người quan ly (quan kinh lý) dần dần tổ chức chế độ dân sự trong khu vực mới, mỗi nhóm, được thành lập ở một xã thông thường dưới tên thôn tân mộ, vinh danh người sáng lập được phong chức quan cửu phẩm. Tất cả các xã này hình thành, sau đó được chia thành nhiều tổng, cuối cùng tự phong bằng việc hình thành một quận mới, một huyện hành chính: nha kinh lý mất tên khi vào luật chung...”.

Do đó, việc đàn áp những người dân tộc thiểu số được thực hiện từ từ, dần dần, gần như không có bạo lực. Trước vòng vây hãm thu hẹp từ ngày này sang ngày khác, người dân tộc thiểu số cuối cùng biến mất, nhường chỗ cho người An Nam.

[124]Ở đây chúng tôi dùng cụm từ “tiến hóa trí tuệ” với nghĩa rộng hơn nhiều so với ý thông thường. Thực tế, chúng tôi sẽ mô tả dưới tiêu đề này, các giai đoạn không chỉ có các sáng tạo ngôn ngữ, nghệ thuật, khoa học hoặc văn học khác nhau, mà còn tất cả các sản phẩm của trí tuệ dưới bất kỳ hình thức nào được thể hiện: phát minh sơ khai, kỹ nghệ, nông nghiệp, v.v.

[125] Không còn nghi ngờ gì nữa, ở An Nam, một số ngành kỹ nghệ địa phương như dệt lụa và bông là những ngành chính. Nhưng bên cạnh đó họ chưa bao giờ có sự phát triển cao, các sản phẩm của họ thô và kém chất lượng. Điều này không chỉ do sự không hoàn hảo của các công cụ mà còn do tính cách của người lao động. Người An Nam, dường như vẫn còn sơ khai dưới nhiều quan hệ, có tính cách hời hợt; họ thiếu kiên trì; vì vậy thường vội vàng hoàn tất công việc với kết quả tồi tệ, dù rằng chính họ đã khởi sự với sự cần mẫn

[126] Tất nhiên, chúng tôi luôn cân nhắc, dân tộc An Nam độc lập với bất kỳ sự can thiệp nào từ phía chúng tôi. Kể từ khi thành lập chế độ bảo hộ của chúng tôi, điều kiện kinh tế của đất nước đã thay đổi đáng kể và với họ là điều kiện sống cư dân. Chúng tôi sẽ có cơ hội để nói thêm rằng việc tạo ra các ngành kỹ nghệ địa phương và thương mại quốc gia sẽ là cơ sở đầu tiên cải thiện đạo đức người bản xứ.

[127] Theo sách Thượng thư đại truyệnHậu Hán thư thì vào năm thứ sáu kể từ khi Chu Công nhiếp chính người nước Việt Thường đi bằng ba con voi đến dâng chim trĩ trắng cho Chu Thành vương. Hai bên đều không có ai biết tiếng của nhau nên phải dùng cách phiên dịch gián tiếp qua ngôn ngữ khác để nói chuyện.

Theo sách Việt sử lược vào thời Chu Thành vương bộ lạc Việt Thường thị cho người đến dâng chim trĩ trắng.

Theo Tư trị thông giám cương mục thì vào năm thứ sáu kể từ khi Chu Thành vương lên ngôi, tức là năm Tân Mão, người nước Việt Thường thị đến dâng chim trĩ trắng. Vì không biết tiếng của nhau nên khi nói chuyện hai bên phải qua ba lần phiên dịch mới hiểu được nhau. Khi sứ giả Việt Thường thị về nước vì sứ giả không biết đường nên Chu Công đã cho lấy năm cỗ xe bình xa (軿車,xe có màn che thời xưa) sửa thành xe chỉ nam rồi cấp cho sứ giả để giúp sứ giả xác định phương hướng. Sứ giả Việt Thường thị đi dọc theo bờ biển hai nước Phù Nam và Lâm Ấp để về nước. Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng có nói tới chuyện người Việt Thường thị dâng chim trĩ cho nhà Chu, nội dung hoàn toàn giống với chuyện kể trong Tư trị thông giám cương mục - ND.

[128]Dahomey: Bénin, tên chính thức Cộng hòa Bénin (tiếng Pháp: République du Bénin), là một quốc gia Tây Phi, tên cũ là Dahomey (cho tới năm 1975) hay Dahomania. Nó có chung biên giới với Togo ở phía tây, Nigeria ở phía đông và Burkina Faso cùng Niger ở phía bắc; bờ biển ngắn ở phía nam nước này dẫn tới Eo Benin. Thủ đô của Bénin là Porto Novo, nhưng chính phủ đóng trụ sở tại Cotonou - ND.

[129] Charles Letourneau, Psychologie ethnique, sđd

[130] Hippolyte Taine, De L’lntelligence (Về trí thông minh).

[131] Người ta cho rằng ngôn ngữ An Nam có khoảng 1.500 từ đơn âm; nếu chúng ta nhân số này với sáu dấu giọng trong đó những từ đơn âm này dễ bị ảnh hưởng, chúng ta sẽ có được tổng cộng tối đa 9.000 từ. Tuy nhiên, thực tế, người An Nam thường không sử dụng hơn 6.000. Thật nhẹ nhàng khi chỉ sử dụng sáu nghìn từ này mà tất cả các ý tưởng phải được diễn tả vì vậy không phải là hiếm khi âm tiết giống nhau tập hợp đến mười và mười hai nghĩa khác nhau. “Đó là ba hoặc bốn từ loại này, Landes đã viết, được nhóm lại trong một câu, hơn nữa, câu đó tỉnh lược hoặc có nghĩa bóng kỳ dị như là phong cách đẹp chờ sẵn, và ý tưởng không hơn gì một ẩn ngữ không thể giải được...” - Trích “Notes sur la langue et la littérature Annamite” (Ghi chép về ngôn ngữ và vãn chương An Nam), Excursions et Reconnaissances I. VIII, 1884.

[132] Có thể cho ngữ pháp học gồm hai bộ phận: từ pháp học (chuyên nghiên cứu về các quy tắc biến hình của từ, các phương thức cấu tạo từ và các đặc tính ngữ pháp của từ loại) và cú pháp học (nghiên cứu những quy tắc kết hợp từ, nhóm từ thành các kết cấu cú pháp để ngôn ngữ trở thành “phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người”). Ở đây, có lẽ tác giả nhận định từ quan sát thấy rằng một câu/cấu trúc chủ-vị trong tiếng Việt chủ yếu là sự sắp xếp các từ vào đúng vị trí, chứ không xuất hiện sự biến cách/biến đổi hình thức của từ để đảm nhiệm một chức năng ngữ pháp khác như trong tiếng Pháp, tiếng Anh... - BT.

[133] Ở đây, ví dụ, là một câu trích từ Đại Học hay Grande Etude của Khổng Tử. Chúng tôi ngay lập tức đưa ra bản dịch chính xác của từng từ và chúng tôi cũng bớt khó khăn rất nhiều vì chúng tôi đã chỉ ra giá trị ngữ pháp của từng thành tố:

Biết - cái gì - trước - sau - sau - tiếp cận - đường - phải.

(Connaitre - ce que - avant - après - alors - approcher - voie - droite)

Nghĩa gán như là thế này: “Nếu chúng ta biết cái gì có trước và cái gì tiếp theo, thì chúng ta tiếp cận con đường đúng” hoặc chính xác hơn: “Thấu đáo nhân và quả và bạn sẽ đạt đến căn nguyên cuối cùng”.

[134]Lettre à M. Abel-Rémusat (Thư gửi ông Abel-Remusat).

[135] Trên thực tế, có thể chứng minh rằng khả năng này phát triển cao trong những bộ óc tương đối đơn giản, trái lại, gần như thiếu hoàn toàn những trí tuệ tạo ra sự trừu tượng khoa học.

“Tôi đã thấy, không phải không ngạc nhiên”, Galton nói, trong cuộc điều tra năm 1880, “về các hình thức khác nhau được thực hiện bởi trí thông minh theo năng lực thay đổi của trí tưởng tượng, rằng phần lớn những nhà khoa học mà tôi nêu ra, đã tuyên bố rằng ‘sự tưởng tượng tinh thần’ không được biết đến với họ: ‘Chỉ có vậy, một trong số họ nói, bằng một hình ảnh ngôn ngữ mà tôi so sánh ký ức của tôi từ một sự kiện đến một cảnh vật, đến một hình ảnh tinh thần có thể nhìn thấy được đối với mắt của tâm trí tôi, v.v. trong thực tế tôi không thấy gì cả’”. “Kết luận, Galton bổ sung, đó là một nhận thức quá nhanh về các bức tranh tinh thần đối nghịch với sự thu được những suy nghĩ trừu tượng và khái quát cao” (Alfred Fouillée, Tempérament et Caractère, sđd).

[136]Phdarète Chasles, Voyages d’un critique à travers la vie, et les livres, sđd.

[137] Hầu hết các bài thơ An Nam là những chuyên luận đạo đức. Dưới đây là các chủ đề, một trong số chúng đã được M. p. Trương Vĩnh Ký xuất bản: Devoirs des filles et des femmes. Ecole domestique, Une mère à sa Défauts et qualités des filles et desfemmes.

Đôi khi cũng là huấn thị tôn giáo, hiếm khi là thơ trào phúng hoặc nghiên cứu về phong tục.

[138]Excursions et Reconnaisances, tập VIII, 1884, tlđd.

[139]Về chủ đề này, Landes đưa ra một ví dụ mà chúng tôi nghĩ rằng phải dẫn lại ở đây để nắm rõ hơn tính ấu trĩ của văn chương nghệ thuật An Nam:

Để hiểu câu thơ thứ ba của bốn câu thơ này:

“Tôi cũng có hai cảm xúc mãnh liệt:

“Nhung mượt cánh hồng và sợi cước áo gai,

Ít nhất một cánh hồng không bao giờ héo úa,

Một chiếc áo gai cứa vào dai dẳng.”

Phải nhắc lại câu chuyện về Sybarite; ý tưởng được thể hiện theo cách không tự nhiên, nhưng chính vì lý do này mà bất kỳ học giả nào cũng sẽ tự hào khi hiểu và giải thích nó. Đầy là những nét đẹp không phù hợp với thói quen suy nghĩ của chúng ta.

(Chú thích của người dịch: Sybarite là một thành phố Hy Lạp cổ đại miền Nam nước Ý (ở Calabria ngày nay), được thành lập vào thế kỷ VIII TCN. Sự xa hoa của Sybarite cổ đại là tục ngữ. Sự giàu có của họ được đảm bảo bởi vùng đồng bằng phù sa và màu mỡ rộng lớn mà thành phố thống trị, bởi vai trò chiến lược mà nó nắm giữ trong thương mại Địa Trung Hải thời cổ đại, và bởi mối quan hệ chặt chẽ mà nó duy trì với thành phố Miletus. Sybarite nổi tiếng với sự xa hoa, lạc thù và sự nhàn rỗi của cư dân)

[140] Ở phần miêu tả “treo trên cửa và tường nhà”, có lẽ tác giả đã nhầm lẫn tục ngữ/thành ngữ với các cặp câu đối - BT.

[141]Théophile Gautier, En Chine (Ở Trung Hoa).

[142]Chúng tôi nợ ở đây một lời giải thích cho những độc giả không quen thuộc với ngôn ngữ và chữ viết biểu ý An Nam. Dường như có một sự bất đồng giữa con số chín nghìn mà chúng tôi đã đưa ra ở trên với mức tối đa của các từ được sử dụng và bốn mươi nghìn mà chúng tôi bàn về tổng số các ký tự ở đây. Sự bất đồng chỉ bề ngoài. Trên thực tế, chúng ta đã nói rằng mỗi từ có thể có tới mười và mười hai nghĩa khác nhau; bây giờ, với mỗi ý tưởng được thể hiện có thể tương ứng với một chữ tượng hình riêng biệt, cách phát âm vẫn giữ nguyên. Do đó, một từ duy nhất có thể có nhiều cách viết và được hiểu rằng trong những điều kiện này, con số 40.000 không hề phóng đại.

[143] Gustave le Bon, Lois psychologiques de l’évolution des peuples (Quy luật tâm lý của cách mạng dân tộc), F. Alcan, Paris, năm 1904.

(Chú thích của người dịch: Gustave Le Bon (1841-1931): nhà tâm lý học xã hội. Theo Gustave Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức tác động, họ xử sự như người nguyên thủy, người dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tưởng, họ không kiên định, thất thường, và đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ ngẩn nhất. Vả lại, do thể tạng của mình, những đám đông ấy cần có một thù lĩnh, một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho bản năng của họ một ý nghĩa.)

[144] Chúng tôi không có ý định tái hiện ở đây các giai đoạn khác nhau của sự tiến hóa tôn giáo nhân loại; mục tiêu chúng tôi là điều khác. Chúng tôi đế cập đến nghiên cứu về thuyết vật linh và các học thuyết khác nhau mà nó đã sinh ra, cho các chứng minh khắt khe của Tylor, trong tác phẩm của ông: La Civilisation primitive (Văn minh nguyên thủy).

[145] Adrien Launay, Histoire ancienne et moderne de L’Annam, sđd.

[146]Bài “Les croyances populaires de la province de Quang-binh An Nam” (Tín ngưỡng phổ biến ở tỉnh Quảng Bình, An Nam), Tập san Viện Viễn Đông Bác Cổ, năm 1901.

[147] Jules Sylvestre, Considérations sur Vétude du droit Annamite: - Trượng với roi mây, một trong những công cụ hình phạt được sử dụng nhiều nhất ở An Nam. Trượng, theo Bộ luật, Trượng có kích thước trung bình, có chu vi phải nằm trong khoảng lớn nhất từ 1 inch hai và nhỏ nhất từ 1 inch mốt.

Roi mây là một cây gậy mềm dẻo có chu vi ít nhất năm phần mười inch đến sáu phần mười inch.

[148] Tết là ngày đầu năm An Nam.

[149] Éliacin Luro, Cours d‘administration Annamite (Tìm hiểu về nền hành chánh An Nam), Sài Gòn, 1875. - Chúng tôi mượn từ cuốn Rituel funéraire des Annamites (Tang lễ của người An Nam, Imprimerie Typo-lithographique F-H Schneider, Hà Nội, năm 1904) của ông Dumoutier những thông tin sau đây về các điện thờ tổ tiên:

“Ngay những gia đình nghèo nhất, trong những túp lều khốn khổ nhất, ở nhà những người An Nam vẫn có một nơi đặc biệt dành riêng cho tổ tiên. Một cái bàn, hoặc thậm chí là một tấm ván đơn giản được đặt trên kệ đỡ những bài vị tổ tiên quá cố, vào ngày giỗ và ngày cúng tế.

Để thờ tự tổ tiên, các gia đình giàu có xây ở phía đông ngôi nhà, một tòa nhà, nơi này rất quan trọng vì lý do giàu có và cấp bậc của họ. Bề thế nhất thực sự gồm một nhà thờ, hai bên hai cánh hoặc các khám thờ độc lập: quây lại, tạo thành ba cạnh một tòa trong đó để các thành viên gia đình đứng khi hành lễ. Ngôi điện có bàn thờ, các pháp khí và tủ đựng các bài vị. Tòa nhà bên trái chứa chiếc rương đựng những cuốn phả hệ gia đình, bằng sắc, v.v. và lễ phục. Tòa nhà bên phải làm nhà bếp để chuẩn bị thức ăn dâng cúng...”

“Đồ nội thất nghi lễ trang trí nhà thờ tổ tiên là một bàn thờ đặt những bài vị, một bàn cúng, một cái bục thấp phủ thảm dành cho chủ lễ, một lư hương, một bát nhang với một khay nhỏ, một cây nến sáp thực vật hoặc đèn, bàn cầu nguyện, một bình rượu cúng, một bộ khay và chén, một bộ muỗng và đũa, một chậu đồng trên giá gỗ, một khăn và bếp lò. Đồ nội thất và đồ dùng này không được dùng cho bất kỳ mục đích nào khác.

Người ta chỉ giữ các bài vị của bốn thế hệ trở lên, kể từ người cha. Ngày cúng tế người ta lấy nó ra từ tủ hoặc rương mà nó thường được cất kỹ, chúng được lấy khỏi bao da và đặt trên bàn thờ theo thứ tự sau: ông kị, bà kị; ông cố, bà cố; ông, bà; cha, mẹ. Khi một thế hệ được thêm vào bốn thế hệ còn lại, tất cả các bậc cha mẹ được mời đến một buổi lễ để dự tính đặt nó cuối bàn thờ của cụ kị, người ta chôn những bài vị dưới bàn thờ ngay trong đất của nhà thờ.

Bài vị được đặt trong một hộp gỗ sơn mài, màu đỏ... vẻ ngoài rất đơn giản và không có trang trí; chỉ có phần đế được trang trí, triện mạ vàng... Hộp được mở ra và thấy một bọc thuôn dài cũng màu đỏ, được đặt dọc, chỉ kín ở ba phía và phần trên được mở ra; mặt thứ tư, miệng mở rộng, là mặt trước cho thấy bài vị, hoàn toàn màu trắng. Nó cũng được làm bằng gỗ táo...”

“Chiếc bài vị này thực sự được làm từ hai tấm ván nhỏ ghép vào nhau và được giữ bởi một mảnh ghép cắt xiên và gắn chung vào lỗ đế; lắp ghép này tháo rời được. Khi bài vị được tách đôi, mặt sơn của tấm ngoài được gọi là phấn diện, và mặt không sơn tấm thứ hai, nội hàm. Mặt phấn diện khắc chữ màu đen rõ ràng nổi bật trên nền sơn trắng, màu của tang tóc, trên đó ghi hình thức đề tặng...”

“Chính người con trai trưởng cúng bài vị hoặc, khi không có, người chịu trách nhiệm thờ cúng hương hỏa, hay nhang và lửa: tên của anh ta ở phía dưới bên phải của bản khắc; khi người quá cố là đối tượng danh vọng hoặc được ban thụy hiệu, tên của người con trai biến mất và được thay thế bằng một dãy những danh hiệu này.

Mặt trong, hoặc nội hàm của bài vị, không được tô điểm bất kỳ hình vẽ nào, được khắc, kiểu khảm sâu năm milimet... bản khắc này chứa dòng chữ ẩn, cho biết tên thật và riêng của người quá cố (bài vị bên ngoài chỉ ghi họ, chức tước và tên hiệu) ngày sinh và ngày mất của họ...”

“Bài vị, ngoài những ngày tế lễ, được bọc lại bằng bao hình chữ nhật bằng gỗ và đặt trong tủ. Người chủ gia đình mỗi sáng phải đến chào hỏi tổ tiên; ông đứng trước cửa và cúi đầu thật sâu. Ông cũng làm như vậy khi ông đi xa dài ngày hoặc trở về nhà sau một thời gian vắng mặt.”

[150] Xem mô tả chi tiết hơn về các nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong Cours d'administration Annamite của Luro, sđd.

[151] Có lẽ ở đây tác giả có nhầm lẫn gì đó, vì trong Phật giáo không có thượng đế tối cao - BT.

[152]Cùng với Chu Lễ, Kinh LễGia Lễ là một trong ba bộ kinh điển về Lễ. Ở Việt Nam có Thọ Mai gia lễ dựa trên Chu Lễ nhưng đã qua ít nhiều cải biên chứ không rập theo khuôn Trung Hoa - BT.

[153] Le Code annamite (Luật pháp An Nam), Paul-Louis-Félix Philastre dịch, Ernest Leroux, Paris, năm 1876, điều 83.

[154]Jules Sylvestre, Considérations sur l’étude du droit annamite, sđd.

[155]Chúng tôi nghĩ rằng phải lưu ý ở đây có một lỗi ông J. Sylvestre phạm phải, khi gợi ý rằng họ hàng đàng ngoại sau đó được công nhận là quan hệ họ hàng. Đó là điều ngược lại, không còn nghi ngờ gì nữa, giữa người An Nam cũng như với tất cả các dân tộc khác trên toàn cầu. Trên thực tế, ngày nay, gần như hoàn toàn chỉ ra rằng dòng mẹ mới là nền tảng của gia tộc nguyên thủy.

[156]Jules Sylvestre, Considérations sur l’étude du droit aimamite, sđd.

[157]Lois Civiles (Luật dân sự, tức Bộ luật Gia Long), Philastre dịch, Enest Leroux, Paris, năm 1876, điều 82.

[158]Xem Luro, sđd. Ông nói, về chủ đề này, trong thực tế, việc nhận biết tổ tiên chung dễ dàng hơn khi tính đến thế hệ thứ 3, nhưng rất hiếm khi thấy một gia tộc có nhiều nhánh khác nhau có thể đồng nhất quan niệm từ thế hệ thứ 4 hoặc thứ 5 trở đi. Về mặt pháp lý, cấp độ họ hàng được ghi rõ trong Bộ luật ở mục “Tang chế”; việc tính vào họ hàng dừng lại ở cháu chắt, người phải mang tang trong ba tháng trước cái chết của ông cố.

[159]Luro chỉ ra rằng quyền cử hành thờ cúng tổ tiên được truyền từ nam sang nam theo thứ bậc con cháu, có thể xảy ra lúc Trưởng tộc không phải là người cử hành các nghi lễ gia đình.

[160]Nếu, chẳng hạn, chồng của góa phụ không phải là chủ gia đình, họ vẫn có thể nằm dưới quyền của cha hoặc ông của chồng.

[161]Ở đây, tất nhiên chúng tôi chỉ nói về quyền sở hữu tài sản.

[162]Numa Denis Fustel de Coulanges, La Cité antique (Đô thị cổ đại), Paris, năm 1864.

[163]Numa Denis Fustel de Coulanges (1830 -1889) là một nhà sử học người Pháp, cuốn sách tuyệt vời đầu tiên của ông, La Cité antique, dựa trên kiến thức chuyên sâu về các văn bản Hy Lạp và La-tinh quan trọng. Cuốn sách lập luận rằng: tôn giáo là yếu tố duy nhất trong sự phát triển của Hy Lạp và La Mã cổ đại, sự gắn kết của gia đình và nhà nước là công việc của tôn giáo, bởi vì tổ tiên thờ cúng gia đình, bị lôi kéo bởi nhu cầu tham gia vào các giáo phái tổ tiên, đã trở thành đơn vị cơ bản của các xã hội cổ đại, mở rộng đến các genSyphratry Hy Lạp, bộ lạc La Mã, đến nhà nước thành phố quý tộc, và sự suy giảm niềm tin tôn giáo và quyền lực trong cuộc khủng hoảng đạo đức do sự giàu có và bành trướng của La Mã đã gây ra cho nền cộng hòa và dẫn đến chiến thắng Ki-tô giáo và cái chết của nhà nước thành phố cổ đại - ND.

[164]San bằng hoặc đào một phần mộ là một hành động mà luật pháp An Nam trừng phạt một trăm trượng và ba năm khổ sai. Tùy theo tình tiết, hình phạt có thể được tăng thành một trăm trượng và lưu đày, đôi khi bị thắt cổ (Điều 332).

[165]J. Sylvestre đưa ra kết luận tương tự: “Ở người An Nam, khái niệm về quyền sở hữu không có tính tuyệt đối, độc quyền, ích kỷ đã biến Bộ luật Dân sự không như của chúng ta. Theo họ, không ai có thể có toàn quyền và toàn bộ quyền sở hữu trên đất đai; quyền này chỉ thuộc về chủ nhân của tất cả những thứ mà họ gọi là Trời, vì chính Trời, theo ý muốn của ông, tạo nên đất đai, bảo tồn nó, có thể phá hủy nó. Đó là lý do tại sao chúng ta sẽ thấy luật pháp và tập tục đồng ý giới hạn quyền sở hữu tài sản của đất đối với quyền làm chủ lợi ích (dominium utile): con người có, chắc chắn, đối với vùng đất mà đích thị anh ta sở hữu, quyền hưởng các loại hoa lợi của đất này; nhưng quyền làm chủ toàn vẹn (dominium plénum) chỉ thuộc về đại gia đình nhân loại, bị giới hạn trong quốc gia, đó là sự thật, và được coi là một sự nhất quán về đạo đức.

Luật tự nhiên, sự tất yếu của đời sống xã hội đã áp đặt, tiếp đến là việc mở rộng dân số và vì lợi ích của cộng đồng, quyền sở hữu cá nhân; nhưng về sau, theo một số quan điểm nhất định, vẫn giữ được đặc tính của sự ủy quyền đơn thuần, và người sở hữu buộc phải hưởng nó chỉ trong một số điều kiện nhất định, khi bị phạt tịch thu. Đó là một nguyên tắc cơ bản rằng không ai có thể giàu có mà không cần làm việc; đó là lý do tại sao người giữ đất mà anh ta để hoang hóa và không phải trả thuế nào cả, bị tước quyền sở hữu” (sđd).

[166]Ở người An Nam hầu như không tồn tại quan niệm về nụ hôn; người mẹ thơm con, nhưng không hôn con. Sự thiếu vắng nụ hôn ở người An Nam, theo de Lanessan (trong L’Indo-chine francaise: Étude de politique, économique et administrative sur la Cochinchine, le Camhodge, l’Annam et le Tonkin (Đông Dương thuộc Pháp: nghiên cứu chính trị, kinh tế và hành chánh về Nam kỳ, Campuchia, Trung kỳ và Bắc kỳ), F. Alcan, Paris, năm 1889), có lẽ do họ theo thói quen nhai trầu. Tất cả người An Nam, đàn ông hay phụ nữ, khi nhai trầu họ thêm một ít vôi tôi và một miếng hạt cau. Việc nhai miếng trầu này tạo ra một lượng nước bọt dồi dào, màu đỏ, có vẻ như rất khó chịu.

[167]Luận Ngữ, chương XV, đoạn 30. (Tất cả các phần trích dẫn Tứ thư trong nội dung chính của chương này, tác giả đều dùng bản dịch tiếng Pháp của Pauthier.)

(Chú thích của người dịch: Trong quá trình chuyển ngữ, với các đoạn trích dẫn Tứ thư, kèm theo dẫn nguồn của tác giả ở cước chú, người dịch bổ sung thêm bản phiên Hán-Việt và dịch nghĩa tương ứng, tất cả đều lấy từ sách Tứ thư bình giải của Lý Minh Tuấn, Nxb. Tôn Giáo. Phần bổ sung sẽ được cho vào ngoặc vuông và không ghi chú gì thêm để tiện cho bạn đọc theo dõi, như sau:

Tử viết: “Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư; vô ích, bất như học dã.

Dịch nghĩa:

Đức Khổng Tử nói: “Ta thường suốt ngày không ăn, suốt đêm không ngủ để nghĩ ngợi; không có ích, không bằng học vậy.”)

[168]Jean-Louis de Lanessan, La morale des philosophes chinois: extraits des livres classiques de la Chine et de l’Annam, sđd.

[169] Ch. 1,82.

Chú thích của BT: Luận Ngữ, chương I, đoạn 2, có viết: “Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dữ!” (Hiếu thảo và hòa thuận là cái gốc của đạo làm người.)

[170]Đại Học hay la Grande Étude, chương IX, đoạn 7.

(Thi vân: “'Nghi huynh nghi đệ.” Nghi huynh nghi đệ, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân.

Dịch nghĩa:

Kinh Thi rằng: “Xứng hợp với anh, xứng hợp với em.” Xứng hợp với anh, xứng hợp với em, rồi sau mới có thể giáo dục người trong nước.)

[171]Trung Dung, chương XIX, đoạn 5.

(Tiễn kỳ vị, hành kỳ lễ, tấu kỳ nhạc, kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã.

Dịch nghĩa:

“Đứng vào ngôi vị của cha ông, tiến hành nghi lễ của cha ông, tấu nhạc của cha ông, kính người mà cha ông tôn trọng, yêu người mà cha ông thân thiết, thờ người quá cố như thờ người sống, thờ người đã mất như thờ người hiện còn, đó là hiếu hết mức vậy.)

[172] Mạnh Tử, chương X, đoạn 8.

(Mạnh Tử vị Vạn Chương viết: “Nhất hương chi thiện sĩ, tư hữu nhất hương chi thiện sĩ. Nhất quốc chi thiện sĩ, tư hữu nhất quốc chi thiện sĩ. Thiên hạ chi thiện sĩ, tư hữu thiên hạ chi thiện sĩ.

“Dĩ hữu thiên hạ chi thiện sĩ vi vị túc; hựu thượng luận cổ chi nhân, tụng kỳ thi, độc kỳ thư. Bất tri kỳ nhân, khả hồ? Thị dĩ luận kỳ thế dã. Thị thượng hữu dã.”

Dịch nghĩa:

Mạnh Tử bảo Vạn Chương rằng: “Là kẻ sĩ đạo đức trong một làng, hãy nên kết bạn với những kẻ sĩ đạo đức trong làng. Là kẻ sĩ đạo đức trong một nước, hãy nên kết bạn với những kẻ sĩ đạo đức trong nước. Là kẻ sĩ đạo đức trong thiên hạ, hãy nên kết bạn với những kẻ sĩ đạo đức trong thiên hạ.

“Kết bạn với các kẻ sĩ đạo đức trong thiên hạ chưa lấy làm đủ, lại còn luận bàn hướng lên với người xưa bằng việc tụng đọc thơ văn, sách vở của người xưa. Thế mà có thể không biết được người xưa chăng? Do đó mà luận bàn về các tình thế của người xưa nữa. Thế là được kết bạn với các bậc trên xưa vậy.”)

[173]Luận Ngữ, chương XV, đoạn 9.

(Tử Cống vấn vi nhân. Tử viết: “Công dục thiện kì sự, tất tiên lợi kì khí. Cư thị bang dã, sự kì đại phu chi hiền giả, hữu kì sĩ chi nhân giả”.

Dịch nghĩa:

Tử Cống hỏi về sự tu dưỡng đức nhân. Khổng Tử đáp: “Người thợ muốn làm việc cho khéo thì trước hết phải có đồ dùng tốt. (Cũng vậy, muốn tu dưỡng đức nhân, cần có thầy, bạn). Ở nước nào thì tìm ông đại phu nào hiền mà thờ, tìm người nhân mà làm bạn.”

[174]Trung Dung, chương XXXIII, đoạn 3.

(Thi vân: “Tiềm tuy phục hỹ, diệc khổng chi chiêu.” Cố quân tử nội tỉnh bất cửu, vô ố ư chí. Quân tử chi sở bất khả cập dã, kỳ duy nhân chi sở bất kiến hồ.

Dịch nghĩa:

Kinh Thi rằng: “Ẩn náu trong nước tuy là nấp kín, mà cũng hiện rõ tỏ tường.” Cho nên người quân tử tự xét trong lòng thấy không lỗi lầm, thì không tự thẹn (không thấy ý chí chán ghét). Chỗ mà quân tử chưa thể đạt tới (ở đáy lòng), riêng người ngoài không thấy được.

[175]Trung Dung, chương XXXIII, đoạn 4.

(Thi vân: “Tướng tại nhĩ thất, thượng bất quí vu ốc lậu." Cố quân tử bất động, nhi kính; bất ngôn, nhi tín.

Kinh Thi rằng: “Xem ở nhà ngươi, hãy chuộng điều gì mà không thẹn ở góc nhà tây bắc.” Vì vậy, người quân tử không hành động mà người vẫn kính trọng; không nói mà người vẫn tin.)

[176] Jean-Louis de Lanessan, La morale des philosophes chinois: extraits des livres classiques de la Chine et de l’Annam, sđd.

[177]Pauthier, Khổng Tử và Mạnh Tử, “Dẫn nhập”.

[178]Trung Dung, chương XXXI, đoạn 1.

(Duy thiên hạ chí Thánh, vi năng thông, minh, duệ, trí, túc dĩ hữu lâm dã ; khoan, dũ, ôn, nhu, túc dĩ hữu dung dã ; phát, cường, cương, nghị, túc dĩ hữu chấp dã; trai trang, trung chính, túc dĩ hữu kính dã; văn, lý, mật, sát, túc dĩ hữu biệt dã.

Dịch nghĩa:

Chỉ riêng bậc chí thánh trong thiên hạ mới có khả năng thông suốt, sáng tỏ, hiểu sâu, khôn ngoan đủ để có sự soi xét đối nhìn; có khả năng khoan nhân, rộng lượng, ôn hòa, dịu dàng đủ để có sự bao dung; có khả năng khởi phát, mạnh mẽ, cứng rắn, quả quyết đủ để có sự nắm giữ, có khả năng thanh khiết, trang nghiêm, ngay thẳng, chính đáng đủ để có sự tôn kính; có khả năng văn vẻ, lý sự, kỹ lưỡng, minh bạch đủ để có sự phân biệt.)

[179]Trên thực tế, chúng ta biết rằng gia đình không phải là yếu tố nguyên thủy của xã hội, là tế bào xã hội như chúng ta đã gọi. Đó là từ thị tộc mà tổ chức của gia đình hiện tại đã ra đời. Nhưng một khi tổ chức này được thành lập, theo hình ảnh đó, xã hội đã được tái lập.

[180] Đại Học, chương X, đoạn 2.

(Thi vân: “Lạc chỉ quân tử, dân chi phụ mẫu." Dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi. Thử chi vị dân chi phụ mẫu.

Dịch nghĩa:

Kinh Thi rằng: “Vui thay quân tử, cha mẹ của dân.” Điều gì dân thích, mình thích; điều gì dân ghét, mình ghét. Như thế gọi là cha mẹ của dân.)

[181]Đại Học, chương X, đoạn 4.

(Thi vân: “Tiệt bỉ Nam sơn, duy thạch nham nham, hách hách Sư Doãn, dân cụ nhĩ chiêm.” Hữu quốc giả bất khả dĩ bất thận, tịch, tắc vi thiên hạ lục hỹ.

Kinh Thi rằng: “Núi Nam kia cao ngất, chỉ có đá chập chồng. Lẫm liệt thay Sư Doãn, dân chúng đều ngắm ông.” Người có nước không thể không thận trọng, lệch lạc thì bị thiên hạ giết chết.)

[182] Đại Học, chương X, đoạn 5.

(Thi vân: “Ân chi vị táng sư, khắc phối Thượng đế. Nghi giám vu Ân: tuấn mệnh bất dị.”

Đạo đắc chúng, tắc đắc quốc; thất chúng, tắc thất quốc. Thị cố, quân tử tiên thận hồ đức. Hữu đức, thử hữu nhân; hữu nhân, thử hữu thổ; hữu thổ, thử hữu tài; hữu tài, thử hữu dụng.

Dịch nghĩa:

Kinh Thi rằng: “Nhà Ân hồi chưa mất dân, hay kết hiệp với Thượng đế. Hãy coi nhà Ân làm mẫu: mệnh lớn không dễ dàng đâu!” Nói cho rõ là được dân chúng, thì được nước; mất dân chúng thì mất nước. Vậy nên, bậc quân tử trước hết là thận trọng giữ đức. Có đức, ấy là có người; có người ấy là có đất; có đất ấy là có của cải; có của cải ấy là có chỗ dùng.)

[183]Jean Baptiste Éliacin Luro, Henri Louis Gabriel de Bizemont (Tử tước), Le pays d’Annam, sđd.

[184]Alfred de Pouvourville, La Chine des Mandarins, sđd.

[185]Éliacin Luro, Cours d’administration Annamite, sđd.

[186]Ngũ quân đô thống: Trong thời chiến tranh Tây Sơn chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Ánh chia quân đội theo 5 đạo quân, gồm trung quân, tả quân, hữu quân, tiền quân, và hậu quân với chúa là vị Đại Nguyên Soái,- thống lĩnh toàn bộ quân binh. Mỗi một đạo quân do một vị võ quan chỉ huy. Vị võ quan chỉ huy đạo quân thường được gọi theo tên đạo quân như Tả quân Lê Văn Duyệt, Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức hoặc ngắn gọn như Chưởng quản Hữu quân dinh.

Thời Gia Long, các chưởng quản Ngũ quân Đô thống, ngoài quyền hạn quân sự là các võ quan cao cấp nhất triều đình, còn được triều đình thặng bổ chức Tổng trấn, là chức được đặc trách toàn quyền dân sự lẫn quân sự một thành (Bắc thành và Gia Định thành), một đơn vị hành chính gần bằng cả một miền tại Việt Nam, gồm nhiều dinh hoặc trấn hợp lại mà mình được giao phó.

Từ Minh Mạng (1831), chức Tổng trấn được bãi bỏ với cuộc cải tổ toàn diện về hành chính và quân sự. Quyền hạn các Ngũ quân đô thống lại được giới hạn trong quân sự, việc hành chính tại các tỉnh từ thời điểm này được chuyển giao cho các quan Tuần phủ hoặc Tổng đốc.

Thời Nguyễn, Ngũ quân Đô thống dưới quyền vua và trên chức Chưởng Doanh (Thống chế, Đề đốc, Chưởng vệ) - ND.

[187]Éliacin Luro, Cours d’administration Annamite, sđd.

[188] Đời vua Gia Long chỉ có kỳ thi Hương, đến năm 1822, vua Minh Mạng mở khoa thi Hội, thi Đình để lấy Tiến sĩ. Đến năm 1829 nhà vua lại cho những người trúng cách, nhưng không cập phân, được đỗ phó bảng. Phó bảng khởi đầu từ đây.

Trước đây cứ 6 năm một khoa thi, rồi đổi lại làm 3 năm một khoa, cứ năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì thi Hương; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội, thi Đình.

Phép thi vẫn theo như đời vua Gia Long. Kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; đệ nhị: thi tứ lục; kỳ đệ tam: thi phú; kỳ đệ tứ: thi văn sách. Trước ai đỗ tam trường, gọi là sinh đồ, ai đỗ tứ trường gọi là hương cống; nay đổi sinh đồ là Tú tài, hương cống là cử nhân.

Trải qua các đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, mỗi đời vua có sửa đổi nhưng thi Hội vẫn có bốn trường, còn thi Hương thì rút một còn ba trường vào đời vua Tự Đức. Đến đời Kiến Phúc thì định thi Hương quyền nào được vào hạng ưu bình phải thi thêm một kỳ phúc hạch. Bài thi vẫn là kinh nghĩa, tứ lục, thơ phú và văn sách. Ở triều Lê người thi Hương đậu gọi là Cử nhân, Tú tài; đến đời Hậu Lê gọi là Hương cống, Sinh đồ; đời Gia Long cũng theo đời trước, đến đời vua Minh Mạng đổi gọi là Cử nhân và Tú tài - ND.

[189]Mạnh Tử, chương V, đoạn 3.

“Phù, Đằng nhưỡng địa biển tiểu, tương vi quân tử yên, tương vi dã nhân yên. Vô quân tử, mạc trị dã nhân; vô dã nhân, mạc dưỡng quân tử.

Dịch nghĩa:

“Nước Đằng tuy đất đai nhỏ hẹp, nhưng vẫn phải có quan lại hưởng lộc để giúp vua và nông phu chuyên việc làm ruộng. Không có quan lại thì chẳng có ai quản lý nông phu. Không có nông phu thì chẳng có ai nuôi dưỡng quan lại.”

Mạnh Tử, chương V, đoạn 4.

“Nhiên tắc trị thiên hạ, độc khả canh thả vi dư? Hữu đại nhân chi sự, hữu tiểu nhân chi sự. Thả nhất nhân chi thân nhi bách công chi sở vi bị; như tất tự vi nhi hậu dụng chi, thị suất thiên hạ nhi lộ dã. Cố viết: Hoặc lao tâm, hoặc lao lực. Lao tâm giả trị nhân; lao lực giả trị ư nhân. Trị ư nhân giả tự nhân; trị nhân giả tự ư nhân. Thiên hạ chi thông nghĩa dã.”

Dịch nghĩa:

“Vậy thì cai trị thiên hạ, một mình lại có thể cày cấy được ư? Có việc của bậc đại nhân, có việc của kẻ tiểu nhân. Vả lại, thân xác một con người phải cần đầy đủ chức năng của các ngành công nghệ; nếu như tự mình làm lấy mà dùng sẽ khiến cho thiên hạ sống ngoài đường (chạy ngược chạy xuôi) vậy. Cho nên mới nói: Có người lao nhọc tâm trí, có kẻ lao nhọc sức lực. Người lao tâm thì cai trị người khác; kẻ lao lực thì được người khác cai trị. Kẻ được người cai trị thì nuôi người; kẻ cai trị người thì được người nuôi.” Đó là nghĩa lý phổ thông trong thiên hạ vậy.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026