Tàn Thế

Lượt đọc: 1245 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TẠO ĐOẠN III

TRÁI TIM SETRAKIAN

CÙNG VỚI HÀNG NGÀN NGƯỜI SỐNG SÓT sau cuộc diệt chủng, Setrakian đã tới Vienna năm 1947, gần như không một xu dính túi, và định cư ở vùng lãnh thổ Xô Viết trong thành phố. Anh đạt được một số thành công từ việc mua, sửa chữa và bán lại đồ nội thất kiếm được từ các nhà kho và điền trang vô chủ ở khắp bốn vùng thành phố.

Một khách hàng đã trở thành thầy của anh: giáo sư Ernst Zelman, một trong số ít thành viên sống sót của Wiener Kreis bí ẩn, hay Nhóm Vienna, một nhóm triết gia từ cuối thế kỷ trước mới bị Đức Quốc xã giải tán. Zelman đã trở lại Vienna từ cuộc lưu đày sau khi mất hầu như toàn bộ gia đình cho Đệ tam Đế chế. Ông vô cùng cảm thông cho chàng trai trẻ Setrakian, và giữa một Vienna đang ngập tràn đau đớn và thinh lặng - vào thời điểm mà việc nói về "quá khứ" và thảo luận về chủ nghĩa Quốc Xã bị coi là đáng khinh - Zelman và Setrakian đã tìm thấy niềm an ủi lớn lao trong sự bầu bạn của đối phương. Giáo sư Zelman cho phép Abraham thoải mái mượn sách từ thư viện phong phú của mình, và Setrakian, vừa độc thân vừa mắc chứng mất ngủ, ngấu nghiến các cuốn sách một cách thần tốc và có hệ thống. Lần đầu anh ghi danh học triết là năm 1949, và vài năm sau đó, ở trường đại học Vienna vốn đang tan tác và rất dễ xin vào, Abraham Setrakian trở thành phó giáo sư triết.

Sau khi chấp nhận sự hỗ trợ tài chính từ một tập đoàn

dưới quyền Eldritch Palmer, một ông trùm công nghiệp người Mỹ đầu tư nhiều vào khu vực thuộc Mỹ ở Vienna đồng thời cực kỳ quan tâm tới huyền thuật, sức ảnh hưởng và bộ sưu tập các tạo tác văn hóa của Setrakian nhanh chóng mở rộng suốt những năm đầu thập niên 1960, ấn tượng nhất là chiến lợi phẩm ý nghĩa nhất của ông, chiếc gậy đầu sói của Jusef Sardu, người từng biến mất một cách bí ẩn.

Nhưng các tiến triển và phát hiện thực tế cuối cùng đã khiến Setrakian tin rằng mối quan tâm của anh và Palmer không tương thích với nhau. Rằng mục tiêu tối thượng của Palmer thật ra lại hoàn toàn trái ngược với ý định của Setrakian săn lùng và lật tẩy bè lũ ma cà rồng - việc này đã dẫn đến một sự rạn nứt khó chịu.

Setrakian biết chắc chắn ai là người sau đó đã tung tin đồn về mối quan hệ của anh với một sinh viên, khiến anh bị đuổi khỏi trường đại học. Nhưng hỡi ôi, tin đồn đó là sự thật trăm phần trăm, và Setrakian, giờ đã được giải phóng nhờ vụ lật tẩy này, nhanh chóng kết hôn với Miriam đáng yêu.

Hồi nhỏ, Miriam Sacher đã trải qua một trận sốt bại liệt và phải đi lại với các thiết bị nẹp tay chân. Với Abraham, cô là nàng chim nhỏ không thể bay xinh đẹp nhất thế gian. Vốn là một chuyên gia về ngôn ngữ Roman, cô đã đăng ký vài lớp chuyên đề của Setrakian và dần dần chiếm được sự chú ý của giáo sư. Hẹn hò với sinh viên là một hành động bị lên án, vậy nên Miriam đã thuyết phục người cha giàu có thuê Abraham làm gia sư cho cô. Để tới được nhà Sacher, Setrakian phải đi bộ một tiếng đồng hồ sau khi bắt hai chuyến xe điện ra khỏi Vienna. Biệt thự đó không có điện nên Abraham và Miriam phải đọc sách dưới ánh đèn dầu trong thư viện gia đình. Miriam di chuyển xung quanh nhờ chiếc xe lăn làm bằng gỗ và mây vẫn thường được Setrakian đẩy tới gần kệ sách khi họ cần những quyển sách mới. Khi đó, anh cảm nhận được mùi hương thuần khiết, nhẹ nhàng trên tóc Miriam. Một mùi hương đã đầu độc anh và là ký ức khiến anh phân tâm rất nhiều trong vài giờ đồng hồ họ phải cách xa nhau. Chẳng bao lâu sau, họ thổ lộ tình ý với nhau và sự thận trọng được thay thế bằng nỗi e sợ khi họ trốn vào những góc tối tăm, bụi bặm để tìm hơi thở và nước bọt của nhau.

Bị trường đại học cách chức sau một quá trình dài từ chối bổ nhiệm anh làm giảng viên chính thức, đồng thời phải đương đầu với sự phản đối từ gia đình Miriam, anh chàng Do Thái Setrakian bỏ trốn cùng cô tiểu thư Sacher, và họ bí mật làm đám cưới ở Mönchhof. Chỉ có giáo sư Zelman và vài người bạn của Miriam tới dự.

Nhiều năm trôi qua, Miriam xuất hiện với tư cách bạn đồng hành trong những chuyến thám hiểm của anh, một niềm an ủi trong những khoảng thời gian đen tối, một người thực lòng tin tưởng lý tưởng của anh. Trong hơn một thập kỷ, Setrakian kiếm sống nhờ viết các cuốn sách quảng cáo nhỏ và làm quản lý cho các cửa hàng đồ cổ trên khắp châu Âu. Miriam lo liệu phần lớn nguồn thu nhập khiêm tốn trong nhà, và các buổi tối tại nhà Setrakian thường không có nhiều sự kiện. Mỗi đêm, Abraham lại xoa bóp chân cho Miriam bằng hỗn hợp cồn, long não và thảo dược, kiên nhẫn mát-xa các đốt xương đau làm cơ gân co rút - giấu giếm sự thật rằng khi làm như vậy, tay anh cũng đau không kém chân cô. Đêm này qua đêm nọ, giáo sư kể cho Miriam về các huyền thoại và kiến thức cổ, thuật lại những câu chuyện chứa đầy ẩn ý và tri thức. Anh thường kết thúc bằng cách ngâm nga các bài hát ru cổ của Đức để giúp cô quên sự đau đớn mà chìm vào giấc ngủ.

Vào mùa xuân năm 1967, Abraham Setrakian lần được dấu vết của Eichhorst ở Bulgaria, và nỗi khát khao trả thù tên Đức Quốc xã lại nhen nhóm trong lòng anh. Eichhorst, chỉ huy của anh tại Treblinka, chính là người đã chỉ định Setrakian làm thợ thủ công chính của hắn. Hắn cũng đã hai lần hứa sẽ hành hình người thợ mộc yêu thích nhất, hứa sẽ đích thân làm việc đó. Số phận của một người Do Thái trong trại hủy diệt là thế đó.

Setrakian theo dấu Eichhorst đến vùng Balkan. Albania theo chế độ cộng sản từ thời chiến tranh, và vì một lý do nào đó, [1] Setrakian rất kỳ vọng rằng tay quản trại cũ - chúa tể hắc ám của cái vương quốc tử thần công nghiệp hóa đó - thậm chí có thể dẫn anh tới chỗ Chúa Tể.

Do thể chất ốm yếu của Miriam, Setrakian để cô lại một ngôi làng ở ngoại ô Shkodër và dẫn một con ngựa thồ đi mười lăm cây số đến thị trấn cổ Drisht. Setrakian kéo con vật cứng đầu lên một con dốc đá vôi, men theo các đường mòn Ottoman tiến đến một lâu đài trên đỉnh đồi.

Lâu đài Drisht (Kalaja e Drishtit) đã có từ thế kỷ mười hai, được xây dựng như một phần của chuỗi các công sự trên đỉnh núi của Đế quốc Đông La Mã. Lâu đài thuộc quyền cai trị của Montenegro và sau đó, trong một thời gian ngắn, là Venezia, trước khi lãnh thổ này rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ năm 1478. Hiện tại, gần năm trăm năm sau, trong tàn tích của pháo đài này có một ngôi làng Hồi giáo nhỏ, một nhà thờ Hồi giáo nhỏ và tòa lâu đài bị lãng quên với những bức tường bị thiên nhiên mài mòn.

Setrakian nhận thấy ngôi làng không có một bóng người, không có mấy dấu hiệu cho thấy dạo gần đây có sinh hoạt gì. Quang cảnh nhìn từ đỉnh núi đến dãy Dinaric Alps ở phía Bắc, cùng biển Adriatic và eo biển Otranto ở phía Tây trông thật mênh mông hùng vĩ.

Lâu đài đá đổ nát hàng bao nhiêu thế kỷ chìm trong bầu không khí tĩnh mịch là một địa điểm thích hợp để săn ma cà rồng. Giờ ngẫm lại mới thấy, đáng lẽ ra điều đó phải nhắc Setrakian ý thức được rằng mọi thứ có lẽ không giống với vẻ bề ngoài.

Trong các căn phòng dưới lòng đất, anh phát hiện ra chiếc quan tài. Một cái áo quan hiện đại và đơn giản, một khối lục giác vuốt thon làm hoàn toàn từ gỗ, có vẻ là gỗ cây bách, không có bộ phận kim loại nào, sử dụng chốt gỗ thay cho đinh và làm bản lề bằng da thuộc.

Đêm vẫn chưa xuống, nhưng ánh sáng trong phòng không đủ mạnh để anh có thể dựa vào nó mà hoàn thành công việc. Vậy nên Setrakian lăm lăm thanh kiếm bạc, sẵn sàng kết liễu kẻ từng hành hạ mình. Vũ khí đã vào vị trí, anh dùng bàn tay còng queo nâng nắp quan tài lên.

Quả nhiên, cái quan tài trống không. Còn trống hơn cả mức trống không nữa: nó không có đáy. Được gắn chặt xuống sàn, nó hoạt động như một dạng cửa sập. Setrakian lấy cái đèn mũ ra khỏi túi, buộc lên đầu và ngó xuống.

Nền đất ở bên dưới cách khoảng bốn mét rưỡi, chạy thành một đường hầm.

Setrakian chất dụng cụ lên người - bao gồm một đèn pin sơ cua, một túi pin và mấy con dao bạc dài (thời điểm này, anh vẫn chưa phát hiện ra đặc tính chết chóc của ánh sáng tia cực tím bước sóng ngắn - cũng như sự xuất hiện của các đèn uvc trên thị trường), để lại toàn bộ thức ăn và hầu hết nước uống. Anh cột dây thừng vào các đoạn xích trên tường và thả mình xuống đường hầm dưới quan tài.

Mùi amoniac của chất thải Strigoi hăng nồng, nhắc nhở anh phải đi cẩn thận để tránh làm bẩn ủng. Anh băng qua các lối đi, nghe ngóng mỗi khi đến ngã rẽ, khắc ký hiệu lên tường khi đường hầm chia thành nhiều ngả, cho đến khi, sau một hồi, anh nhận thấy mình đã quay ngược lại chỗ các ký hiệu ban đầu.

Cân nhắc lại tình hình, anh quyết định lần theo đường cũ trở về lối vào bên dưới cỗ quan tài không đáy. Anh định bụng trèo ra, sắp xếp lại mọi thứ và nằm chờ các cư dân ở đó trồi lên sau khi đêm xuống.

Nhưng khi quay trở lại lối vào và nhìn lên, anh thấy nắp quan tài đã đóng lại. Và sợi dây thừng đưa anh xuống ban nãy đã biến mất.

Setrakian đã săn đủ Strigoi nên phản ứng của anh trước biến cố này không phải sợ hãi mà là tức giận. Anh lập tức quay lại, lao vào đường hầm, biết rằng sự sống còn của mình phụ thuộc vào việc trở thành kẻ săn mồi chứ không phải con mồi.

Lần này, anh chọn một con đường khác và cuối cùng đụng phải một gia đình nông dân làng bốn người. Họ là Strigoi, những cặp mắt đỏ sáng rực lên khi anh đến, phản chiếu ánh đèn pin.

Nhưng họ đều yếu đến độ chẳng tấn công nổi. Bà mẹ là người duy nhất đứng lên trong bốn người, Setrakian nhận thấy những đặc điểm của một ma cà rồng thiếu ăn trên mặt bà ta: da thịt thâm đen, âm thanh của vòi chích trong cổ họng thoát qua làn da căng, cùng vẻ lờ mờ, ngái ngủ.

Anh giải thoát cho họ - một cách đơn giản, không khoan nhượng.

Chẳng bao lâu sau, anh gặp hai gia đình khác, một khỏe một yếu, nhưng cả hai đều chẳng đáng được coi là thách thức. Ở một phòng khác, anh thấy một Strigoi trẻ con đã bị tiêu diệt, có vẻ như trong một cuộc ăn thịt đồng loại xấu số của bọn ma cà rồng.

Tuy nhiên, vẫn không thấy Eichhorst đâu.

Khi đã đi hết hệ thống hang động cổ của ma cà rồng và phát hiện ra chẳng còn lối thoát nào khác, anh quay lại căn phòng bên dưới cỗ quan tài đóng kín và bắt đầu dùng dao găm cạo lớp đá cổ. Anh đẽo một cái lỗ để chân trên tường, rồi tiếp tục đẽo một lỗ nữa ở cao hơn lỗ cũ mấy chục phân trên bức tường đối diện. Khi đã làm được vài tiếng - lưỡi dao bạc không phải lựa chọn đúng đắn cho công việc này, nó bị rạn nứt và cong oằn, cán dao bằng sắt lại tỏ ra có ích hơn - anh lấy làm băn khoăn về những dân làng Strigoi bị bỏ phí dưới đây. Sự hiện diện của họ phần nào không hợp lý. Có gì đó không đúng, nhưng Setrakian dằn lòng không suy ngẫm cho đến nơi đến chốn, đè nén nỗi lo lắng để tập trung vào công việc ngay trước mắt.

Nhiều giờ - có thể là nhiều ngày - sau đó, hết nước và chỉ còn ít pin, anh đứng thăng bằng trên hai lỗ để chân thấp để đẽo lỗ thứ ba. Tay anh nhoe nhoét máu trộn bụi, khó mà nắm chắc dụng cụ. Cuối cùng, anh cũng trụ được chân đối diện vào bức tường thẳng đứng và vói lên nắp quan tài.

Bằng một cú đẩy tuyệt vọng, anh bật tung được cái nắp ra.

Anh trèo ra ngoài, đang còn hoang tưởng, sắp phát điên. Cái bọc anh để lại đó đã biến mất, cùng với thức ăn và nước uống dự phòng. Khát khô cả cổ, anh ra khỏi tòa lâu đài, tiến vào ánh sáng mặt trời cứu rỗi cuộc đời. Bầu trời u ám. Anh có cảm tưởng như mấy năm đã trôi qua.

Con ngựa của anh đã bị giết thịt ở đầu đường, ruột bị moi ra, thân lạnh toát.

Bầu trời trải rộng thênh thang phía trên đầu trong khi anh hối hả trở lại làng. Một nông dân, anh từng gật đầu chào trên đường lên đây, đổi nước và mấy cái bánh quy cứng như đá lấy chiếc đồng hồ đeo tay hỏng của anh, và Setrakian biết được, qua các động tác khoa tay múa chân của ông ta, rằng anh đã ở dưới mặt đất qua ba bình minh và ba hoàng hôn.

Anh cuối cùng cũng quay lại được căn nhà nghỉ đã thuê, nhưng không thấy Miriam đâu. Không nhắn nhủ, không gì cả - hoàn toàn không giống cô. Anh sang nhà kế bên, rồi băng qua đường. Cuối cùng, một người đàn ông mở cửa cho anh, chỉ hơi hé ra.

Không, ông ta không thấy vợ anh, người đàn ông nói bằng tiếng Hy Lạp bồi.

Setrakian thấy một phụ nữ đang co rúm lại đằng sau ông ta. Anh hỏi liệu có chuyện gì không ổn hay không.

Người đàn ông giải thích với anh rằng hai đứa trẻ đã biến mất khỏi làng đêm hôm trước. Nghi phạm là một phù thủy.

Setrakian quay về căn nhà thuê. Anh ngồi phịch xuống ghế, đôi tay gãy dính đầy máu ôm đầu đợi đêm xuống - đợi thời khắc đen tối khi người vợ yêu dấu của anh trở về.

Cô tiến về với anh từ trong con mưa, không còn đôi nạng và tấm nẹp giúp cố định chân tay cô suốt cả quãng đời làm người. Tóc cô ướt nhèm, da thịt trắng bệch bóng loáng, quần áo sũng bùn. Cô đến với anh trong tư thế ngẩng cao đầu, với cung cách của một phụ nữ thượng lưu đang chuẩn bị chào đón một người mới gia nhập vào hội kín danh giá của cô. Bên cạnh cô là hai đứa trẻ trong làng đã bị cô biến đổi, một cậu trai và một cô bé vẫn đang nôn nao vì quá trình biến đổi.

Chân Miriam thẳng tắp và thâm đen. Máu đã dồn lại ở phần dưới tứ chi cô, giờ cả hai bàn tay bàn chân cô đều gần như đen thui. Chẳng còn những bước đi yếu ớt, ngập ngừng: cái dáng tong teo mà hàng đêm Setrakian vẫn cố xoa dịu.

Cô đã thay đổi hoàn toàn và nhanh chóng từ tình yêu đời anh thành một sinh vật điên cuồng, dính đầy bùn, mắt trừng trừng. Một Strigoi với sở thích là những đứa trẻ cô không thể mang trong đời.

Lặng lẽ khóc, Setrakian đứng dậy khỏi ghế, nửa muốn mặc kệ mọi chuyện mà cùng cô xuống địa ngục, tuyệt vọng dâng thân cho đại họa ma cà rồng.

Nhưng anh đã giết chết cô, trong vô vàn tình yêu và nước mắt. Anh cũng tiêu diệt hai đứa bé, chẳng buồn để ý đến thân thể mục ruỗng của chúng - nhưng với Miriam, anh quyết tâm giữ lại cho mình một phần của cô.

Dù ta có hiểu việc mình đang làm là điên rồ, việc đó chắc chắn vẫn điên rồ - cắt quả tim bệnh tật ra khỏi ngực vợ mình và bảo quản nó, một cơ quan hỏng vẫn đang đập với con thèm ăn của một con giun máu, bên trong một cái lọ muối dưa.

Cuộc đời thật điên rồ, Setrakian nghĩ, khi đã cắt xẻ xong và đang tìm chỗ để. Và tình yêu cũng vậy.

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] Strigoi có vẻ cũng phát triển trong môi trường ý thức hệ và chính trị tương tự.

Đánh máy: Mọt Sách
Biên Tập: Mọt Sách
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 1 năm 2026

« Lùi
Tiến »