SETRAKIAN VỘI VÀNG LÀM VIỆC khi nghe tiếng xe của Fet tiến vào phía sau cửa tiệm. Ông điên cuồng lật giở cuốn sách cổ trên bàn, cuốn thứ ba trong Bộ sưu tập của các nhà giả kim Hy Lạp cổ đại bản tiếng Pháp, được Berthelot và Ruelle xuất bản ở Paris năm 1888, mắt ông lướt qua lướt lại giữa các trang sách minh họa và mấy tờ giấy vẽ những biểu tượng ông đã sao chép từ cuốn Lumen. Ông đặc biệt nghiên cứu một biểu tượng. Cuối cùng khi ông tìm được hình vẽ đó, tay và mắt ông dừng lại một thoáng.
Một thiên thần sáu cánh, đội vòng mão gai, khuôn mặt vừa mù lòa vừa không có miệng - nhưng lại có vô số cái miệng kết trên mỗi cánh của nó. Dưới chân nó là một biểu tượng quen thuộc - một mặt trăng khuyết - và một từ duy nhất.
"Argentum," Setrakian đọc. Ông tôn kính nắm lấy tờ giấy ngả vàng - và rồi xé bức hình ra khỏi cuốn sách cũ, nhét nó vào giữa cuốn sổ của ông, vừa đúng lúc Fet mở cửa.
---❊ ❖ ❊---
Fet quay lại trước khi mặt trời lặn. Anh phải đảm bảo mình không bị bè lũ ma cà rồng phát hiện hay theo đuôi, vì điều này sẽ dẫn Chúa Tể đến thẳng chỗ Setrakian.
Ông già hí húi chỗ một cái bàn gần radio, đang đóng một trong những cuốn sách cổ của mình lại. Ông đã bật một chương trình đối thoại, để nhỏ tiếng, một trong số ít giọng nói vẫn còn trên tần số phát thanh. Fet cảm nhận được một mối gắn kết đích thực với Setrakian. Một phần trong đó là sự ràng buộc phát triển giữa hai người lính trong thời chiến tranh, tình anh em nảy nở từ chiến hào - trong trường hợp này, chiến hào là thành phố New York. Rồi còn có niềm kính trọng lớn lao Fet dành cho ông già ốm yếu không bao giờ ngừng tranh đấu này. Fet thích nghĩ rằng giữa mình và vị giáo sư có nhiều điểm tương đồng, ở sự cống hiến cho một chí hướng và sự hiểu biết tường tận kẻ thù của mình - điểm khác biệt rõ ràng nằm ở tầm vóc của việc đó, khi Fet chiến đấu với chuột bọ và những con vật gây hại, còn Setrakian lại hiến dâng bản thân, từ khi còn trẻ, cho công cuộc diệt trừ một chủng loài ký sinh phi nhân tính.
Ở một góc độ nào đó, Fet coi mình và Eph là hai đứa con hờ của vị giáo sư. Hai người anh em đồng chí, nhưng lại khác nhau một trời một vực. Một bên là người chữa bệnh, một bên lại là kẻ tiêu diệt. Một đằng là người đàn ông danh giá có gia đình, được đào tạo trong trường đại học, đằng kia lại là một người lao động chân tay đơn độc, tự học. Người sống ở Manhattan, kẻ sống ở Brooklyn.
Vậy mà người ban đầu đứng ở tiền tuyến cuộc thảm họa, một nhà khoa học y tế, lại chứng kiến tầm ảnh hưởng của mình tan biến dần trong những ngày đen tối kể từ khi người ta biết được nguồn gốc của virus này. Trong khi đó, người có vị trí tương tự với anh, một công nhân thành phố với cửa tiệm nhỏ làm thêm ở Flatlands - và bản năng giết chóc - giờ phụng sự bên cạnh ông già.
Có một lý do khác khiến Fet cảm thấy gần gũi với Setrakian. Một điều Fet không dám nói với ông, một điều đến ngay cả bản thân anh cũng không hoàn toàn chắc chắn. Bố mẹ Fet đã nhập cư vào đất nước này từ Ukraina (không phải Nga như họ vẫn nói với người khác và như Fet đến giờ vẫn khẳng định), không chỉ để tìm kiếm những cơ hội mà mọi dân nhập cư đều tìm kiếm, mà còn để trốn chạy khỏi quá khứ. Ông nội Fet - và anh chưa từng nghe kể về chuyện này vì chẳng ai trong nhà trực tiếp đề cập đến nó, đặc biệt là người cha gắt gỏng của anh - là một tù binh Xô Viết, một người buộc phải đầu quân vào một trong những trại hủy diệt hồi Thế chiến II. Fet không biết là Treblinka hay Sobibor hay nơi nào khác. Đó không phải điều anh muốn khám phá. Vai trò của ông nội anh trong cuộc diệt chủng được tiết lộ hai thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, và ông bị bỏ tù. Để biện hộ, ông tuyên bố mình là nạn nhân dưới tay Đức Quốc xã và bị ép vào làm ở một vị trí tầm thường là lính canh gác trại. Những người Ukraina gốc Đức được bổ nhiệm vào các vị trí có thẩm quyền, trong khi những người còn lại phải quần quật làm việc theo ý các chỉ huy tàn bạo của trại. Nhưng bên nguyên đã nộp bằng chứng về sự giàu có của ông thời hậu chiến, chẳng hạn như nguồn gốc tài sản của ông Fet khi mở một công ty may, mà ông không thể giải thích được. Nhưng chính bức hình mờ chụp ông trong bộ đồng phục màu đen, đang đứng dựa vào hàng rào kẽm gai cầm khẩu cacbin trong đôi tay đeo găng - môi cong lên trong một dáng vẻ mà người thì cho là một nụ cười nhếch mép hiểm ác, người lại thấy là đang nhăn nhó - mới là thứ cuối cùng đã tống ông vào tù. Cha Fet sinh thời chưa lần nào nhắc đến chuyện này. Số thông tin ít ỏi Fet biết đều do nghe được từ mẹ anh.
Nỗi xấu hổ quả thực có thể truyền đến những thế hệ sau, và bây giờ Fet mang nó theo như một gánh nặng khủng khiếp, một nỗi ô nhục luôn nóng rực trong dạ dày. Xét trên thực tế, một người có thể không phải chịu trách nhiệm cho các hành động của ông mình, nhưng...
Nhưng người ta phải gồng gánh tội lỗi của tổ tiên khi mang trên mặt các đặc điểm của họ. Người ta mang dòng máu, và thanh danh hoặc tiếng xấu của họ.
Fet chưa khi nào cảm thấy khổ sở về mối quan hệ này như bây giờ - có lẽ trừ trong các giấc mơ. Một cảnh tượng lặp đi lặp lại, phá giấc ngủ của anh hết lần này đến lần khác. Trong đó, Fet trở về ngôi làng quê hương, nơi anh chưa một lần về thăm ngoài đời thật. Mọi cửa ra vào và cửa sổ đều đóng sập lại trước mặt anh, và anh bước trên đường một mình, nhưng vẫn bị nhòm ngó. Và rồi bỗng nhiên, từ cuối phố, một luồng sáng màu cam giận dữ gầm rống phóng về phía anh, móng guốc nhịp nhàng phi nước đại.
Một con ngựa giống - lông, bờm và đuôi đều rực cháy - đang nhắm vào anh. Con ngựa vô cùng chú tâm, và Fet, luôn ở giây cuối cùng, nhảy ra khỏi đường chạy của nó, quay người quan sát con vật lao qua vùng đồng quê, để lại một làn khói đen.
"Ở ngoài đấy thế nào?"
Fet đặt cái túi xuống. "Tĩnh lặng. Đáng sợ." Anh giũ áo khoác, lôi một lọ bơ lạc và vài cái bánh quy Ritz từ trong túi áo. Anh đã ghé qua căn hộ của mình. Anh đưa vài miếng bánh cho Setrakian. "Có tin gì không?"
"Chẳng có gì," Setrakian đáp, dò xét hộp bánh quy như thể định từ chối món ăn vặt này. "Nhưng Ephraim đi quá lâu rồi."
"Mấy cây cầu đấy. Tắc nghẹt."
"ừm." Setrakian mở lớp giấy sáp gói bên ngoài, ngửi ngửi miếng bánh bên trong trước khi ăn thử. "Anh lấy được bản đồ chưa?"
Fet vỗ vỗ túi. Anh đã đến tận trụ sở Sở Công chính ở Gravesend để tìm bản đồ hệ thống cống rãnh ở Manhattan, đặc biệt là khu Thượng Đông. "Tôi kiếm được rồi. Vấn đề là... liệu ta có cơ hội sử dụng không?"
"Sẽ có. Tôi dám chắc đấy."
Fet mỉm cười. Niềm tin của ông già chưa bao giờ thôi giúp anh ấm lòng. "Ông kể tôi nghe ông đã thấy gì trong quyển sách đó được không?"
Setrakian đặt hộp bánh quy xuống và châm tẩu. "Tôi thấy... mọi thứ. Tôi thấy hy vọng, đúng vậy. Nhưng rồi... tôi thấy kết cục của chúng ta. Của mọi thứ."
Ông lấy ra bản vẽ sao chép hình mặt trăng khuyết họ đã thấy cả ở ga tàu điện ngầm, trong đoạn video quay bằng chiếc điện thoại màu hồng của Fet, và trên những trang sách Lumen. Ông già đã sao chép nó ba lần.
"Anh thấy không? Biểu tượng này - giống như chính con ma cà rồng, theo cách nó từng được nhìn nhận - là một nguyên mẫu. Chung cho toàn nhân loại, cả phương Đông lẫn phương Tây - nhưng bên trong nó là một trật tự khác, thấy không? Ẩn sâu bên trong, nhưng lộ dần theo thời gian, như mọi lời tiên tri khác. Quan sát này."
Ông lấy ba mảnh giấy và dùng một cái bàn ánh sáng tự chế để trải chúng ra, rồi đặt chúng chồng lên nhau.
"Mọi huyền thoại, mọi sinh vật, mọi biểu tượng ta từng biết đến vốn đều tồn tại trong một cái kho vũ trụ rộng lớn, nơi các nguyên mẫu chờ sẵn. Các khuôn mẫu hiển hiện ở bên ngoài cái hang Plato của chúng ta. Đương nhiên, ta tin rằng ta thông minh, khôn ngoan và cực kỳ cấp tiến, còn những kẻ đi trước ta đều khờ dại và đơn giản... trong khi tất cả những gì ta thật sự làm là phản ánh lại trật tự của vũ trụ, theo cách nó dẫn dắt ta..."
Ba mặt trăng xoay trên mặt giấy và họp lại với nhau.
"Đây không phải ba mặt trăng. Không. Chúng là sự che khuất. Ba vầng nhật thực, mỗi cái xuất hiện ở một kinh vĩ độ chính xác, cách đều nhau một khoảng thời gian dài - báo hiệu một sự kiện, giờ đã hoàn thành. Tiết lộ hình dạng điềm báo linh thiêng."
Fet sửng sốt nhìn ba hình dạng kết hợp thành một ký hiệu thô sơ của biểu tượng hiểm họa sinh học "Nhưng biểu tượng này... tôi biết nó nhờ công việc của mình. Tôi tưởng nó chỉ mới được thiết kế hồi thập niên sáu mươi..."
"Mọi biểu tượng đều trường tồn. Chúng đã tồn tại thậm chí từ trước khi ta tưởng tượng ra chúng..."
"Vậy làm sao mà..."
"Ô, ta biết chứ," Setrakian nói. "Ta vẫn luôn biết. Ta không khám phá, không học hỏi. Ta chỉ nhớ lại những thứ ta đã quên..." Ông chỉ vào biểu tượng. "Một cảnh báo. Ngủ quên trong tâm trí ta, giờ đã thức tỉnh - khi sắp đến tận cùng thời gian."
Fet chăm chú nhìn cái bàn làm việc được Setrakian sử dụng. Ông đang làm thí nghiệm với các dụng cụ nhiếp ảnh, giải thích gì đó về "thử nghiệm phương pháp nhũ hóa để luyện bạc" mà Fet không hiểu. Nhưng ông già có vẻ hiểu rõ công việc đang làm. "Bạc," Setrakian nói. "Argentum, với các nhà giả kim cổ đại và được thể hiện bởi biểu tượng này..." Một lần nữa, Setrakian cho Fet xem hình mặt trăng khuyết.
"Và rồi, đây là..." Setrakian nói, lấy ra hình vẽ một tổng thiên thần. "Sariel. Trong một vài văn kiện dùng ngôn ngữ cổ Enochian, ngài được gọi là Arazyal, Asaradel. Mọi cái tên tương tự Azrael hay Ozryel..."
Khi đặt bức vẽ bên cạnh ký hiệu hiểm họa sinh học và biểu tượng mặt trăng khuyết trong giả kim thuật, các bức hình kết nối với nhau một cách đáng kinh ngạc. Một sự hội tụ, một phương hướng; một mục tiêu.
Setrakian cảm thấy năng lượng và nỗi phấn khích dâng tràn. Tâm trí ông đang săn tìm.
"Ozryel là thiên thần báo tử," Setrakian nói. "Người Hồi giáo gọi ngài là 'người bốn mặt, người nhiều mắt, người nhiều miệng. Người có bảy mươi ngàn chân và bốn ngàn cánh. Mắt và lưỡi của ngài nhiều ngang số người trên Trái Đất. Nhưng anh thấy đấy, điều đó chỉ cho thấy ngài có thể sinh sôi nhiều đến thế nào, lan rộng đến thế nào..."
Fet chìm vào suy tư. Phần khiến anh bận tâm nhất là an toàn tách con giun máu khỏi quả tim ma cà rồng cất trong chiếc lọ bịt kín của Setrakian. Ông già đặt quanh mép bàn mấy cây đèn uvc chạy bằng pin để kiềm chế con giun. Mọi thứ có vẻ đã sẵn sàng, chiếc lọ ở ngay gần đó, cơ quan to bằng nắm tay kia đang đập rộn - vậy nhưng, khi thời khắc đã điểm, Setrakian lại chần chừ không sẵn lòng tiêu diệt quả tim tai ác.
Setrakian cúi sát vào cái lọ đựng mẫu vật, và một xúc tu phóng ra, phần giác đầu xúc tu trông giống cái miệng dính vào lọ thủy tinh. Bọn giun máu này là những kẻ hút máu kinh tởm. Fet hiểu ông già đã trích máu mình cho chúng suốt mấy thập kỷ, nuôi dưỡng thứ đáng sợ này, và bằng cách đó, cũng phát triển một mối gắn kết kỳ quái với nó. Như thế cũng là tự nhiên thôi. Nhưng sự e dè của Setrakian ở đây còn chứa một cảm xúc vượt ngoài nỗi buồn thuần túy.
Đây giống với sự đau khổ thực sự hơn. Giống với nỗi tuyệt vọng hơn.
Chính lúc đó, Fet nhận ra một điều. Thỉnh thoảng, vào giữa đêm, anh vẫn thấy ông già nói chuyện với cái lọ, cho thứ bên trong lọ ăn. Một mình dưới ánh nến, ông nhìn nó chằm chằm, thì thầm với nó và vuốt ve cái lọ thủy tinh lạnh lẽo chứa thứ thịt thà kinh khủng kia. Một lần, Fet dám thề anh đã nghe thấy ông già hát cho nó nghe. Dịu dàng, bằng một ngôn ngữ xa lạ - không phải tiếng Armenia - một bài hát ru...
Setrakian nhận ra Fet đang nhìn ông. "Thứ lỗi cho tôi, giáo sư," Fet nói. "Nhưng... đó là tim của ai thế? Câu chuyện ban đầu ông kể cho chúng tôi..."
Setrakian gật đầu khi bị phát giác. "Phải... chuyện tôi đã cắt nó ra khỏi ngực một góa phụ trẻ ở một ngôi làng miền Bắc Albania phải không? Anh đúng rồi đấy, câu chuyện đó không hoàn toàn là sự thật."
Nước mắt lấp lánh trong mắt ông già. Một giọt âm thầm rơi xuống, và khi cuối cùng cũng lên tiếng, ông chỉ thì thầm - vì câu chuyện ông kể đòi phải thế.