Tâm Lý Học Tội Phạm Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội

Lượt đọc: 848 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
tấm lòng người y sĩ

Buổi sáng ngày 24 tháng 6 năm 1998, bà Grundy sống tại thị trấn Hyde, vùng Manchester, nước Anh đã không đến dự buổi họp cộng đồng do địa phương tổ chức. Điều này làm những người quen biết bà Grundy thấy lạ bởi ngày thường là rất nhiệt tình và tích cực trong các hoạt động chung. Để chắc chắn, hai người bạn đã đến tận nhà thăm hỏi.

Khi tới nơi, họ thấy bà Grundy đang nằm trên ghế sô pha, tựa như đang ngủ. Nhưng khi đến gần hơn, họ nhận thấy mặt bà Grundy tái mét, cơ thể lạnh ngắt, không còn bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống. Bạn bè thân thiết vô cùng bất ngờ trước sự ra đi đột ngột của bà lão, tuy đã bước sang tuổi 81 nhưng Kathleen Grundy vẫn rất khỏe mạnh, không bệnh tật gì và vừa trở về sau chuyến du lịch cách đây hai tuần. Thậm chí, bà thường tự mình lái xe đi dạo mỗi khi rảnh rỗi.

Tuy khó lý giải nhưng không ai đặt nhiều câu hỏi về cái chết của bà Grundy. Vào ngày bà lão qua đời, công ty luật của thị trấn cũng nhận được di chúc của Kathleen Grundy nhưng chính họ cũng không hiểu vì sao. Người chết chưa từng liên hệ với công ty này trước đó và họ cũng không biết phải xử lý tình huống này ra sao. Nội dung bản di chúc cho biết bà Grundy để lại tài sản gồm 800.000 bảng Anh cho bác sĩ của mình là Harold Shipman.

Harold Shipman là bác sĩ nổi tiếng nhất thị trấn Hyde, ông là bố của bốn đứa trẻ. Tên tuổi của vị bác sĩ này gắn liền với những lời khen có cánh mà các bệnh nhân dành cho ông về sự tử tế và dịch vụ tuyệt vời. Nhiều người dân vùng Hyde đều chọn bác sĩ Harold Shipman làm địa chỉ chọn mặt gửi vàng mỗi khi cần khám bệnh.

Dù vậy, luật sư phụ trách di chúc của bà Grundy vẫn cảm thấy có điều không ổn, bản di chúc chỉ mới được lập ra vài tuần trước khi người quá cố qua đời và người chứng thực thì rất mơ hồ. Vì vậy, luật sư bên liên lạc với Angela, con gái bà Grundy và thuật lại tình hình sự việc. Trùng hợp thay, Angela cũng là luật sư, cô được biết mẹ mình đã lập một bản di chúc cách đây hai năm và gửi đến một công ty luật khác. Sau khi xem xét bản di chúc mới nhất, cô phát hiện phần chữ ký khá kỳ lạ, không giống với chữ ký thường dùng của mẹ mình. Ngờ rằng bản di chúc là giả, cô đã gọi cảnh sát.

Việc đầu tiên cảnh sát thực hiện sau khi nhận án là tìm hiểu về cái chết của bà Grundy. Lực lượng chức năng đã mở quan tài và khám nghiệm tử thi, đồng thời xin lệnh khám xét và lục soát phòng khám của Shipman. Tại đây, họ tìm thấy một máy đánh chữ, chữ viết trên máy trùng khớp với nét chữ của bản di chúc. Cảnh sát cũng trích xuất vân tay của Shipman và xác nhận trên bản di chúc của bà Grundy có dấu tay của vị bác sĩ này.

Chẳng bao lâu sau, kết quả pháp y cho biết nguyên nhân tử vong của bà Grundy không phải là tự nhiên, trong cơ thể người đã mất có một lượng lớn morphine 26 , đủ để giết người. Ngay lập tức, Harold Shipman bị bắt giữ, vị bác sĩ liên tục phản kháng và khẳng định mình vô tội, buộc tội bà Grundy lạm dụng chất gây nghiện.

Sau khi vụ án được biết đến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, cảnh sát nhận được nhiều cuộc gọi nặc danh, nội dung các cuộc gọi cho biết rất nhiều phụ nữ lớn tuổi đã qua đời sau khi khám bệnh tại phòng khám của Shipman. Chính vì vậy mà vị bác sĩ này còn có tên gọi khác là “Bác sĩ tử thần”. Cảnh sát chú ý tới thông tin này và tin rằng đây không chỉ là một vụ án mạng đơn thuần mà thực chất là giết người liên hoàn.

Thêm vào đó, một số người dân ở thị trấn Hyde gọi cho cảnh sát và trình báo về cái chết kỳ lạ của mẹ mình. Dựa theo những thông tin này, lực lượng chức năng lần lượt tìm đến từng gia đình và khám nghiệm tử thi, kết quả cho thấy trên người các nạn nhân đều có dấu vết của morphine. Liều lượng morphine trong cơ thể mỗi người vượt xa nồng độ cho phép để an tử 27 , đây hoàn toàn là những vụ giết người có chủ ý và kẻ sát nhân không phải ai khác, chính là Harold Shipman.

Ngày 5 tháng 10 năm 1999, cảnh sát Manchester, Anh đã đệ đơn truy tố Harold Shipman dựa trên những bằng chứng đã được thu thập. Ngày 31 tháng 1 năm 2000, tòa án tuyên bố Harold Shipman bị kết án chung thân với tội danh giết người và sẽ bị bỏ tù vĩnh viễn.

Kẻ thủ ác đã phải trả giá, nhưng vẫn còn rất nhiều đơn tố cáo từ các gia đình bệnh nhân không được ngó ngàng tới. Thân nhân của những người bị hại quyết tâm đeo đuổi vụ việc đến cùng, trước tình hình đó, chính phủ đã thành lập Tổ trọng án để tăng cường điều tra.

Ngày 19 tháng 7 năm 2002, giai đoạn đầu của cuộc điều tra được công bố. Hóa ra, số nạn nhân của Shipman không chỉ dừng lại ở con số 15 vụ án như tòa kết tội. Trên thực tế, số người tử mạng dưới tay vị “Bác sĩ tử thần” này ước tính lên tới hơn 200 nạn nhân. Trong đó, người lớn tuổi nhất là một phụ nữ 92 tuổi và người trẻ nhất là một người đàn ông 41 tuổi.

Harold Shipman lần đầu giết người vào tháng 3 năm 1975. Thủ pháp ra tay đặc trưng của hung thủ là tiêm morphine vào cơ thể người bệnh rồi thay đổi bệnh án trong máy tính để người khác không nghi ngờ về cái chết của bệnh nhân. Là một bác sĩ, Shipman dễ dàng tiếp cận được với lượng lớn morphine y tế.

Theo thống kê của cảnh sát, Harold Shipman đã giết chết ít nhất một bệnh nhân mỗi tháng trong suốt hai mươi năm, tỷ lệ tử vong của bệnh nhân điều trị tại phòng khám của hắn lên tới 20%, quả đúng là “Bác sĩ tử thần” danh xứng với thực. Nhiều người trong số các nạn nhân của Shipman là hàng xóm, người quen và có sáu bệnh nhân sống ngay cạnh nhà hắn.

Ngày 13 tháng 1 năm 2003, Harold Shipman treo cổ tự vẫn trong tù, kết thúc một cuộc đời đầy tội lỗi. Sau khi kẻ sát nhân qua đời, nhiều chuyên gia tâm lý đã tiến hành nghiên cứu và phân tích cách gây án cũng như những bí ẩn phía sau tư duy của vị bác sĩ điên cuồng này. Tại sao Shipman lại sử dụng morphine để giết người? Tại sao phần lớn nạn nhân của hắn đều là phụ nữ có tuổi? Các nhà tâm lý học cho rằng, tất cả đều có liên quan mật thiết đến mẹ ruột của Shipman.

Khi Shipman 17 tuổi, người mẹ 43 tuổi của hắn mắc bệnh nan у và phải nhờ đến morphine để giảm đau. Harold Shipman luôn cảm thấy khó chịu, bứt rứt khi phải chứng kiến cảnh mẹ ruột bị bệnh tật hành hạ mỗi ngày. Mối quan hệ của hai mẹ con nhà Shipman rất hòa thuận, người mẹ hết mực quan tâm và thường đưa Shipman tới trường, giúp đỡ việc học và đặt nhiều kỳ vọng vào cậu con trai. Sau khi mẹ đổ bệnh, thành tích của Shipman tại trường cũng sa sút dần.

Không ai ở trường biết về hoàn cảnh gia đình của Shipman, cậu luôn giữ vẻ xa cách và lạnh lùng với bạn bè cùng lớp. Mặc dù không gây hấn với ai và vẫn được mọi người yêu quý nhưng Shipman không có nhiều mối quan hệ thân thiết. Chỉ khi chơi bóng bầu dục, cậu bé mới thể hiện một sức sống khác thường, tấn công và quật ngã đối thủ không nhân nhượng.

Năm 1963, mẹ của Shipman qua đời. Cái chết của người thân đã trở thành cú sốc lớn đối với chàng thanh niên 17 tuổi. Ngày hôm sau, Shipman đến trường và thông báo cho người khác về sự ra đi của mẹ ruột bằng một thái độ bình tĩnh, thờ ơ. Chuyên gia tâm lý tội phạm cho rằng, hành vi này là thói quen của người có tâm lý muốn che giấu đời tư, chỉ cho người khác xem những gì họ muốn người đó thấy chứ không tiết lộ cảm nhận thực tế.

Cái chết của người mẹ đã khơi gợi hứng thú nghiên cứu y khoa của Shipman. Nhưng đó không phải là tất cả, cũng từ đây, hắn nảy sinh lòng thù hận với những người có mẹ ruột ở độ tuổi tương tự nhưng vẫn sống khỏe mạnh, tươi vui và nung nấu ý định dùng morphine để giết người.

Năm 1974, Harold Shipman là một bác sĩ thực tập trẻ tuổi, chăm chỉ và luôn làm việc hết mình. Tay nghề cao cùng với sự thân thiện đã giúp Shipman chiếm trọn tình cảm của nhiều người bệnh. Giống như các bác sĩ khác, bệnh nhân của Shipman cũng có những ca tử vong, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi hoặc người mắc bệnh mãn tính. Tuy nhiên, trường hợp tử vong là điều quá đỗi quen thuộc ở bệnh viện nên mọi người không mấy bận tâm. Thêm vào đó, Shipman luôn tỏ ra cố gắng hơn sau mỗi lần có một bệnh nhân qua đời.

Trong thời gian này, đồng nghiệp phát hiện Shipman lên cơn động kinh và ngất xỉu. Bất chấp cơ thể bệnh tật, hắn vẫn lao vào làm việc quên hết giờ giấc. Mãi cho đến khi một người cùng chỗ làm tìm thấy đơn thuốc do Shipman làm giả và tự kê cho mình nhiều loại thuốc giảm đau thì màn kịch động kinh mới lộ rõ chân tướng. Shipman khai rằng mình không bị bệnh mà đã vô tình nghiện thuốc giảm đau, hắn cầu xin đồng nghiệp không báo cáo vụ việc với chính quyền, tuyên bố sẽ từ chức để tự cai nghiện. Sau ba tháng điều trị và nộp phạt, Shipman thoát được án tù, báo cáo y tế cho thấy hắn đã thành công cai nghiện ma túy và được chấp thuận tiếp tục hành nghề y.

Sau khi trở thành bác sĩ, Harold Shipman lập gia đình và có một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng không có điều gì có thể loại bỏ được tâm lý muốn trả thù của kẻ giết người. Hắn bắt đầu bất chấp đạo đức người y sĩ và lợi dụng bệnh nhân để thỏa mãn dục vọng giết chóc của mình.

Năm 1977, Shipman trở thành bác sĩ tại một bệnh viện ở thị trấn Hyde. Tiếng lành đồn xa, người dân của thị trấn nhanh chóng đặt niềm tin và hết mực yêu quý vị bác sĩ mới này. Shipman luôn sẵn sàng kiên nhẫn lắng nghe những lời tâm sự của bệnh nhân và thường xuyên tới tận nhà người bệnh để thăm hỏi tình hình sức khỏe. Nhờ vào cái cớ này, “Bác sĩ tử thần” sẽ đến thăm những góa phụ già sống một mình, tiêm morphine cho họ rồi chứng kiến người bệnh chìm vào cái chết êm ru như đang ngủ.

Phân tích tâm lý cho thấy, hành vi giết người của Shipman mang đậm dấu ấn từ những ký ức đau buồn về cái chết của mẹ ruột. Khi Shipman nhìn người bệnh chết đi, hắn hồi tưởng lại khoảnh khắc mẹ mình ra đi. Đồng thời, cảm giác nắm quyền sinh tử cũng khiến hắn thỏa mãn dã tâm thao túng người khác.

Sau mỗi vụ giết người, Shipman luôn dọn dẹp sạch sẽ “cái đuôi” của mình. Hắn sẽ quay lại nơi ở của nạn nhân kiểm tra xem họ có được đưa đến bệnh viện để khám nghiệm tử thi hay không. Nếu người nhà bệnh nhân yêu cầu khám nghiệm, Shipman sẽ đưa ra hồ sơ khám bệnh đã được làm giả trước đó để đẩy trách nhiệm sang cho người bệnh.

Năm 1991, Harold Shipman đột ngột từ chức tại bệnh viện đang công tác và mở phòng khám riêng. Nhiều bệnh nhân đã đi theo và giúp hắn tạo dựng uy tín cá nhân, tăng cơ hội thực hiện tội ác. Trong thời gian này, Shipman đã lợi dụng chức vụ để liên tục giết hại người bệnh và chỉ kết thúc khi cái chết của bà Grundy bị phơi bày, tức năm 1998.

Một số nhà tâm lý học tội phạm coi Harold Shipman là người rối loạn nhân cách điển hình. Hắn giết hại bệnh nhân một cách tàn nhẫn và đổ trách nhiệm lên người bệnh. Tước đi sinh mạng của người khác khiến Shipman phấn khích, đây là đặc trưng tính cách của kẻ sát nhân hàng loạt. Những người mắc bệnh rối loạn nhân cách chống đối xã hội sẽ không tuân theo những chuẩn mực đã được đề ra, họ dễ nổi nóng, hung hăng và không biết ăn năn. Để đạt được mục đích, những người này sẽ dùng mọi cách từ bạo lực, uy hiếp đến quyến rũ người khác để đạt được mục tiêu.

Với Shipman, hắn dùng sự uy tín cá nhân để thao túng người bệnh bằng sự quan tâm, xây dựng hình ảnh một vị bác sĩ gần gũi thân thiện. Sau khi chiếm được lòng tin của những người dân vùng Hyde, “Bác sĩ tử thần” đã tác oai tác quái trong hơn hai thập kỷ và cướp đi mạng sống của hàng trăm người.

CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA TÂM LÝ TỘI PHẠM

Nhiều sát thủ liên hoàn sẽ lên kế hoạch và trù tính mọi thứ trước khi bước vào “trò chơi giết người”. Cảm giác được nắm quyền sinh sát và đặt ra quy luật cho mọi thứ khiến những kẻ giết người cảm thấy mình chính là Chúa Trời. Để trốn tránh pháp luật, tội phạm sẽ dùng nhiều biện pháp tinh vi để đánh vào tâm lý quần chúng.

Tuy nhiên, nhiều kẻ giết người sẽ mất dần khả năng khống chế tâm lý khi bắt đầu thực hiện những quy tắc do chính mình đề ra, đây là lúc sơ hở xuất hiện. Sự bất cẩn của kẻ phạm tội sẽ để lại nhiều bằng chứng tại hiện trường, giúp cảnh sát có manh mối để truy tìm kẻ thủ ác.

« Lùi
Tiến »