
Một sáng nọ, cảnh sát vùng Wilkes Barre, Pennsylvania nhận được thông tin về cuộc tấn công xảy ra tại nhà riêng của một nha sĩ ở địa chỉ số 75 phố Birch. Hai sĩ quan Dale Minnick và Anthony George lập tức lên đường đến hiện trường vụ việc.
Đến nơi, họ tìm thấy Tiến sĩ Edward Glenn Wolsieffer, 33 tuổi, đang nằm trên sàn nhà. Nạn nhân không gặp nguy hiểm đến tính mạng và đã tỉnh lại. Wolsieffer khai rằng có người đã tấn công, bóp cổ và đánh anh bằng một vật cùn. Anh trai của Glenn Wolsieffer là Neil Wolsieffer lúc đó cũng có mặt, Neil sống ở con phố đối diện và đã vội vã chạy sang sau khi nhận được điện thoại của em trai. Neil cũng là người đã báo cảnh sát.
Khi được hỏi vì sao không gọi cho cảnh sát ngay lập tức, Wolsieffer giải thích rằng mình quá choáng váng và chỉ nhớ được số điện thoại của anh ruột. Anh ta cho biết vợ và con gái 5 tuổi của mình vẫn đang ở trên lầu nhưng không rõ an nguy ra sao.
Neil nói mỗi lần anh định lên kiểm tra tình hình của hai người còn lại trong nhà, Wolsieffer luôn rên rỉ và dường như sắp ngất đi vì đau đớn nên tới giờ họ vẫn chưa lên đến lầu hai. Wolsieffer thanh minh rằng mình lo sợ kẻ tấn công vẫn quanh quẩn trong nhà nên không dám tự ý hành động.
Minnick và George vội vã kiểm tra tình hình của hai nạn nhân còn lại. Hai sĩ quan không tìm thấy dấu vết của kẻ đột nhập dù đã khám xét cẩn thận, nhưng điều không may đó là vợ của Wolsieffer được tìm thấy trong trạng thái tử vong tại phòng ngủ. Nạn nhân nằm nghiêng trên sàn, gần giường ngủ, đầu hướng vào chân giường. Phần cổ của cô có vết bầm tím, sắc mặt tái xanh, khóe miệng dính nước miếng. Đây là tử trạng của người bị bóp cổ bằng tay, cảnh sát suy đoán vợ của Wolsieffer là Betty đã bị siết cổ đến chết.
Ngoài ra, cảnh sát còn tìm thấy vết máu trên ga trải giường. Mặt nạn nhân cũng dính máu nhưng đã được lau sạch, đồ ngủ của Betty bị cởi đến thắt lưng. Bác sĩ pháp y có kinh nghiệm cho biết nạn nhân không bị tấn công tình dục.
Daniel, con gái 5 tuổi của Wolsieffer, vẫn đang ngủ ở phòng bên cạnh. Cô bé không hề hấn gì, sau khi tỉnh dậy, em nói với cảnh sát rằng mình không nghe thấy bất cứ tiếng động lạ nào.
Sau khi xem xét tình hình ở lầu hai, Minnick và George di chuyển xuống lầu một. Thay vì miêu tả lại những gì đã trông thấy, họ hỏi Wolsieffer chuyện gì đã xảy ra. Vị nha sĩ kể lại, sáng sớm ngày hôm đó, anh ta bị đánh thức bởi những tiếng động lạ. Rất nhanh, anh bèn lôi một khẩu súng lục từ trong tủ đầu giường ra và xuống lầu kiểm tra một mình, để lại người vợ Betty đang ngủ.
Bước đến cửa phòng ngủ, Wolsieffer nhìn thấy bóng một người đàn ông cao to dưới chân cầu thang, kẻ kia không phát giác ra anh. Đang lúc định bám theo kẻ gian xuống nhà thì Wolsieffer bỗng mất dấu và bị tấn công từ phía sau một cách vô cùng bất ngờ. Kẻ tấn công siết cổ anh bằng một sợi dây, Wolsieffer đá chân về phía sau để đánh trả và đụng trúng vào phần bụng của người kia. Cú đá khiến kẻ gian mất thăng bằng và thả lỏng lực tay, tuy nhiên Wolsieffer chưa kịp quay lại thì đã bị đánh mạnh vào đầu và bất tỉnh. Sau khi lấy lại được ý thức, Wolsieffer nhanh chóng gọi cho anh trai là Neil.
Sau đó, nhân viên y tế khẩn trương khám và xử lý vết thương cho vị nha sĩ. Các vết thương của Wolsieffer không nghiêm trọng, sau đầu có vết bầm, vài vết đỏ ở sau cổ và dấu cào cấu trên ngực trái. Để chắc chắn, cảnh sát vẫn đưa anh đến bệnh viện để kiểm tra tổng thể. Bác sĩ cũng nói rằng nạn nhân không gặp vấn đề nguy hiểm nhưng Wolsieffer yêu cầu được ở lại bệnh viện để theo dõi thêm.
Trên thực tế, lời khai của Wolsieffer rất đáng nghi. Anh ta nói rằng kẻ gian đột nhập vào từ cửa sổ lầu hai ở thời điểm rạng sáng, điều này không hợp lý. Cảnh sát tìm thấy một chiếc thang dẫn đến cửa sổ phòng ngủ trên lầu hai ở ngoài nhà, tuy nhiên chiếc thang này đã mục nát đến nỗi người nhẹ cân cũng không thể sử dụng được, huống chi là một người đàn ông cao to, lực lưỡng như mô tả.
Mặt đất ở vị trí đặt thang rất mềm nhưng không hề có vết lõm do trọng lượng của người đứng trên thang tạo thành, ngoài ra cũng không có dấu vết ở điểm tiếp xúc giữa thang và máng xối trên mái nhà.
Thêm vào đó, tình trạng phòng ngủ cũng không khớp với lời kể của Wolsieffer. Đồ vật có giá trị vẫn còn nguyên, kể cả những món trang sức đắt tiền ngay trên mặt bàn. Nếu hung thủ có ý định giết người, tại sao không dùng súng để xử lý Wolsieffer khi anh ta hôn mê mà lại quay trở lại lầu hai để giết một người phụ nữ không có vũ khí?
Đồng thời, có hai điểm đáng nghi khiến cảnh sát chú ý. Đầu tiên, nếu Wolsieffer bị hành hung tới mức ngất xỉu, tại sao trên cổ lại không xuất hiện dấu vết vật lộn? Thứ hai, tại sao Wolsieffer và anh trai không lên lầu để kiểm tra tình hình của Betty và Daniel?
Theo thời gian, lời khai của Wolsieffer liên tục thay đổi, chi tiết thêm thắt ngày một nhiều, mô tả về hung thủ cũng rõ ràng hơn. Anh ta chia sẻ, đối tượng tấn công mặc áo len dài tay không cổ màu đen, bịt mặt và có ria mép.
Ở một số chi tiết, lời kể của Wolsieffer không nhất quán. Lúc thì anh ta cho biết mình không đánh thức vợ và xuống cầu thang một mình sau khi nghe thấy tiếng động, lúc lại nói rằng có nói chuyện với vợ khi nghe thấy âm thanh lạ. Ban đầu, Wolsieffer khai báo bị mất 1.300 đô la Mỹ để trong ngăn kéo bàn làm việc nhưng khi cảnh sát tìm thấy hóa đơn của số tiền, anh ta lại đổi lời khai. Khi nhân viên điều tra nhận được cuộc gọi báo án, Wolsieffer có vẻ vừa tỉnh lại, chưa thể nói chuyện bình thường nhưng khi đến bệnh viện, anh ta lại khẳng định mình đã nghe thấy cảnh sát gọi cho bác sĩ pháp y.
Càng điều tra sâu, Edward Glenn Wolsieffer càng bổ sung nhiều tình tiết và nói rằng có hai kẻ tấn công. Cảnh sát phát hiện ra Wolsieffer đã ngoại tình với trợ lý ở phòng khám nha khoa nhưng khi được hỏi về vấn đề này, anh ta gạt đi và báo rằng mối quan hệ đã kết thúc từ một năm trước.
Một số người bạn của Betty cho hay, nạn nhân hết mực yêu thương chồng nhưng vô cùng buồn phiền và mệt mỏi với hành vi ngoại tình của Wolsieffer, đặc biệt là những lúc người chồng la cà bên ngoài tới khuya mới trở về. Vài ngày trước khi vụ việc xảy ra, Betty tuyên bố với bạn bè rằng nếu Wolsieffer tiếp tục trở về nhà muộn, cô sẽ tỏ rõ thái độ và đòi ly hôn.
Sau này, Wolsieffer nghe theo lời khuyên của luật sư và dừng hợp tác với cảnh sát. Vì vậy, lực lượng chức năng chỉ có thể tập trung khai thác từ phía anh trai của Wolsieffer là Neil. Tuy nhiên, câu chuyện mà Neil kể lại cũng không thỏa đáng, ngoài ra đối tượng cũng không đồng ý tham gia bài kiểm tra nói dối vì cho rằng máy phát hiện nói dối không chính xác, kết quả không tốt có thể ảnh hưởng đến danh tiếng cá nhân.
Thế nhưng, trước những yêu cầu bức bách từ phía cảnh sát và gia đình Betty, cuối cùng Neil cũng đồng ý thực hiện thẩm vấn với máy phát hiện nói dối ở tòa án.
Ngày lấy cung, cảnh sát hay tin chiếc xe của Neil đã xảy ra va chạm với một xe tải cỡ lớn khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Kết quả điều tra cho thấy Neil đã vòng xe quá tay rồi vội vàng phanh gấp nên mới dẫn đến sự cố.
Sự kiện bất lợi này khiến vụ án giết người của Betty giậm chân tại chỗ. Cảnh sát sở tại có nhiều lý do để tin rằng Edward Glenn Wolsieffer chính là thủ phạm nhưng không thể buộc tội đối tượng do thiếu bằng chứng. Vân tay và tóc của nghi phạm được tìm thấy hiện trường nhưng vì đó cũng là phòng ngủ của Wolsieffer nên chứng cứ bị vô hiệu hóa. Hung khí gây án có thể đã bị xử lý trước khi nghi phạm gọi điện cho Neil.
Vì vậy, cảnh sát tìm đến chuyên gia tâm lý tội phạm của FBI John Douglas để xin ý kiến.
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án, Douglas kết luận kẻ giết người rất thân thuộc với nạn nhân. Vì cảnh sát đã xác định được nghi phạm chính, ông không lập hồ sơ tâm lý của đối tượng mà chỉ cung cấp một số kiến giải để giúp lực lượng chức năng bắt kẻ thủ ác phải quy hàng trước pháp luật.
Khả năng đây là một vụ đột nhập để ăn trộm tài sản không cao. Nhà của Wolsieffer là một tư dinh, trong sân còn đậu hai chiếc ô tô. Đây không phải là môi trường lý tưởng để phạm tội, ngược lại có độ rủi ro cao. Thêm vào đó, Douglas là người có kinh nghiệm phá án dày dạn, ông cho biết việc kẻ đột nhập đi vào nhà từ cửa sổ lầu hai, sau đó lập tức xuống lầu một mà không lục soát ở lầu hai trước là vô cùng phi lý.
Không có bằng chứng nào cho thấy kẻ tấn công mang theo hung khí giết người nên trường hợp này không phải là sát hại có kế hoạch. Ngoài ra, Betty không bị tấn công tình dục nên lập luận giết người do cưỡng hiếp thất bại cũng không hợp lý. Không có bằng chứng cho thấy kẻ hành hung có âm mưu ăn trộm tài sản nên cũng không thể kết luận rằng đây là án trộm.
Xét từ cách thức gây án, bóp cổ là một hình thức phạm tội điển hình ở mức tiếp cận gần. Vì vậy, nếu hung thủ và nạn nhân là hai người xa lạ thì thủ phạm thường không chọn cách này. Thêm vào đó, nếu kẻ tấn công đã lập sẵn kế hoạch giết người cướp của chi tiết thì sẽ có cách hạ thủ khác.
Sau cùng, nhờ những phân tích quyết đoán của Douglas, cảnh sát đã nỗ lực không ngừng để bắt giữ và truy tố Edward Glenn Wolsieffer vì tội mưu sát chính người vợ của mình.
CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA TÂM LÝ TỘI PHẠM
Kỹ thuật phác họa chân dung kẻ phạm tội được đúc kết và cải tiến dựa trên nền tảng dữ liệu của công việc điều tra tội phạm. Có thể nói, công nghệ lập hồ sơ tâm lý tội phạm rất khoa học và khách quan.
Đầu tiên, kỹ thuật này dựa trên các lý thuyết tâm lý. Lý luận về tâm lý tội phạm là nền tảng của phác họa chân dung tội phạm. Nhìn từ quá trình tư duy, phân tích tâm lý tội phạm chủ yếu liên quan đến hành vi phạm tội, tiếp đó là môi trường sống của tội phạm, từ đó xác định được nghi phạm. Trình tự lần lượt là: Hiện trường vụ án – hành vi phạm tội - tâm lý kẻ phạm tội - môi trường sinh sống của kẻ phạm tội - đối tượng gây án.
Thứ hai, lập hồ sơ tội phạm là kết tinh từ các thành tựu khoa học hiện đại. Mặc dù cốt lõi của kỹ thuật này là tâm lý học tội phạm nhưng trên thực tế, quá trình xây dựng hồ sơ tội phạm liên quan đến nhiều môn khoa học khác nhau như sinh lý học, xã hội học, thần kinh học,... Ví dụ, khi phân tích các tội phạm tâm thần thì không thể tách rời sinh lý học và thần kinh học.
Cuối cùng, phác họa chân dung tâm lý tội phạm là sự thăng hoa của tâm lý học tội phạm. Tâm lý học tội phạm được kết hợp từ tội phạm học và tâm lý học, vì vậy nếu muốn phát triển tâm lý học tội phạm thì trước tiên phải đi từ tâm lý học. Xem xét nguồn gốc của tâm lý học, nếu không có những nghiên cứu về sinh học, tâm thần học, nội tiết học, tâm lý học không thể tồn tại. Vì vậy, kỹ thuật lập hồ sơ tội phạm của bộ môn tâm lý học tội phạm hiện đại không chỉ tiếp thu những điểm sáng của trường phái sinh học cổ đại và tâm thần học hiện đại mà còn thúc đẩy sự sinh sôi của tâm lý học tội phạm. Từ đó có thể kết luận, lập hồ sơ tội phạm là bước tiến của tâm lý học tội phạm.