Thẩm Phán Và Đao Phủ

Lượt đọc: 1973 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

Khi Bärlach và Lutz đã ngồi trong xe và Blatter lái vào đại lộ, len qua những nhân viên cảnh sát và nhạc công thành phố đang chạy mưa, ông tiến sĩ mới được dịp xả cơn tức giận:

"Lão Gastmann này thật quá quắt”, ông ta kêu lên.

“Cái gì? Tôi không hiểu”, Ông Già nói.

"Schmied dùng cái tên Prantl khi lui tới nhà Gastmann."

“Vậy đó là một lời cảnh cáo", Bärlach trả lời, nhưng không hỏi gì thêm. Họ chạy về khu học đường Muristalden, nơi Lutz ở. Bây giờ thực ra đúng là lúc nên trao đổi với Ông Già về chuyện Gastmann và kết luận là phải để cho nhân vật đó được yên, Lutz nghĩ vậy, nhưng ông ta im lặng. Tới Burgernziel, ông ta xuống xe, Bärlach còn lại một mình.

“Ông thanh tra, tôi có cần chở ông vào thành phố không?”, viên cảnh sát ngồi sau tay lái hỏi.

“Không cần, Blatter, cậu chở tôi về nhà.”

Bây giờ Blatter lái nhanh hơn. Mưa đã ngót; tới Muristalden, Bärlach đột nhiên tắm trong ánh nắng chói chang giây lát: Mặt trời ló khỏi mây, biến mất, rồi lại ló ra trong trò săn đuổi của lớp mù và các đụn mây, những quái dạng khổng lồ, ào ào kéo từ phía tây về, ùn lại quanh các đỉnh núi, ném những bóng râm dữ dằn xuống cái thành phố ven sông, một cơ thể nhu nhược, nằm tỏa giữa những khu rừng và triền đồi. Bàn tay mệt mỏi của Bärlach vuốt chiếc măng-tô ướt, khóe mắt lóe lên, ông háo hức nhìn như nuốt lấy quang cảnh ấy: Trái đất thật là đẹp. Blatter dùng xe. Bärlach cảm ơn và ra khỏi chiếc xe công vụ. Trời không mưa nữa, chỉ còn gió, cái gió ẩm ướt lạnh lẽo.

Ông Già đứng lại, đợi Blatter quay xe, chào lần nữa, tới khi anh lái xe đi khỏi. Đoạn ông bước tới bờ sông Aare.

Nước sông dâng cao, nhuốm màu nâu xỉn. Một chiếc xe đẩy trẻ em cũ gỉ, cành cây, một cây thông nhỏ, rồi một chiếc thuyền giấy chòng chành trôi lại, Bärlach ngắm dòng sông hồi lâu. Ông rất yêu con sông này.

Rồi ông đi qua vườn vào nhà.

Bärlach thay giày khác rồi mới bước vào phòng, nhưng ông sững lại trên bậu cửa. Một người đàn ông ngồi sau bàn làm việc của ông và đang lật xem cặp tài liệu của Schmied. Tay phải của y nghịch con dao Thổ Nhĩ Kỳ.

“Hóa ra là cậu”, Ông Già nói.

“Phải, chính tôi”, người kia đáp.

Bärlach đóng cửa và tới ngồi xuống chiếc ghế tựa đối diện bàn làm việc. Ông lặng lẽ nhìn người kia, y bình thản xem tiếp tập hồ sơ của Schmied, dung mạo gần như một lão nông, điềm tĩnh và kín đáo, tròng mắt sâu trên gương mặt tròn nhưng xương xẩu và mái tóc cắt ngắn.

“Bây giờ cậu lấy tên là Gastmann", cuối cùng Ông Già lên tiếng.

Người kia rút ra một chiếc tẩu, nhồi thuốc, mắt vẫn không rời Bärlach, châm lửa, rồi trả lời, ngón tay trỏ gõ gõ vào cặp hồ sơ của Schmied.

“Cái đó thì ít lâu nay cậu biết rõ rồi. Cậu đã xua thằng nhỏ đến ám tôi, những thông tin này từ cậu mà ra.”

Rồi y đóng cặp hồ sơ lại. Bärlach nhìn lên mặt bàn, khẩu súng ngắn của ông vẫn nằm đó, báng súng quay về phía ông, chỉ cần với tay là nắm được; rồi ông nói:

“Tôi chẳng bao giờ ngừng theo dõi cậu đâu. Rồi sẽ có lần tôi chứng minh được những tội ác của cậu.”

“Thế thì cậu phải gấp lên, Bärlach", người kia đáp.

“Cậu không còn nhiều thời gian đâu. Các bác sĩ hạn cho cậu một năm nữa, nếu bây giờ cậu chịu đi mổ.”

“Cậu nói đúng”, Ông Già bảo. “Còn một năm nữa thôi. Mà bây giờ thì tôi không thể đi mổ, tôi phải chịu trận. Đây là cơ hội cuối cùng của tôi.”

“Cơ hội cuối cùng”, người kia xác nhận, rồi họ lại im lặng, im lặng vô tận, họ ngồi đó và lặng im.

“Hơn bốn chục năm rồi”, người kia lại bắt đầu lên tiếng, “kể từ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau trong một cái tiệm Do Thái tồi tàn bên eo biển Bosporus. Tôi còn nhớ rõ, hôm ấy có một vầng trăng vàng bệch méo mó như miếng pho-mát Thụy Sĩ treo giữa những đám mây và rọi qua những thanh xà nhà mục nát xuống đầu chúng ta. Cậu, Bärlach, ngày đó là một chuyên viên hình sự Thụy Sĩ trẻ tuổi, được phái sang làm việc cho Thổ Nhĩ Kỳ để cải cách một cái gì đó; còn tôi - ừ, tôi là một tay phiêu lưu lang bạt như bây giờ vẫn thế, khao khát nếm trải cuộc đời độc nhất vô nhị của mình và cái hành tinh bí hiểm và cũng độc nhất vô nhị này.

Ngồi trước mặt nhau, giữa đám Do Thái mặc áo caftan và bọn Hy Lạp bẩn thỉu, chúng ta đã mê nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng tới khi mấy thứ rượu quỷ quái ta uống hôm đó, thứ nước ngọt lên men làm từ quả chà là loại gì bố ai biết, và cái biển rượu cay nồng cất từ những cánh đồng lúa mạch xa lạ quanh vùng Odessa mà ta dốc vào họng ấy, khi nó bắt đầu hoành hành trong người, khiến mắt ta lóe lên như than hồng trong trời đêm Thổ Nhĩ Kỳ thì câu chuyện của hai ta thành gay gắt. Ôi, tôi rất thích nhớ lại giờ phút ấy, cái giờ phút quyết định cuộc đời cậu và cuộc đời tôi!”

Y cười.

Ông Già ngồi và lặng thinh nhìn y.

“Cậu còn được sống thêm một năm nữa”, y tiếp tục, “và bốn mươi năm nay cậu bền bỉ theo dõi tôi.

Đó là bản quyết toán. Bärlach, hồi ấy chúng ta đã tranh luận gì trong không khí mốc meo của tiệm rượu ở quận Tophane ngoại ô nồng nặc khói thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ ấy nhỉ? Luận đề của cậu thế này: Nguyên nhân khiến phần lớn các tội phạm nhất thiết phải bị phơi trần là sự không hoàn hảo của con người, là việc chúng ta chẳng bao giờ đoán chắc được hành động của người khác, và hơn nữa, không thể lường trước ngẫu nhiên, là yếu tố thọc vào mọi sự. Cậu cho phạm tội là ngu xuẩn, vì thao tác với con người như với quân cờ là điều bất khả. Còn tôi, trái lại, đưa ra luận đề - cốt để phản bác chứ không phải do xác tín - là chính sự hỗn độn trong các quan hệ giữa người với người đã tạo điều kiện cho những tội ác không thể khám phá nổi, và chính vì lý do ấy mà đại đa số tội phạm chẳng những không bị truy cứu mà còn không ai ngờ đến, như chỉ xảy ra trong vòng bí mật. Say trong chất men thiêu đốt của rượu mạnh do lão chủ quán người Do Thái chuốc, và còn say hơn trong tuổi trẻ, ta tranh cãi tiếp, rồi hăng máu lên, ta đánh cuộc, khi trăng vừa lặn trên bán đảo Tiểu Á gần đó, một vụ cuộc mà ta ương ngạnh treo lên nền trời, cũng ương ngạnh như khi ta không kìm được mình, kể một chuyện tiếu lâm táo tợn, dù nó nhạo báng thánh thần, chỉ vì ta thích thú điểm nút của nó, như sự cám dỗ trí tuệ của quỷ sứ, do bản thân trí tuệ gây ra.”

“Cậu nói đúng”, Ông Già bình thản nói, “hồi đó quả là ta đã đánh cuộc như vậy.”

“Sáng hôm sau”, người kia cười, “lúc tỉnh dậy trong tiệm rượu buồn thiu, đầu nặng trịch, cậu thì ở trên một chiếc ghế dài mọt ruỗng, tôi dưới một chiếc bàn còn đẫm rượu, cậu không nghĩ rằng tôi vẫn giữ lòi cuộc.”

“Tôi không nghĩ là một con người lại có khả năng giữ lời cuộc đó”, Bärlach đáp.

Họ im lặng.

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, người kia lại lên tiếng. “Cái bản chất nghiêm chỉnh của cậu chẳng bao giờ lâm vào nguy cơ bị cám dỗ. Nhưng chính nó lại cám dỗ tôi. Tôi đã giữ lời cuộc táo bạo là sẽ phạm một tội ác ngay trước mắt cậu mà cậu vẫn không thể chứng minh.”

“Ba ngày sau”, Ông Già khẽ nói và chìm vào hồi ức, “lúc chúng ta cùng đi với một thương gia Đức lên cầu Mahmud, cậu đã xô anh ấy xuống nước ngay trước mắt tôi.”

“Anh chàng tội nghiệp không biết bơi, và cả cậu cũng chẳng điêu luyện gì trong cái nghệ thuật đó, đến nỗi sau phen cứu nạn không thành thì cậu suýt chết đuối, mọi người phải kéo cậu từ những ngọn sóng bẩn thỉu của vịnh Sùng Vàng lên bờ”, người kia không mảy may xúc động nói tiếp. “Án mạng xảy ra trong một ngày mùa hạ rực rỡ ở Thổ Nhĩ Kỳ, có gió dìu dịu từ biển thổi về, trên một chiếc cầu náo nhiệt giữa thanh thiên bạch nhật, giữa những cặp tình nhân của cái thuộc địa châu Âu ấy 40 , giữa những người Hồi giáo và đám ăn mày địa phương, thế mà cậu vẫn không chứng minh được điều gì để kết tội tôi. Cậu cho bắt tôi, vô ích. Những cuộc khảo cung hàng tiếng đồng hồ, vô tích sự. Tòa án tin vào giả thuyết của tôi, cho đó là vụ tự tử của anh chàng thương gia."

“Cậu đã đưa ra được bằng chứng là anh ta đang đứng trước nguy cơ phá sản và đã định dùng một thủ đoạn lừa đảo hòng thoát thân”, Ông Già cay đắng thừa nhận, mặt nhợt hơn thường lệ.

“Tôi chọn nạn nhân của mình kỹ lắm, bạn ạ”, người kia cười.

“Thế là cậu trở thành một kẻ tội phạm”, ông thanh tra đáp.

Người kia lơ đãng nghịch con dao Thổ.

“Thì tôi có chối rằng mình là một cái gì đại loại như tội phạm đâu”, mãi sau y mới uể oải nói. “Tôi thành một kẻ tội phạm ngày càng tài tình, và cậu thành một nhà điều tra ngày càng giỏi giang: nhưng tôi luôn đi trước cậu một bước, chẳng bao giờ cậu đuổi kịp. Tôi luôn xuất hiện trên con đường sự nghiệp của cậu, như một bóng ma xám, luôn khao khát thực hiện những tội ác táo tợn hơn, dữ dằn hơn, báng bổ hơn, ngay trước mũi cậu, và cậu vẫn luôn bất lực không chứng minh được những hành động của tôi. Cậu có thể thắng những thằng ngu, nhưng tôi đã đánh bại cậu.”

Y nói tiếp, chăm chú và như thể khoái chí quan sát Ông Già. “Chúng ta đã sống như vậy đó. Cậu thì sống một cuộc đời dưới trướng cấp trên, trong những đồn cảnh sát và phòng làm việc mốc meo của cậu, ngoan ngoãn leo từng bậc lên các nấc thang đo những thành tích khiêm nhường, hao công tổn sức với bọn kẻ cắp và lũ lừa đảo, với những thằng cha khốn khổ chưa bao giờ được sống cho ra hồn, và may ra thì với mấy tên giết người vớ vẩn; tôi, trái lại, lúc thì náu mình trong bóng tối, trong chốn mịt mùng của những đô thành đã mất, lúc lại hiện ra trong ánh hào quang của những cương vị chói ngời, ngực đầy huân chương, bốc lên thì làm điều thiện nếu khoái, và nổi hứng kiểu khác thì chơi điều ác. Thế mới là phiêu lưu kỳ thú! Cậu khao khát hủy diệt cuộc đời tôi, và tôi khao khát giữ vững cuộc đời mình để thách thức cậu. Đúng là một đêm duy nhất đã vĩnh viễn gắn chặt hai ta vào nhau!".

Gã đàn ông đứng sau bàn làm việc của Bärlach vỗ tay, chỉ một tiếng vỗ, tàn nhẫn. “Giờ đây chúng ta đã bước vào chặng cuối cuộc đời”, y thốt lên. “Cậu, nửa đường đứt gánh, đã trở về thành phố Bern của cậu, cái thành phố ngái ngủ, tầm thường mà người ta thực ra chẳng bao giờ biết rõ nó có bao nhiêu phần chết chóc và bao nhiêu phần sinh khí, còn tôi thì về Lamboing, cũng chỉ vì một cơn hứng: Con người ta vốn thích tròn trặn, và ở cái làng chẳng ma nào thèm ngó ấy có một mụ đàn bà nào đó đã mục xương từ lâu sinh tôi ra mà chả thèm nghĩ ngợi lâu la và lại thừa vô nghĩa, thế nên lúc mười ba tuổi tôi đã bỏ làng trốn đi trong một đêm mưa. Vậy là bây giờ chúng ta lại về đây. Bỏ cuộc đi, bạn ạ, chẳng còn nghĩa lý gì. Tử thần chẳng đợi”.

Rồi bằng một cử động gần như không đụng tay, y ném phập con dao vào lưng chiếc ghế tựa, sượt chính xác qua má Bärlach. Ông Già không nhúc nhích.

Người kia cười:

“Thế ra bây giờ cậu nghĩ rằng tôi giết Schmied?"

“Tôi có nhiệm vụ điều tra vụ này”, ông thanh tra trả lời.

Người kia đứng dậy và cầm tập hồ sơ.

“Tôi mang cái này về.”

“Rồi sẽ có lần tôi chứng minh được các tội ác của cậu”, Bärlach nhắc lại lần thứ hai. “Và đây là cơ hội cuối cùng.”

“Trong tập hồ sơ này có những bằng chứng duy nhất, tuy rất ít ỏi, do Schmied thu thập cho cậu ở Lamboing. Không có nó thì cậu cũng đi tong. Cậu không giữ bản sao, hay bản chụp, tôi biết cậu lắm.”

“Đúng”, Ông Già thừa nhận, “tôi không chứa những của ấy.”

“Cậu không định dùng súng để ngăn tôi lại à?”, người kia giễu cợt hỏi.

“Cậu đã tháo đạn ra rồi”, Bärlach bất động trả lời.

“Chính thế”, người kia nói, và vỗ vai ông. Rồi y đi ngang qua Ông Già, cửa mở ra, đóng lại, rồi một cửa nữa ở ngoài. Bärlach vẫn ngồi nguyên trên ghế, má áp vào lưỡi sắt lạnh của con dao. Nhưng đột nhiên, ông vồ lấy khẩu súng và kiểm tra. Súng vẫn nạp đạn. Ông chồm dậy, lao ra hành lang, rồi ra cửa ngoài; ông mở toang cửa, tay nắm chặt vũ khí:

Đường vắng tanh.

Rồi cơn đau ập đến, khủng khiếp, điên cuồng, nhức nhối, một vầng mặt trời mọc lên trong ông, quật ông gục xuống, vò xé, hun đốt, lắc đảo. Ông Già bò lê bò càng như một con thú, vật vã dưới đất, lăn lộn trên thảm trải nhà, rồi bết lại ở một xó nào đó trong phòng, giữa những chiếc ghế, người vã đầy mồ hôi lạnh. “Con người là cái thứ gì?”, ông khẽ rên, “con người là cái thứ gì?".

« Lùi
Tiến »