Nhà văn tiếp họ trong phòng làm việc. Đó là một căn phòng cổ, trần thấp, buộc hai người phải khom lưng như bị đeo ách lúc bước vào. Bên ngoài, con chó nhỏ mình trắng đầu đen vẫn ăng ẳng, và đâu đó trong nhà có tiếng một đứa trẻ khóc. Nhà văn mặc quần yếm và áo khoác da nâu, ngồi trước một khung cửa sổ kiểu gothic. Ông xoay người lại trên ghế, hướng về hai vị khách vừa tới mà không rời chiếc bàn làm việc đầy ắp giấy má. Ông không đứng dậy, gần như không buồn chào, chỉ hỏi cảnh sát muốn gì ở ông. Bất lịch sự quá, Bärlach nghĩ, ông này không ưa cảnh sát; các nhà văn chẳng bao giờ ưa cảnh sát. Ông Già quyết định sẽ thận trọng, Tschanz cũng không thích thú gì toàn bộ việc này. Cả hai đều tự nhủ, tuyệt đối không để mình thành đối tượng quan sát, nếu không sẽ có cơ biến thành nhân vật cho một cuốn sách. Đáp lại cử chỉ giơ tay mời của nhà văn, họ ngồi vào mấy chiếc ghế tựa mềm và ngỡ ngàng nhận ra mình rơi đúng vào luồng ánh sáng từ phía chiếc cửa sổ nhỏ, nhưng họ lại gần như không nhìn được mặt của nhà văn trong căn phòng thấp, tường xanh, với vô số sách vở, ánh sáng ngược thật oái ăm.
“Chúng tôi đến vì vụ Schmied”, Ông Già mở đầu, “người vừa bị giết ở Twann.”
“Tôi biết, vì vụ tiến sĩ Prantl, người đã theo dõi Gastmann", cái hình khối màu tối chiếm khoảng giữa hai nhân viên cảnh sát và khung cửa sổ lên tiếng đáp.
"Gastmann có kể cho tôi nghe”. Nhà văn châm một điếu thuốc, gương mặt sáng lên giây lát. Hai người kia còn kịp nhận thấy gương mặt ấy nhăn nhó cười cượt:
“Các ông cần bằng chứng ngoại phạm của tôi hả?”.
“Không”, Bärlach nói.
“Các ông không tin là tôi có thể thực hiện án mạng đó à?”, nhà văn hỏi, thất vọng ra mặt.
“Không”, Bärlach đáp cộc lốc. “Ông thì không.”
Nhà văn rên lên: “Thấy chưa, ở Thụy Sĩ các nhà văn bị đánh giá thấp đến kinh hoàng!".
Ông Già cười: “Nếu ông thực sự muốn biết: Tất nhiên chúng tôi đã có bằng chứng ngoại phạm của ông. Trong đêm xảy ra án mạng, lúc mười hai giờ rưỡi, ông đã gặp người gác rừng ở đoạn đường giữa Lamlingen và Schernelz rồi cùng đi với ông ấy về nhà.
Các ông cùng về một đường. Người gác rừng bảo, hôm đó ông có vẻ rất tếu.”
“Tôi biết. Tay cảnh sát làng Twann đã hai lần tra hỏi lão gác rừng về tôi. Và tra hỏi tuốt mọi người ở đây. Thậm chí cả bà mẹ vợ tôi nữa. Vậy tôi cũng đã được các ông tình nghi giết người đấy chứ”, nhà văn tự hào nhận định. “Thế cũng là một kiểu thành công của văn sĩ nhỉ!”. Và Bärlach thầm nghĩ, sĩ diện của nhà văn là muốn được coi trọng. Cả ba người đều im lặng và Tschanz cố hết sức, nhưng không nhìn được vào mặt nhà văn vì ngược sáng.
“Vậy các ông còn muốn gì nữa?”, cuối cùng nhà văn càu nhàu.
“Ông thường hay quan hệ với Gastmann phải không?"
“Khảo cung đấy à?”, hình khối màu tối kia hỏi và càng nhích ra chắn trước cửa sổ. “Bây giờ tôi không có thời gian.”
“Ông đừng làm khó như thế”, ông thanh tra nói, “chúng ta chỉ trò chuyện đôi chút”. Nhà văn ậm ừ trong miệng. Bärlach tiếp: “Ông thường hay quan hệ với Gastmann phải không?"
“Thỉnh thoảng."
"Vì sao?"
Ông Già chuẩn bị chờ một câu trả lời độc địa, nhưng nhà văn chỉ cười, phả từng đụn khói thuốc vào mặt hai vị khách, và nói:
"Tay Gastmann này là một con người thú vị, ông thanh tra ạ, người như thế hấp dẫn các văn sĩ như mật hút ruồi. Ông biết không, tay ấy nấu ăn rất giỏi, tuyệt vời luôn.”
Và nhà văn bắt đầu kể về nghệ thuật nấu ăn của Gastmann, miêu tả hết món này đến món khác. Hai người lắng nghe năm phút, rồi lại năm phút nữa, nhưng tới khi nhà văn đã diễn thuyết mười lăm phút liền về nghệ thuật nấu ăn của Gastmann, không có gì khác ngoài nghệ thuật nấu ăn của Gastmann, thì Tschanz đứng dậy nói rằng, đáng tiếc họ tới đây không phải vì chuyện nghệ thuật nấu ăn; nhưng Bärlach phản đối, ông tươi tỉnh hẳn, chuyện ẩm thực rất hấp dẫn, và bây giờ ông cũng vào cuộc. Ông Già như sống lại, và về phần mình, ông kể chuyện nghệ thuật nấu ăn của Thổ Nhĩ Kỳ, của Rumani, của Bulgari, Nam Tư, Tiệp Khắc; hai bên tung ra các món sơn hào hải vị như chuyền bóng cho nhau. Tschanz vã cả mồ hôi và rủa thầm. Không làm cách nào kéo cả hai ra khỏi nghệ thuật ẩm thực được nữa, nhưng cuối cùng, sau ba phần tư giờ đồng hồ, họ dừng lại, hoàn toàn kiệt sức, như sau một bữa đại tiệc. Nhà văn châm một điếu thuốc. Yên lặng. Đứa trẻ ở phòng bên lại khóc.
Dưới nhà, con chó lại sủa. Tschanz bỗng hỏi độp vào khoảng trống:
“Thế Gastmann có giết Schmied không?"
Câu hỏi thô thiển. Ông Già lắc đầu, và cái hình khối màu tối trước mặt họ nói: “Anh đúng là được ăn cả, ngã về không”.
“Tôi đề nghị trả lời”, Tschanz cương quyết nói và nhoài người ra đằng trước, nhưng gương mặt nhà văn vẫn bị che khuất như cũ.
Bärlach tò mò muốn biết người được hỏi sẽ trả lời ra sao.
Nhà văn vẫn bình thản.
“Anh chàng nhân viên cảnh sát đó bị giết vào lúc nào?”, nhà văn hỏi.
Trước nửa đêm một chút, Tschanz đáp.
Liệu những định luật của phép logic có hiệu lực với cả cảnh sát hay không, tất nhiên ông không biết, nhà văn đáp, và ông cũng rất hoài nghi điều đó, nhưng vì lúc mười hai giờ rưỡi ông có gặp lão gác rừng ở đoạn đường đi Schernelz, như cảnh sát đã siêng năng xác định được, nghĩa là trước đó không đầy mười phút chắc ông còn bận chia tay với Gastmann, nên hiển nhiên Gastmann khó có thể là kẻ giết người.
Tschanz muốn biết thêm là lúc đó có còn những người khách khác ở nhà Gastmann không.
Nhà văn cho biết là không còn ai.
"Schmied có ra về cùng mọi người không?”
“Tiến sĩ Prantl thường ra về trước người cuối cùng”, nhà văn trả lời, không giấu vẻ giễu cợt.
“Còn người cuối cùng?”
“Là tôi.”
Tschanz không chịu buông: "Hai tay phục vụ có ở đó không?”
“Cái đó tôi không biết.”
Tschanz muốn biết vì sao nhà văn lại không thể trả lời rõ.
Câu trả lời đã đủ rõ, nhà văn bốp chát. Chẳng bao giờ ông buồn để ý đến đám đầy tớ loại đó.
Thế Gastmann là người tốt hay người xấu, Tschanz tuyệt vọng hỏi và không ý tứ gì nữa, khiến ông thanh tra như ngồi trên đống lửa. Bọn ta mà không bị đưa vào cuốn tiểu thuyết sắp tới thì đúng là một phép lạ, ông nghĩ bụng.
Nhà văn thở cả một đụn khói vào mặt Tschanz, khiến anh bật ho, trong phòng cũng yên lặng hồi lâu, không nghe cả tiếng đứa trẻ khóc.
"Gastmann là người xấu”, mãi sau nhà văn mới đáp.
“Thế mà ông vẫn thường xuyên đến thăm hắn, chỉ vì hắn nấu ăn giỏi à?”, Tschanz bất bình hỏi sau một cơn ho mới.
“Phải, chỉ vì thế.”
“Tôi không hiểu nổi.”
Nhà văn cười. Ông cũng là một dạng cảnh sát mà, ông nói, nhưng không quyền hành, không nhà nước, không luật pháp và không nhà tù chống lưng. Nghề của ông cũng là nghề nhòm vào chân tơ kẽ tóc con người.
Tschanz lúng túng im lặng, và Bärlach nói: “Tôi hiểu”, rồi một lúc sau, khi mặt trời đã khuất sau cửa sổ, ông nói tiếp: “Vì quá nhiệt tình bồng bột nên Tschanz, cậu nhân viên của tôi, bây giờ đã đẩy chúng tôi vào một ngõ cụt, không trầy da tróc vẩy đôi chút thì có lẽ tôi khó lòng thoát ra. Nhưng tuổi trẻ cũng có cái hay của nó, ta hãy tận dụng lợi thế được một con bò đực lồng lên mở đường. (Nghe ông thanh tra nói những lời này, Tschanz đỏ mặt tức tối). Ta hãy bám lấy những câu hỏi và câu trả lời đằng nào cũng buột ra rồi, thôi thì nhân danh Chúa. Ta hãy tóm lấy cái cơ hội này. Ông nghĩ thế nào, thưa ông? Gastmann có khả năng là kẻ giết người không?”.
Nhà văn không buồn bật đèn, dù trong phòng đã tối hẳn. Ông đến ngồi ngay ở ngách cửa sổ, khiến hai viên cảnh sát như bị cầm tù trong hang.
“Tôi cho rằng Gastmann đủ khả năng thực hiện mọi tội ác”, giọng nói có phần giảo hoạt tàn nhẫn cất lên từ phía cửa sổ. “Nhưng tôi tin chắc Gastmann không thực hiện vụ giết Schmied."
“Ông hiểu Gastmann", Bärlach nói.
“Tôi có một hình dung về ông ta."
“Ông có hình dung của ông về ông ta”, Bärlach lạnh lùng sửa lời cho cái hình khối màu tối trong khung cửa sổ trước mặt họ.
“Ông ta hấp dẫn tôi không hẳn vì nghệ thuật nấu ăn, mặc dù ngoài nó ra thì tôi khó hào hứng với điều gì khác nữa, mà là vì cái khả năng của một người thực sự hư vô”, nhà văn nói. “Thật là mê hồn khi được chứng kiến một khái niệm hiển hiện trong hiện thực.”
“Trước hết, thật là mê hồn khi được nghe một nhà văn”, ông thanh tra khô khan bình luận.
“Có thể Gastmann đã làm nhiều điều Thiện hơn cả ba chúng ta gộp lại, cả ba chúng ta đây trong gian phòng xiêu vẹo này”, nhà văn nói tiếp. “Sở dĩ tôi bảo ông ta là người xấu, vì ông ta có làm điều Thiện thì cũng từ một cơn hứng, một ý tưởng bất chợt, hệt như khi làm điều Ác, mà tôi tin là ông ta thừa sức làm điều Ác. Ông ta sẽ chẳng bao giờ làm điều Ác hòng đoạt được một cái gì đó như những kẻ tội phạm khác, để có tiền chẳng hạn, hay chinh phục một người đàn bà, hay gia tăng quyền lực; không, ông ta sẽ làm điều Ác khi việc đó vô nghĩa, có lẽ vậy, vì ở ông ta, hai điều đó đều khả thi như nhau, điều Ác và điều Thiện, và yếu tố ngẫu nhiên sẽ định đoạt.”
“Ông suy luận, như thể trong môn toán”, Ông Già đáp.
“Đấy cũng là toán học”, nhà văn trả lời. “Người ta có thể chế ra phiên bản Ác của chính mình như chế một hình kỷ hà là đối xứng của một hình khác, và tôi tin là ở đâu đó cũng có một phiên bản người như thế, biết đâu ông sẽ gặp. Gặp một là gặp cả hai, cả bản gốc lẫn phiên bản.”
“Nghe cứ như một cương lĩnh”, Ông Già nói.
“Thì cũng là cương lĩnh chứ sao”, nhà văn đáp.
“Tôi hình dung phiên bản đối xứng của Gastmann có thể là một kẻ tội phạm, vì cái Ác thể hiện triết lý của hắn, luân lý của hắn, hắn làm điều Ác cũng cuồng nhiệt như một kẻ khác làm điều Thiện vì xác tín.”
Ông thanh tra cho rằng bây giờ nên trở lại với Gastmann, chuyện đó ông thấy sát sườn hơn.
“Tùy ông”, nhà văn nói, “ừ thì trở lại với Gastmann, thưa ông thanh tra, trở lại với cực này của cái Ác. Với Gastmann, cái Ác không phải là biểu hiện của một triết lý hay một thôi thúc, mà nó biểu hiện tự do của ông ấy: tự do của hư vô.”
“Tôi không thèm bỏ ra một xu cho loại tự do ấy", Ông Già trả lời.
“Ông cũng chẳng nên mất xu nào cho nó”, nhà văn nói. “Nhưng người ta có thể bỏ ra cả đời để nghiên cứu con người đó và cái tự do đó của hắn.”
“Nghiên cứu cuộc đời hắn”, Ông Già nói.
Nhà văn im lặng. Ông tỏ ý không muốn nói gì thêm.
“Việc của tôi liên quan đến một Gastmann cụ thể", cuối cùng Ông Già lên tiếng, “một người sống tại Lamlingen ở vùng thung lũng Tessen và thường tổ chức những buổi tiệc tùng khiến cho một trung úy cảnh sát phải bỏ mạng. Tôi cần biết, hình ảnh ông vừa vẽ ra cho tôi có phải là hình ảnh đích thực của Gastmann không, hay đó chỉ là hình ảnh trong những giấc mơ của riêng ông.”
“Những giấc mơ của chúng ta”, nhà văn trả lời.
Ông thanh tra im lặng.
“Tôi không biết”, nhà văn kết luận và đến bên hai vị khách để tạm biệt, ông ta chìa tay cho Bärlach, chỉ riêng Bärlach: “Chưa bao giờ tôi quan tâm đến những chuyện đại loại như vậy. Rút cục, nhiệm vụ của cảnh sát là tìm hiểu vấn đề ấy.”