Thành Phố Đi Vắng

Lượt đọc: 2458 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Câu chuyện đại chiến

Vào ngày thứ tư, rạp chiếu phim giảm giá 50% cho sinh viên. Anh thông báo: xem lại Xích Bích. Dù là đã thuộc từng hình, từng câu thoại hay âm thanh ấn  tượng  của  Xích  Bích,  tôi  vẫn  sáng  mắt,  gật  đầu,  hỏi:  “Mình  đi  với  ai”?  Anh  cười:  “Ít  nhất  là  hai  đứa.  Nhiều  là  bốn”.  Câu  sau  cùng,  anh  nói  khi  chạy  phầm  phập  lên gác. Sàn nhà gỗ bắt đầu rung khẽ vì âm bass phát ra trên phòng anh trai.  

Phòng tôi tầng dưới. Anh ở trên, cách nhau cái sàn gỗ. Tôi  làm  gì  ở  phòng  mình,  anh  không  biết.  Nhưng  anh  làm  gì  bên  trên,  tôi  có  thể  đoán  được  đúng  bảy  mươi  phần trăm. Phòng tôi có sáu cái bể cá. Bốn bể nước ngọt, hai bể nước mặn. Để chúng vào chung căn phòng mười lăm mét vuông thật bất tiện. Không chỉ có quá nhiều hơi ẩm trong không khí, quá nhiều tiếng ồn của máy lọc, máy sủi tạo ô xi, tiếng nước chảy qua bộ lọc xối ngược xuống triền miên đều có thể chịu được do quen tai, mà gay go là chế độ sống của những con cá đế vương đó hoàn toàn khác nhau về thời tiết. Cá biển ưa lạnh. Cá nước ngọt ưa nóng.  Mùa  đông,  lúc  những  Nemo,  sao,  san  hô  sống...  sung  sướng  vẫy  vùng  và  béo  tròn  từng  ngày  thì  La  Hán  hay Rồng lại ẹo ẹo vì lạnh. Ngược lại, mùa hè đến, bọn La Hán phổng phao vênh váo khoe cục bướu thù lù trên trán bao nhiêu thì Nemo... lại lừ đừ bấy nhiêu. Biết thế, nhưng tôi luôn hào hứng với việc mình được thừa kế tất cả  những  gì  từng  là  niềm  vui,  từng  là  tình  yêu  của  anh  trai  mình.  Và  phải  giải  quyết  một  cách  hiệu  quả  nhất,  theo sự chỉ đạo một lần vô cùng tận tụy của anh. “Với cá nước  mặn,  mùa  hè  nóng,  nếu  không  bật  máy  lạnh,  chú  lấy mấy chai nước lã cho vào ngăn đá, thành những chai đá, rồi thả vào bể nước mặn cho cá mát” hay “Mùa đông, khi nào nhiệt độ ngoài trời xuống dưới mười lăm độ, chú cắm cái sưởi này cho cá rồng. Để hai mươi bảy độ là tự ngắt điện. Lạnh là ngoẻo đấy”.

Tôi từ lâu tự nhận biệt danh cho mình là Lười. Ngày nhỏ,  mẹ  nói:  “Con  lười  tắm  quá,  không  béo  được  đâu”,  hay  “đến  ăn  mà  cũng  không  buồn  nhai,  sau  làm  sao  thành chủ gia đình đây?” Rồi bố: “Sao không đi đá bóng với bọn ở lớp? Ngày xưa, bằng tuổi con, bố đá bóng ở tất cả các bãi cỏ ở khu Hoàn Kiếm, hay bãi sông Hồng”. Anh thì:  “Chú  mà  một  tuần  mới  gội  đầu  một  lần,  rụng  hết  tóc đấy”. Lâu dần, tôi đâm yêu quý chữ Lười như thể nó là  một  phần  thân  thể.  Khi  mọi  người  quên  cái  tên  thân  thương đã theo tôi bao tháng ngày, tôi tự nhắc nó bằng cách cố tình không làm một việc gì đấy, để có cớ nhờ mẹ, nhờ anh, rồi tự nhận:

 “Không biết con là thằng lười à?” 

Tôi tiếp nhận tất cả những gì anh bàn giao, không đắn đo, bởi tôi vốn không thiết nghĩ nhiều về một chuyện gì đó. Cụ thể là: sáu cái bể cá. Hai con chó nửa tây nửa ta, bốn con mèo, một con rùa... và khoảng bảy chị: bạn gái, người  yêu  rồi,  đang  định  yêu  rồi  bỏ...  của  anh  trai.  Anh  năm nay 25. Còn tôi 16.

Thật  sự  thì  với  một  thằng  nhóc  16  tuổi,  khi  nuôi  tất  cả  những  con  vật  mà  anh  bất  thình  lình  mê  mẩn  thích,  mang  về  chăm  sóc  như  với  con  đẻ  trong  khoảng  thời  gian  sáu  tháng  rồi  chán,  là  việc  không  khó.  Sáu  bể  cá  xếp  vòng  quanh  giường  ngủ.  Cá  nào  có  thức  ăn  của  cá  đó.  Ngoài  những  ngày  ăn  đồ  hộp  là  viên  bột  tổng  hợp  bán sẵn phòng đói bụng giống mỳ tôm, phở ăn liền của người,  là  những  bữa  ăn  tươi  mấy  nghìn  tép  sống  nhảy  tanh  tách  ngoài  chợ  mà  mỗi  khi  tôi  thả  chúng  xuống,  lũ cá như biểu diễn thời trang, múa rất dẻo với món ăn khoái cảm. Đấy là cá. Còn chó và mèo sinh sống ở phòng chung. Chó ăn chung bát với mèo. Hai con chó lần lượt được  anh  bỏ  vào  túi  áo  khoác  mang  về.  Ban  đầu,  các  em nhỉnh hơn cái ấm pha trà, lông xù, chân ngắn, bụng chạm  đất  và  rõ  ràng  là  giống  chó  Tây  như  anh  trai  xác  nhận. Nhưng chỉ một tháng sau, với tình cảm quá khích và cách chăm sóc đặc biệt của anh, chúng đã từng bước khẳng định mình chính là chó ta có đá qua lai Tây một tẹo rất ít. Chân cao, lưng dài ngoằng, và sủa ông ổng về đêm khi có cái lá rụng hay lũ chuột chạy đuổi chửi nhau chí chóe. Đôi khi khu phố có trộm, thì chó ta bỗng nổi gien  lành  như  chó  Tây,  vẫy  đuôi  mừng,  không  kêu  một  tiếng. Hết nhiệm kỳ được sủng ái của chó, thì sang mèo cho  dù  chó  vẫn  lừng  lững  hiên  ngang  đi  lại  quanh  nhà.  Mèo dễ chịu hơn chó, biết làm người ta yêu mình nhiều hơn bởi cách làm duyên. Ngoẹo đầu ngủ vắt vẻo nơi cầu thang,  hay  dang  bốn  chân,  phơi  bụng  tênh  hênh  tô  hô  giữa đường với một cái mặt tròn xinh đẹp. 

Trong suốt những quá trình nhập hộ khẩu nhà tôi của các loài thú cưng, là hình ảnh các chị. Tôi gặp cụ thể bảy chị  trong  vòng  bốn  năm  (tôi  nhớ  những  chị  này  vì  khi  đến  nhà  đều  cười  toét: 

 “Chào  Tí,  chị  mua  cho  Tí  chè  thập  cẩm  này”. 

 Một  chị  nghiện  trứng  chim  cút  lộn,  bao  giờ cũng một bịch chị, một bịch em... hay những đặc sản của quê từng chị xếp la liệt góc bếp như măng muối Lạng Sơn,  măng  khô  Tuyên  Quang,  hồng  Đà  Lạt...).  Và  bảy  chị đó, từ chỗ không biết nhau, rồi biết, rồi ghét, nói xấu, ghen tuông nhưng có một tình cảm đồng nhất của cả bảy người là đều coi thằng lười tôi là em trai yêu quý. 

Anh trai rầm rầm chạy xuống. Quần bò trễ cạp, thấy rõ từng cuộn lông bụng nâu óng mềm. Râu quai nón, mắt đen,  lông  mày  rậm  và  tóc  hung  “Chú,  anh  gọi  điện  rồi,  đi  với  ba  đứa”.  “Là  ba  chị  nào”.  “Mèo,  Bột  và  Con  Con”.  “Cái gì? Ba chị đấy không thích nhau lắm đâu”. Tôi rùng mình. Lập tức một hình ảnh như trong phim chạy qua, là chị Mai và Hương cao như nhau, khoảng mét bảy mươi, tóc người dài người ngắn, ai trông thấy mắt cũng dừng lại một lúc. Riêng chị Thúy bé xíu. Anh nói chị Thúy may, vì cao một mét bốn sáu, thoát được luật cấm đi xe máy vì thừa  quy  định  một  centimet.  Anh  gọi  các  chị  bằng  biệt  danh: Hương mèo vì chị cho mấy con mèo, Mai bột vì da ngăm đen, lúc nào cũng như vừa đi tắm nắng về và Thúy con  con.  Tuy  cao  thấp  khác  nhau  nhưng  ai  cũng  xinh.  Lườm nhau cũng khiếp. 

“Không thích cũng phải thích”. 

Anh phẩy tay.

 “Chú chuẩn bị đi, anh chở chú”.

“Thế các chị kia đâu?”

 “Tự đến thẳng rạp rồi”.

Ngồi sau xe máy, đầu óc thằng tôi bắt đầu hoạt động. Các tình huống đặt ra: đi xem phim, là thưởng thức bộ phim. Với anh và mình, chắc chắn là như vậy. Nhưng với ba chị kia sẽ không tâm trí tập trung xem phim mà là xem nhau. Khi xem nhau với một tâm trạng ghen ghét, đố kỵ, sẽ chỉ thấy cái xấu, và sinh nói xấu khích bác nhau... Tóm lại, là một đại chiến. Tại sao anh lại làm thế nhỉ? Mà rắc rối thế này, anh lôi tôi vào làm gì? 

Rạp chiếu hiện đại. Bước vào như vào thế giới khác. Tôi  không  giấu  được  căng  thẳng.  Anh  quay  sang,  đấm  cái thụp vào lưng, cười trắng lóa: 

“Chú lại tâm trạng rồi. Vô  tư  đi,  không  đánh  nhau  đâu”. 

 Thằng  tôi  cười  nhạt  hoét. Xích Bích xem đã ba lần. Rồi nghe bác nhà báo Yên Ba  phân  tích  trên  VTC  mấy  lần,  thấm  thía  hay.  Nhưng  chuyện đồng ý đi lần bốn để xem Xích Bích do cái tính lười nói câu từ chối, là sai lầm. Thở dài cái sượt, đi tiếp. Nếu  không  lười,  thì  lúc  này  vẫn  có  thể  làm  khác  chứ  không  nhắm  mắt  đưa  chân  trước  bất  cứ  một  việc  gì,  ví  dụ là việc này. 

Lâu lắm về sau, tôi vẫn nhớ cảm giác tối hôm ấy. Xích Bích lần bốn không như ba lần Xích Bích trước. Dù âm thanh  lập  thể  chạy  vòng  quanh  người  với  bao  hiệu  quả  công  nghệ  hiện  đại  vẫn  không  xóa  được  cảm  giác  hình  như  các  chị  ấy  đang  gườm  nhau.  Dao  kiếm  chém  nhau  tóe  lửa  cũng  không  kéo  tâm  trí  thằng  tôi  tập  trung  nổi  mười phút vì những chuyện có thể xảy ra như nói khích nhau, thậm chí cãi nhau, biết đâu trong bóng tối, không ai thấy ai, mèo và con con giật tóc, cấu véo nhau? Anh trai nhìn thẳng màn ảnh, không hiểu sao biết tôi lo toan. Lại hành động vỗ lưng quen thuộc, anh thì thào: “Về không? Cà phê?”. Tôi thở dài. Im lặng. Anh lại nói: “Xem phim như chú, hỏng hết bánh kẹo. Về đi, cho hết căng thẳng”.

“Còn  ba  chị  kìa?” 

“Đến  được,  về  được.  Không  đánh  nhau  đâu,  đừng  lo.  Chú,  cà  phê  quán  nào?”. 

Thằng  lười  trả lời: “Quán gần nhà mình”. 

Đấy cũng là tối đầu tiên tôi nốc ba cốc cà phê đá. Mây Tím có từ mười năm, nằm ở ngã ba đường, hoành tráng nhất khu vực. Chỉ cần đi bộ vài bước là về đến nhà nên tôi hay được mẹ rủ ra ngồi ăn uống linh tinh vào những ngày nghỉ. Lần nào thấy tôi đứng ở cửa, bác quản lý cũng nháy mắt, và lặng lẽ chuyển mấy cái ghế, một cái bàn ra ngoài  trời  cho  vị  khách  quen  đặc  biệt  thích  ngồi  duỗi  chân  nhìn  đường  phố.  Lần  này  cũng  vậy.  Hai  anh  em  ngồi nhìn hai hướng. Trên cái bàn gỗ, la liệt cốc. Ca tối, những người trực khác, nhưng cũng quen. Một anh cười: “Hai anh em tâm trạng nhỉ? Trà đá không?” 

Anh tôi gật. Anh  phục  vụ  lại  đưa  đẩy: 

 “Lâu  không  gặp  Đông,  có  vẻ  béo lên đấy”. 

Anh trai chỉ cười gật gật. 

Tôi khoái nhất là ngồi duỗi thẳng chân, tựa lưng vào ghế  và  nhìn  sâu  vào  khoảng  tối  phía  xa.  Nhìn  thật  lâu,  càng hút mắt không muốn quay đi. Lần nào xuống quán với  mẹ,  tôi  đều  nghe  mẹ  phân  tích  về  cách  sống  của  những người phục vụ trong Mây Tím: “Họ rất chăm chỉ, tập  trung.  Sáng  ra  năm  giờ  mở  cửa  hàng,  mười  hai  giờ  đêm  đóng  cửa.  Ai  cũng  phải  có  một  cái  nghề,  và  niềm  đam mê. Nhưng thành hay bại, là do chăm. Mẹ thấy con phải  xem  lại,  nếu  lười  thế  này,  không  hiểu  sau  sẽ  làm  việc gì?”.

 Giữa  hai  anh  em,  là  những  cốc  trà  đá.  Anh  nhìn  vào  quán,  bâng  quơ: 

 “Không  biết  những  người  này  định  ở  đây đến bao giờ. Bao lâu nữa thì làm việc khác? Suốt đời làm một cái việc mở cửa cho khách, bưng nước, lau bàn, rồi  đóng  cửa,  không  chán  nhỉ?”.  

Tôi  vắt  lại  hai  cái  chân  theo hướng khác, thở dài: 

“Họ là những người chăm chỉ. Không  lười  như  em”.

  Anh  lắc  đầu:

  “Anh  đi  khắp  nơi,  về  đây, ba năm trước với ba năm sau, thấy khác mỗi cái đèn nhấp nháy và thêm cái máy pha capuchino. Thế mà cũng sống được”. 

Điện  thoại  anh  có  tin  nhắn  liên  tục.  Anh  đọc,  nhìn ôi,  cười:  “Ba  đứa  đang  đi  ăn  xoài  dầm  ở  Nhà  thờ”.  Tôi  thở dài. Dù sao cũng xong một buổi tối lành lặn không thương tích. Anh cười: “Mai lại mất một chầu kem ngồi giải  thích  Xích  Bích  cho  các  bà  ấy  nghe.  Chắc  tối  nay  chẳng đứa nào tâm trí mà xem”.  

Bỗng nhiên, tôi nhớ bác Yên Ba. Cũng là từ chữ lười, mẹ  nói:  “Bác  ấy  đôi  khi  cũng  lười.  Đi  ăn  cùng  bạn  bè,  bác  ấy  chỉ  ngồi.  Mẹ  hỏi,  sao  không  ăn.  Bác  nói  chỉ  ăn  những  con  gì  không  có  xương.  Và  khi  bữa  ăn  đã  xong,  kết  thúc  cả  tráng  miệng  với  trái  cây  hay  kem,  mẹ  phát  hiện  trước  mặt  bác  ấy  hãy  còn  một  chén  nước  mắm.  Nhưng bác chỉ lười những chuyện kiểu như thế. Còn lại, là sống hết mình với những đam mê. Ví dụ sưu tập sách cổ. Sưu tập Tam Quốc. Khi biết ở đâu có cuốn sách quý, bác  ấy  sẵn  sàng  đi  hàng  trăm  cây  số,  xuyên  ngày  xuyên  đêm để mua nó”.

Lần đầu tiên, tôi có một đêm trắng rất dài vật vã cho đến  sáng  trong  tiếng  rập  rập  âm  bass  trên  phòng  anh,  xuyên  qua  những  tấm  lót  sàn  gỗ.  Mọi  chuyện  chạy  qua  trong đầu như một cuốn phim. Cũng khoái, nhất là với thằng lười, khi mà nằm trong bóng tối với một đôi mắt mở thao láo, thấy rõ mình đang nhấm nháp những thước phim tự chiếu cho một mình mình xem. 

Tất cả thật bí mật. 

*

Bây giờ.

Tôi hai mươi, học kinh tế ở Malmo, Thụy Điển. Điều mà không ai tưởng tượng và tin nổi với một thằng nhóc lười  đã  làm  được.  Tôi  giống  cái  lá,  nằm  trên  một  dòng  nước  lặng,  từ  từ  trôi,  phong  cách  cố  hữu  của  mình,  rồi  thế  nào  đấy  thì  đã  ở  rất  xa  nơi  chốn  thân  quen.  Anh  trai gọi điện:

 “Chú. Anh lấy vợ”. 

“Chị nào? Con con hay mèo?”

 “Chú còn nhớ chị Hường không?” 

“Chị cho anh con Tũn á?”

 Lâu lắm rồi, tôi mới gào to như vậy. “Ừ”.

Lúc  này.  Tôi  đang  đứng  dưới  một  cái  mái  hiên  hình  chóp.  Nắng  hắt  vàng  ngoài  xa,  thấy  rõ  những  con  sóc  nhỏ nhảy tưng tưng dưới đất rồi ôm cái thân cây già trèo thoăn thoắt. Vài đứa trẻ tóc vàng lăn lộn trên bãi cỏ công viên nắng rung rinh qua những cái lá non trong vắt. 

Chị  Hường  có  một  cái  máy  trợ  tim  trong  ngực.  Có  lần,  chị  nắm  tay  tôi,  mắt  to  sáng  rực,  hồn  nhiên  đặt  lên  chỗ  trái  tim  rất  gần  nơi  nhạy  cảm,  tỉnh  bơ,  như  thể  tôi  không phải là một thằng nhóc đã mười sáu, cũng đã biết thích cô này cô nọ và lén lút xem những cảnh nóng thỉnh thoảng có trong những bộ phim cấm trẻ em dưới mười tám: “Tí thấy không. Máy đang chạy đấy. Em áp tai vào đây, nghe tiếng rò rò không?” Tôi chỉ để tay chứ không dám áp tai vào nơi ấy của chị, giọng bỗng khàn: “Không có cách nào khác ạ?” “May còn có nó đấy, không thì chị đã bay vút lên trời”. 

Trong  số  những  chị  đến  nhà  tôi,  chị  Hường  chỉ  là  bạn rất vu vơ, chưa bao giờ thuộc tốp được anh đặt biệt danh. “Sao lại là chị Hường?” Anh hỏi lại: “Tại sao không phải  chị  ấy?”  “Nhưng...  chị  ấy  bị  bệnh  tim  rất  nặng?”  “Chính thế, nếu anh không, ai lấy chị ấy?” 

Tôi  không  nhớ  mình  đã  ngồi  ngoài  công  viên  bao  nhiêu  giờ.  Từ  lúc  nắng  vàng,  tới  khi  tất  cả  chuyển  xám.  Chạy dọc theo bãi cỏ, là một dòng sông nhỏ. Chiều đến, từng  đàn  bồ  câu  to  như  vịt  trời  bay  về,  đậu  trên  những  mái  nhà  cổ  mốc  rêu  ngóng  tìm  ông  lang  thang  mang  đồ  ăn  tới.  Ông  già  cao,  lưng  gù,  râu  ria  che  hết  miệng,  thường đạp xe, chở hai cái bao, trong ấy là những đồ thừa nhặt từ các quán ăn hay thùng rác công cộng. Lặng lẽ mở túi  vải  ném  đồ  ăn  xuống  triền  dốc  cỏ  xuôi  xuống  dòng  nước, rồi ông ngồi bệt xuống cỏ. Lũ chim gào thét thảm thiết  lao  như  những  mũi  tên  xuống  cướp  đám  thức  ăn  đủ loại, nhảy tưng tưng rồi bay tiếp. Có vẻ như họ quen nhau đã lâu, nên chúng nhận thấy ông đến từ xa.

Hôm ra sân bay tiễn tôi, vẫn động tác đập lưng quen thuộc: 

 “Ê  Lười,  anh  sẽ  tiếp  quản  cơ  ngơi  của  chú.  Nhà  bây giờ, thằng Lười sẽ là anh”. 

“Tất cả là của anh mà. Chó, mèo, cá, rùa... đều của anh mang về đấy chứ có phải em đâu. Nhưng Lười là thương hiệu của em, anh không lấy được”.

 Anh cười, đấm mạnh vào vai tôi một đấm thay câu chào rồi quay đi. Dáng người chắc nịch, da ngăm đen và mái tóc hung hung lẫn dần vào đám đông phía xa, không một lần ngoảnh lại để biết là tôi cứ đứng, nhìn theo mãi.

Đến  tận  lúc  này,  khi  đã  đi  rất  xa  khỏi  nơi  chốn  của  mình,  chân  lại  duỗi  dài  khoái  cảm,  tôi  nằm  ra  bãi  cỏ  lúc  nào  không  biết.  Tôi  đã  từng  nghĩ  sẽ  không  đi  đâu  khỏi ngôi nhà sàn gỗ với cơ man các con vật. Cũng nghĩ, chỉ dưới mái nhà mình, mới có bình yên. Lại càng tin, là anh sẽ luôn làm những điều anh muốn, rồi đến một ngày, anh là người đi nước ngoài và sẽ yêu say mê phụ nữ.  Các  chị  ấy  đủ  loại  màu  da,  mái  tóc  với  những  biệt  danh riêng.

Tại  sao  phải  đi  rất  xa  như  thế  này,  nằm  dài  trên  một  bãi  cỏ  vào  một  ngày  cuối  Thu,  sau  bao  nhiêu  năm,  tôi  mới nghĩ về anh mình, cách mà anh ứng xử với cuộc đời này. Và người đi ra khỏi nhà lại là tôi.

Tôi  muốn  nằm  thế  này  thật  lâu,  dù  da  mặt  tê  buốt  khi bóng tối bao trùm. Tôi thích nghe tiếng bồ câu kêu. Tiếng chuông xe đạp của mấy thanh niên phóng ào qua một  ngã  tư.  Tiếng  những  chiếc  lá  cây  khô  bắt  đầu  rụng  khi một mùa đang qua.

Malmo 2008

« Lùi
Tiến »