
Thứ Năm, mồng 4 tháng Mười Một
Gương đem lại điềm xấu, Abraham Setrakian nghĩ trong khi đứng dưới cái đèn treo tường huỳnh quang màu xanh lá nhạt, nhìn chằm chằm vào chiếc gương trong nhà tắm. Một ông già nhìn vào tấm gương có tuổi đời còn cao hơn cả mình. Mép gương đã đen lại qua thời gian, sự mục nát đang chực lan dần vào giữa. Vào hình ảnh phản chiếu của ông. Vào chính ông.
Ông sắp chết rồi.
Tấm gương tráng bạc cho ông thấy rõ điều đó. Ông đã nhiều lần tiến gần tới cái chết, hay còn tệ hơn nữa; nhưng lần này lại khác. Từ hình ảnh phản chiếu của mình, ông thấy một điều không thể tránh khỏi. Nhưng bằng cách nào đó, Setrakian vẫn tìm thấy niềm an ủi trong tính chân thật của những tấm gương cũ. Chúng trung thực và thuần túy. Tấm gương này vô cùng tráng lệ, đã tồn tại qua hai thế kỷ, khá nặng và đang được treo thẳng trên bức tường lát gạch cũ bằng đoạn dây sắt ngắn. Còn có khoảng tám mươi tấm gương tráng bạc khác bày khắp các ngóc ngách nhà ông, tấm treo trên tường, tấm dựng trên nền nhà, tấm lại dựa vào các giá sách. Ông buộc phải sưu tập chúng. Giống như những ai đã từng đi trên sa mạc sẽ hiểu được giá trị của nước, Setrakian cảm thấy không thể làm ngơ trước cơ hội được sở hữu một tấm gương tráng bạc - đặc biệt là một cái gương nhỏ, có thể mang theo người.
Nhưng trên hết, ông tin vào đặc tính cổ xưa nhất của chúng.
Trái với những gì mọi người đồn thổi, chắc chắn ma cà rồng có hình ảnh phản chiếu. Trong những tấm gương hiện đại được sản xuất hàng loạt, hình phản chiếu của ma cà rồng không khác gì hình ảnh ta tận mắt thấy. Nhưng trong gương tráng bạc, hình ảnh phản chiếu của chúng sẽ bị biến dạng. Một số đặc tính vật lý của bạc bóp méo hình ảnh những sinh vật tàn bạo nhiễm virus này - y như một lời cảnh báo. Cũng giống như tấm gương trong truyện Bạch Tuyết, gương tráng bạc không thể nói dối.
Bởi vậy, Setrakian nhìn vào khuôn mặt mình trong gương - nằm giữa bồn rửa tráng men dày và kệ đựng thuốc bột, thuốc mỡ, kem trị chứng viêm khớp, dầu nóng xoa bóp để làm dịu cơn đau nhức ở các đầu khớp - và chăm chú xem xét.
Lúc này, ông ý thức rõ sức mình đang tàn dần. Nhận ra cơ thể mình chỉ là thế mà thôi: một cơ thể. Già cỗi và đang yếu dần. Đang mục ruỗng. Đến độ ông còn không chắc liệu ông có sống sót qua những thương chấn hữu hình khi bị biến đổi hay không. Không phải nạn nhân nào cũng vượt qua được chuyện đó.
Mặt ông. Những đường nét in hằn như vân tay - thời gian vừa ấn mạnh ngón cái lên khuôn mặt ông. Ông đã già thêm hai mươi tuổi chỉ qua một đêm. Mắt ông trông vừa nhỏ vừa khô, vàng vọt như màu ngà voi. Vẻ tái nhợt đã biến mất, và tóc ông ép sát da đầu như những ngọn cỏ bạc bị cơn bão gần đây thổi rạp xuống.
Cộc-cộc-cộc...
Ông nghe thấy tiếng gọi của thần chết. Ông nghe thấy tiếng cây đinh ba. Tiếng tim ông.
Ông nhìn hai bàn tay khòng khoèo của mình, được khuôn đúc bằng sự quyết tâm tuyệt đối để tương hợp và để nắm lấy tay cầm cây gậy kiếm bằng bạc, nhưng dẫu trổ tài khéo léo đến đâu cũng gần như vô dụng với những việc khác.
Trận chiến với Chúa Tể đã làm tiêu hao rất nhiều sức lực của ông. Chúa Tể mạnh hơn nhiều so với những gì Setrakian từng nhớ hay phỏng đoán. Ông vẫn chưa kiểm chứng được các giả thuyết ông đặt ra khi thấy Chúa Tể vẫn sống sót dưới ánh nắng trực tiếp - ánh nắng khiến ông hao tổn sức lực và để lại dấu vết trên người ông, nhưng không hủy hoại ông. Các tia cực tím có khả năng đập tan virus đáng lẽ ra có thể cắt đứt người ông với sức mạnh của mười ngàn cây kiếm bạc - thế mà thứ sinh vật ghê tởm ấy vẫn chịu được và trốn thoát.
Xét cho cùng, cuộc sống có là gì đâu ngoài một chuỗi những chiến thắng nhỏ nhoi và các thất bại lớn hơn bội phần? Nhưng còn biết làm gì khác đây? Bỏ cuộc sao?
Setrakian không bao giờ bỏ cuộc.
Hiện giờ, ông chỉ có thể suy đoán. Giá mà ông đã làm thế này thay vì thế kia. Phải chi bằng cách nào đó, ông có thể cho nổ tung tòa nhà ngay khi biết Chúa Tể đang ở bên trong. Ước gì Eph cho phép ông vận hết công lực của mình thay vì giữ ông lại cho thời khắc quan trọng cuối cùng...
Tim ông lại đập thình thịch khi nghĩ đến những cơ hội đã bị bỏ lỡ. Loạn nhịp. Chao đảo. Như thể trong ông có một đứa trẻ đã mất kiên nhẫn, đang mong mỏi được chạy đi.
Cộc-cộc-cộc...
Một tiếng o o trầm trầm át tiếng tim đập.
Setrakian biết rõ điều đó: nó báo trước cho sự mất dần ý thức rồi tỉnh dậy trong phòng cấp cứu, giả như vẫn có phòng cấp cứu nào còn hoạt động...
Dùng một ngón tay cứng đơ, ông moi một viên thuốc trắng ra khỏi hộp. Nitroglycerin giúp phòng ngừa chứng đau thắt ngực bằng cách giãn các mạch máu dẫn máu tới tim, cho phép chúng giãn rộng ra, tăng diện tích cho máu và oxy lưu thông. Đây là thuốc đặt dưới lưỡi nên ông đưa viên thuốc xuống dưới cái lưỡi khô rang của mình và để nó tan ra.
Cảm giác râm ran, ngòn ngọt lập tức lan tỏa. Sau vài phút, tiếng o o trong trái tim ông lặng hẳn.
Viên thuốc nitro công dụng tức thời đã trấn an ông. Tất cả những suy đoán này, những buộc tội và tiếc thương này: nó là sự phung phí hoạt động của não.
Giờ ông ở đây. Manhattan, thành phố đang vỡ vụn từ bên trong dưới sự bảo vệ của ông, đang gọi ông.
Đã được vài tuần kể từ khi chiếc 777 hạ cánh ở sân bay JFK. Kể từ khi Chúa Tể tới và trận dịch bắt đầu bùng phát. Setrakian đã đoán trước được chuyện đó từ những bản tin đầu tiên, một cách chắc chắn y như ta có trực giác về cái chết của người thân khi điện thoại reo vào khung giờ lạ. Tin tức về chiếc máy bay chết đã thu hút sự chú ý của cả thành phố. Chỉ vài phút sau khi hạ cánh an toàn, chiếc máy bay bị ngắt điện hoàn toàn, nằm tối om trên đường lăn. Nhân viên Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống Bệnh dịch lên máy bay trong bộ đồ tránh phơi nhiễm và phát hiện toàn bộ hành khách cùng phi hành đoàn đều đã chết, trừ bốn "người sống sót". Những người sống sót này không hề khỏe mạnh, Chúa Tể khiến chứng bệnh của họ nghiêm trọng hơn. Giấu mình trong quan tài bên trong khoang chứa hàng của máy bay, Chúa Tể đã được đưa qua đại dương nhờ vào sự giàu có và sức ảnh hưởng của Eldritch Palmer: một người đàn ông hấp hối không chịu nằm chờ chết mà thay vào đó đã dùng quyền kiểm soát máy bay của con người để đổi lấy cơ hội nếm trải sự vĩnh hằng. Sau một ngày ủ bệnh, virus kích hoạt trong những hành khách đã chết, và họ vươn dậy từ trên những chiếc bàn trong nhà xác và mang bệnh dịch ma cà rồng vào trong những nẻo đường thành phố.
Setrakian biết quy mô của bệnh dịch, nhưng phần còn lại của thế giới chọn cách chối bỏ sự thật phũ phàng này. Sau thời điểm đó, một chiếc máy bay khác cũng bị tắt máy hoàn toàn ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay Heathrow ở Luân Đôn, nằm im lìm trên đường lăn dẫn vào cổng. Tại sân bay Orly, một chiếc máy bay của hãng hàng không Pháp cũng chết ngay khi hạ cánh. Tại sân bay quốc tế Narita ở Tokyo. Tại sân bay Franz Joseph Strauss ở Munich. Tại sân bay quốc tế Ben Gurion nổi tiếng an ninh ở Tel Aviv, lực lượng chống khủng bố xông lên chiếc máy bay tối om trên đường băng, để rồi phát hiện ra toàn bộ 126 hành khách đều đã chết hoặc không có phản ứng. Thế nhưng vẫn không có cảnh báo nào được đưa ra để lục soát các khoang chứa hàng hoặc tiêu hủy toàn bộ những máy bay gặp sự cố. Chuyện xảy ra quá nhanh, trong khi sự bóp méo thông tin và nỗi hoài nghi đã chi phối tất cả.
Và nó vẫn tiếp tục. Ở Madrid. Bắc Kinh. Warsaw. Moscow. Brasilia. Auckland. Oslo. Sofia. Stockholm. Reykjavik. Jakarta. New Delhi. Chắc chắn là ngày càng nhiều địa phận hoang tưởng và vùng chiến sự đã sáng suốt tiến hành cách ly các khu vực sân bay lân cận, nhưng... Setrakian không thể loại bỏ mối nghi ngờ rằng những vụ hạ cánh này không chỉ nhằm mục đích lây nhiễm virus mà còn là một chiến lược đánh lạc hướng. Chỉ thời gian mới có thể chứng minh ông có đúng hay không - mặc dù, trên thực tế, chỉ còn rất ít thời gian quý báu.
Đến nay, Strigoi nguyên thủy - thế hệ ma cà rồng đầu tiên, nạn nhân trên chuyến bay của hãng hàng không Regis, và Người Thân của họ - đã bắt đầu đợt sóng hoàn thiện thứ hai. Chúng đang trở nên quen thuộc với môi trường và cơ thể mới của mình hơn. Học cách thích nghi, cách sống sót - cách phát triển. Chúng tấn công khi đêm xuống, thời sự đã đưa tin về hoạt động "gây rối" ở những khu vực rộng lớn trong thành phố, và điều này có phần đúng - các vụ cướp bóc và phá phách đầy rẫy giữa ban ngày ban mặt - nhưng không ai chỉ ra được rằng hoạt động đó tăng vọt vào ban đêm.
Tình trạng cướp phá xảy ra trên khắp cả nước nên cơ sở hạ tầng của các quốc gia bắt đầu hư hại. Các tuyến đường vận chuyển thực phẩm bị cắt đứt, việc phân phối bị đình trệ. Ngày càng có thêm nhiều người vắng mặt, khiến nguồn nhân lực sẵn có chịu tổn thất nặng nề, tình trạng cúp điện và sụt áp xảy ra liên miên. Số lần phản ứng của cảnh sát và cứu hỏa giảm xuống, trong khi số vụ tiếm quyền và đốt phá tăng lên.
Lửa cháy ngập trời. Cướp bóc thắng thế.
Setrakian nhìn chằm chằm vào mặt mình, thầm ước có thể một lần nữa được nhìn thấy chàng thanh niên bên trong mình. Thậm chí có lẽ là cậu bé. Ông nghĩ về cậu nhóc Zachary Goodweather trong phòng ngủ dành cho khách ngay phía cuối hành lang. Và, bằng cách nào đó, ông già đang ở đoạn cuối cuộc đời ấy cảm thấy tiếc thay cho thằng bé - mới mười một tuổi đã phải giã từ tuổi thơ. Mất hết danh dự, bị đeo bám bởi thứ bất tử đang chiếm lĩnh cơ thể mẹ nó...
Setrakian bước ra ngoài tiến vào khu vực thay quần áo trong phòng ngủ, lần đường tới một cái ghế. Ông ngồi xuống, che một tay lên mặt, chờ đợi cảm giác mất phương hướng qua đi.
Biến cố lớn dẫn đến cảm giác cô lập, vốn lúc này đang cố bao trùm lấy ông. Ông tiếc thương người vợ đã qua đời từ lâu, Miriam. Những ký ức về khuôn mặt bà ồ ạt tràn ra khỏi tâm trí ông nhờ số ảnh ít ỏi trong đống đồ đạc của ông, những bức ảnh thường được ông lấy ra xem và có hiệu quả đóng băng hình ảnh của bà đúng lúc dẫu không bao giờ thực sự nắm bắt được sự tồn tại của bà. Bà là tình yêu của đời ông. Ông là người may mắn; đôi lúc ông thấy thật khó khăn khi nhớ tới điều này. Ông đã hẹn hò và kết hôn với một phụ nữ xinh đẹp. Ông đã thấy cái đẹp và ông cũng đã thấy cái xấu xa. Ông đã chứng kiến cái tốt đẹp nhất và cái tồi tệ nhất của thế kỷ trước. Giờ đây, ông đang thị phạm sự kết thúc.
Setrakian nghĩ về Kelly, vợ cũ của Ephraim, người ông từng gặp một lần hồi cô còn sống, và gặp lại lần nữa sau khi cô chết. Ông thấu hiểu nỗi đau của người đàn ông ấy. Ông thấu hiểu nỗi đau của thế giới này.
Bên ngoài, ông nghe tiếng một vụ đâm xe nữa. Tiếng súng xa xa, còi báo động vang liên hồi - xe hơi, nhà cửa - nhưng không ai có phản ứng gì. Tiếng la hét rạch trời đêm là những tiếng kêu cuối cùng của nhân loại. Bọn cướp phá không chỉ lấy hàng hóa và của cải - chúng còn cướp cả linh hồn người ta. Không chiếm tài sản - mà chiếm hữu con người.
Ông buông thõng tay, đặt lên một quyển catalog trên chiếc bàn nhỏ. Catalog của hãng đấu giá Sotheby. Buổi đấu giá lẽ ra sẽ được tổ chức trong vài ngày nữa. Đây không phải sự trùng hợp. Không có gì là trùng hợp: kể cả sự che giấu gần đây, kể cả những mâu thuẫn hải ngoại, hay cuộc suy thoái kinh tế. Chúng ta ngã rạp xuống như những quân bài domino xếp liền nhau.
Ông nâng cuốn catalog đấu giá lên và tìm đến một trang. Ở đó, không có bất kỳ minh họa nào, là bản miêu tả một cuốn sách cổ:
[1]
Cuốn sách này - không phải bản sao chép, không phải hình chụp - có giá trị cốt yếu để thấu hiểu kẻ thù, lũ Strigoi. Và đánh bại chúng.
Cuốn sách dựa trên bộ sưu tập những phiến đất sét cổ thời văn minh Lưỡng Hà ban đầu được phát hiện trong những cái vại đặt trong một hang động ở dãy núi Zagros vào năm 1508. Được viết bằng tiếng Sumer và vô cùng dễ vỡ, các phiến đá được bán cho một nhà buôn lụa giàu có, và ông ta đã đem chúng theo khắp châu Âu. Nhà buôn này được phát hiện thấy bị bóp cổ chết ở nhà riêng tại Florence, các nhà kho của ông đều bị đốt cháy. Tuy nhiên, các phiến đá vẫn còn, về sau thuộc quyền sở hữu của hai thầy đồng, ngài John Dee nổi tiếng và trợ tá ít tiếng tăm hơn được lịch sử ghi danh với tên gọi John Silence. Dee là cố vấn của Nữ hoàng Elizabeth I, và do không giải mã được các phiến đá nên đã giữ chúng như một món đồ tạo tác mang phép màu cho tới năm 1608, sau khi trở nên túng quẫn, thì bán chúng - thông qua cô con gái Katherine - cho giáo sĩ uyên bác Avigdor Levy ở khu người Do Thái cũ tại Lorraine, Pháp. Suốt mấy thập kỷ, vị giáo sĩ đã tận dụng những khả năng lạ thường của mình để tỉ mẩn giải nghĩa các phiến đá - gần ba thế kỷ trước khi những người khác rốt cuộc cũng có thể giải mã những phiến đá tương tự - và cuối cùng đã tặng những phát hiện của mình dưới dạng bản thảo viết tay cho vua Louis XIV.
Khi nhận được bản thảo, nhà vua đã ra lệnh bắt giam vị giáo sĩ già và phá hủy các phiến đá, cùng toàn bộ văn kiện và những món đồ thờ của ông. Các phiến đá bị đập nát, bản dịch viết tay dần phai màu trong một căn hầm bên cạnh rất nhiều vật cấm quý giá khác. Madame de Montespan, người tình của nhà vua đồng thời là một người đam mê tìm hiểu huyền thuật, đã cho phục hồi bản dịch vào năm 1671. Nó vẫn nằm trong tay La Voisin, bà đỡ kiêm phù thủy và là bạn tâm giao của Montespan, cho tới khi bà ta bị lưu đày do dính líu tới Vụ Án Thuốc Độc chấn động thời đó.
Sau đó, cuốn sách tái xuất chớp nhoáng vào năm 1823, có vẻ thuộc quyền sở hữu của học giả đồng thời là kẻ trụy lạc khét tiếng Luân Đôn, William Beckford. Nó được liệt kê trong danh mục sách tại thư viện của Tu viện Fonthill, tòa lâu đài xa hoa của Beckford, nơi ông ta tích trữ đủ thứ của lạ tự nhiên và phi tự nhiên, những quyển sách cấm cùng các tác phẩm nghệ thuật đáng sửng sốt. Kiến trúc gothic thời Phục Hưng này cùng tất cả những gì chứa trong nó đã được bán cho một tay buôn vũ khí để trả nợ, và cuốn sách bị mất tích suốt gần một thế kỷ. Nó bị ghi nhầm, hoặc cũng có thể là cố ý, dưới tên Casus Lumen trong buổi đấu giá năm 1911 ở Marseille, nhưng văn bản đó chưa bao giờ được trưng bày còn buổi đấu giá đã bị hủy bỏ một cách chóng vánh sau khi một dịch bệnh bí ẩn bùng phát trên toàn thành phố. Trong những năm sau đó, bản dịch viết tay được tin là đã bị phá hủy. Giờ nó đang ở trong tầm tay, ngay tại đây, giữa New York.
Nhưng 15 triệu đô? 25 triệu? Không có khả năng gom được. Chắc phải có cách nào khác...
Nỗi sợ hãi lớn nhất của ông, nỗi sợ ông không dám chia sẻ với bất kỳ ai, chính là trận chiến, đã bắt đầu từ rất lâu này, vốn đã thua rồi. Rằng đây chỉ là tàn cuộc, rằng quân vua của nhân loại đã bị chiếu mất rồi, nhưng nó vẫn bướng bỉnh tiếp tục vài nước đi còn lại trên bàn cờ quốc tế.
Setrakian nhắm mắt, cố xua tiếng o o trong tai. Nhưng tiếng o o vẫn dai dẳng - thực ra, càng trở nên to hơn.
Thuốc chưa bao giờ tác động đến ông theo cách này.
Ngay khi nhận ra điều này, Setrakian khựng người lại và đứng lên.
Hoàn toàn không phải do viên thuốc. Tiếng o o ở xung quanh ông. Rất nhỏ, nhưng vẫn nghe thấy được.
Không phải chỉ có họ ở đây.
Thằng bé, Setrakian nghĩ. Vận hết sức, ông đẩy người đứng lên khỏi ghế, bước đến phòng Zack.
Cộc-cộc-cộc...
Người mẹ đang đến tìm con trai.
---❊ ❖ ❊---