“Đúng vậy, trước khi lên đảo tôi từng tranh cãi với anh ta, nhưng không có nghĩa là tôi giết anh ta. Hơn nữa...” Người đàn ông trung niên đeo kính hơi mập dừng lại giây lát rồi nhấn mạnh. “Hơn nữa tối qua không chỉ có tôi hành động một mình đúng không? Mà dù không hành động một mình, cũng chẳng thể loại trừ khả năng có hai người hợp mưu giết anh ta.” Ông ta có vẻ đang ở ranh giới của sự thịnh nộ, huyết quản hằn rõ trên cổ và trán, tay áo sơ mi xắn cao như thể sắp đánh người.
Ngồi cách ông ta không xa là một cô gái trẻ tóc ngắn, da ngăm, ghê gớm phản bác: “Đúng, nhưng lúc đầu tôi đã nói rồi, tôi không đoán bừa vô căn cứ! Tôi cảm thấy từ góc độ suy luận, điều đầu tiên cần chú ý là động cơ. Đó mới là vấn đề gốc rễ. Ông có thể nói ai đó trong số những người ở đây giết anh ta, nhưng động cơ là gì?”
Người đàn ông trung niên đeo kính gần như gào thét: “Cô bị lậm tiểu thuyết và phim trinh thám hả? Tôi tranh cãi với anh ta mọi người đều thấy, vậy mà tôi còn ngu ngốc tới mức dùng thủ đoạn thấp kém đó để trả thù ư? Thế khác nào tôi tự tuyên bố mình là kẻ đáng nghi nhất? Nếu vậy tôi có thể nghĩ rằng có người bất mãn với tôi nên giết anh ta, sau đó cố tình lợi dụng mâu thuẫn giữa tôi và anh ta để đổ tội cho tôi!”
Cô gái tóc ngắn nóng nảy hất hất tóc, nở nụ cười châm biếm: “Đổ tội hay không tôi không biết, biết đâu có người ngu ngốc như vậy thì sao?”
Người đàn ông trung niên đeo kính nhảy dựng lên: “Mẹ kiếp, tao đập vỡ mồm mày!”
Gần như tất cả mọi người đều lập tức đứng dậy ngăn người đàn ông trung niên lại, cô gái tóc ngắn cũng đứng dậy tức giận nhìn người đàn ông trung niên, ra vẻ sẵn sàng đánh nhau một trận.
Tôi kinh ngạc há hốc miệng, bối rối nhìn mọi thứ trước mắt. Hai mươi phút trước, ngoài vợ chưa cưới Trương Lam bên cạnh, tôi chưa từng gặp bất cứ ai trong số họ. Thực sự đến giờ tôi vẫn chưa nhớ hết tên họ, chứ đừng nói là hiểu được những người này đang làm gì. Nhưng tôi biết mấy ngày trước họ đã tới đây - một hòn đảo hoang vắng bóng người vốn bị quên tên từ lâu. Hôm qua, một người trong số họ đã bị giết, không biết bị ai giết, đây chính là nguyên nhân khiến họ tranh cãi nhau. Xác người bị hại đang để ở căn phòng bên cạnh.
Nếu tôi nhớ không nhầm, hình như người đàn ông trung niên đeo kính hơi mập kia tên là La Chiêm. Khẩu khí, cử chỉ của ông ta giống công chức nhà nước; còn cô gái tóc ngắn đen gầy đang tranh cãi gay gắt với ông ta tên Lý Hiểu Lượng, nghe khẩu âm chắc là người miền Bắc; ông già đầu trọc hơn năm mươi tuổi đang đứng giữa can ngăn hai người họ kia tự xưng là Hoàng Hải, lớn tuổi nhất trong số những người này. Tuy ông ta lúc nào cũng tỏ vẻ nửa cười nửa không nhưng tôi luôn cảm thấy cặp mắt tam giác đó nhìn rất khó chịu... Còn nữa, khẩu âm khó hiểu của ông ta khiến người khác không biết ông ta là người ở đâu, thật kỳ lạ, rõ ràng có khẩu âm đặc trưng, nhưng lại chẳng nhận biết được xuất phát từ địa phương nào, đến mức tôi cứ có cảm giác ông ta đang cố ý che giấu một khẩu âm nào đó... Hoàng Hải là người ở đâu, e rằng chỉ ông ta mới biết. Tất nhiên đó là tôi đoán bừa chứ bốn nam một nữ còn lại tôi hoàn toàn chẳng nhớ nổi tên.
Nhìn họ tranh cãi nhau, tôi chợt có cảm giác đang xuyên không, như thể tất cả những chuyện này đều không có thật mà là tình tiết trong một bộ phim, một cuốn tiểu thuyết hay một trò chơi nào đó. Tóm lại là cách tôi rất xa, còn hơn cả chiều dài của một dải ngân hà - chuyện này không liên quan tới tôi.
Về cái xác, tôi không muốn, cũng chẳng có hứng thú nhìn chứ đừng nói là suy đoán hung thủ - tôi rất ghét các bộ phim hoặc tiểu thuyết trinh thám mà lần lượt từng người một chết trong không gian đóng kín. Nói thật, tôi cảm thấy tình tiết của những bộ phim, tiểu thuyết đó dở chết đi được.
Tôi rời mắt khỏi đám người đang tranh cãi, ngẩng đầu lên nhìn cái nơi cũ kỹ rách nát này: Đây là chính điện của một nhà thờ.
“Lên đây, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy những điều phải xảy ra sau đó.”
Sách Khải Huyền
Bất an
Gần bờ biển Trung Quốc rải rác một số hòn đảo nhỏ. Những hòn đảo này từng có người ở, nhưng vì giao thông không thuận tiện nên đa số dần dần hoang phế, thậm chí có những hòn đảo đã bị người đời quên tên.
Tôi đang ở trên một hòn đảo bị quên tên như vậy. Tất nhiên không chỉ một mình tôi mà còn có mười người tôi vừa nhắc tới. Nói chính xác là chín người sống, một người chết!
Khoảng một tiếng trước, tôi rời bến cảng hoang tàn, men theo con đường nhỏ vẫn có thể lờ mờ nhận ra trước đây từng là một con đường, xuyên qua cánh rừng rậm rạp, tôi nhìn thấy nhà thờ này. Không chỉ nhờ mái nhọn cao vút đã đổ nát của tháp chuông nhà thờ, mà còn bởi sự tồn tại của nhà thờ rất không hài hòa với xung quanh - trên hòn đảo nhỏ hoang vu đã bị quên tên, sâu trong rừng, cạnh làng chài bỏ hoang gần như bị phủ kín bởi cỏ dại và cây bụi lại có một nhà thờ theo phong cách Tây Dương! Lẽ nào chưa đủ nổi bật? Ở vùng duyên hải Đông Nam, cảnh tượng này có lẽ không kỳ lạ chút nào, tôi biết mấy trăm năm trước, có không ít giáo sĩ phương Tây từng đáp thuyền nhà buôn tới nơi này, xây dựng rất nhiều kiến trúc mái nhọn như vậy. Nhưng đối với người sinh ra và lớn lên ở miền Bắc như tôi, sự xuất hiện của nhà thờ này thực sự không thể tưởng tượng nổi, nó quá nổi bật, kỳ quái, như thể cắm một cây nến sinh nhật vào giữa lồng bánh bao bốc khói nghi ngút vậy. Nhưng cũng nhờ mái nhọn bắt mắt của nhà thờ mà tôi chẳng cần ai chỉ dẫn vẫn có thể đi thẳng về phía đó, không nhầm lẫn chút nào.
Xuyên qua làng chài hoang phế, tôi thấy trong làng có rất nhiều nhà tranh rách nát. Đa số chắc đã đổ sập từ lâu, chỉ còn lại những bức tường đổ nát mọc đầy cỏ dại, phủ dày bụi bặm. Mấy ngôi nhà đổ nát còn sót lại cũng chỉ miễn cưỡng đứng đó, như thể sẽ sập xuống bất cứ lúc nào. So với chúng, nhà thờ xây bằng đá xám đen kia, dù bốn bề thông gió, đổ nát cũ kỹ, vẫn là lựa chọn tốt nhất, ít nhất nhìn nó cũng không đến nỗi sẽ đổ sập trong thời gian ngắn. Nếu tôi không tìm nhầm chỗ, rõ ràng chỉ nơi đó mới có thể miễn cưỡng trú chân.
Quả nhiên, vừa bước vào chính điện nhà thờ, tôi nhìn thấy đám người này, trong đó có cả Trương Lam, người đã gọi điện thoại cầu cứu tôi - cô ấy là vợ chưa cưới của tôi, còn tôi đến đây vì cô ấy.
Tiếng tranh cãi nhỏ dần, tôi sực tỉnh, Lý Hiểu Lượng và La Chiêm đã bình tĩnh lại, còn ông già tên Hoàng Hải đang nói gì đó.
“... Giờ chúng ta tranh cãi thế này cũng chẳng ý nghĩa gì. Hiểu Lượng, nếu có người cũng suy đoán rồi chỉ trích cô như vậy, cô sẽ không vui đâu.” Hoàng Hải lại quay sang nhìn La Chiêm: “Lý Hiểu Lượng chỉ nói vậy thôi, anh cũng nên hiểu mới phải. Giờ tâm trạng mọi người đều bất ổn, cô ấy còn nhỏ, lại là con gái, anh đừng để bụng... Dù sao chuyện này cũng đâu có quan trọng. Tôi thấy giờ quan trọng nhất vẫn là tìm được thứ đó, chúng ta đã ở đây mấy ngày rồi, không ai tìm được bất cứ manh mối gì à? Hay chúng ta chia sẻ đi?” Nói rồi Hoàng Hải lại trưng nụ cười giả tạo ra, nhìn những người khác.
Ai cũng im lặng.
Tôi cảm thấy những lời Hoàng Hải nói hình như có gì đó không ổn, khiến người ta rất khó chịu, nhưng nhất thời tôi chẳng nghĩ ra được là vấn đề gì, chỉ mơ hồ cảm thấy vậy thôi.
Từ khi gặp những người này, tôi cứ cảm thấy giữa họ bao phủ một bầu không khí rất kỳ quái, thứ không khí khiến người ta không rét mà run. Tôi không thể nói rõ là cảm giác như thế nào, nhưng nó thực sự tồn tại, tôi cảm nhận được. Ý tôi là tôi thực sự cảm nhận được! Nếu giờ nhắm mắt lại, tôi không nghĩ mình đang ở trên một hòn đảo nhỏ vùng cận nhiệt đới, mà là trong một khu rừng rậm đầy rắn độc và mãnh thú. Cảm giác nguy hiểm như hình với bóng luôn bủa vây tôi. Tôi chẳng hiểu tại sao mình lại có cảm giác này.
“Anh có mang đồ ăn tới không?” Trương Lam đứng cạnh tôi, nãy giờ vẫn giữ im lặng huých huých vào người tôi, khẽ hỏi.
Tôi bừng tỉnh, vội vàng lục tìm gói bánh mì cắt lát trong ba lô leo núi đeo sau lưng, đưa cô ấy, cô ấy vội xé túi bánh ra, ăn ngấu ăn nghiến. Tôi quen cô ấy đã gần hai năm, chưa bao giờ thấy cô ấy ăn uống như vậy, cứ như bị bỏ đói mấy ngày rồi.
Nhìn cô ấy ăn tôi rất thương, vội lấy đồ ăn trong ba lô ra đưa cô ấy, Trương Lam im lặng chọn vài thứ sau đó ra hiệu ngăn tôi tiếp tục lấy đồ ăn ra.
“Có phải cho những người khác không?” Tôi khẽ hỏi.
Cô ấy lắc lắc đầu, chỉ chỉ vào miệng mình, miệng cô ấy nhét đầy bánh mì.
Tôi cầm chai nước suối, do dự một hồi rồi vẫn quyết định hỏi: “Có chuyện gì vậy?”
Cô ấy không nói gì, dùng ánh mắt trả lời: “Em sẽ kể anh biết nhưng không phải bây giờ.” Lúc này phía sau có người lên tiếng.
“Mấy hôm nay chúng ta đã lục tung nhà thờ này lên rồi, tôi tin cho đến ngày hôm qua, mọi người vẫn chưa có bất cứ phát hiện gì, nếu không người tìm được chắc chắn đã đi rồi. Nhưng hôm qua có người bị giết, liệu có manh mối gì ở đây không? Biết đâu ý kiến của Lý Hiểu Lượng lại đúng, tìm được hung thủ sẽ tìm được manh mối.”
Một anh chàng đứng trong góc đang nói, chắc chỉ tầm hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, cao gầy. Cái quần bò màu lam và áo sơ mi kẻ caro của anh ta không biết vì sao lại rách bươm như thể vừa bò qua một bụi cây. Trên mặt đất phía sau lưng anh ta có một cái ba lô to cũng rách nát không kém.
“Chưa chắc.” La Chiêm đẩy gọng kính, chậm rãi nói. “Nếu có manh mối gì chắc sáng nay đã hai năm rõ mười rồi, nhưng đến giờ vẫn chưa ai rời khỏi đây, chứng tỏ chuyện có người bị giết tối qua không liên quan gì tới thứ đó, có thể vì nguyên nhân khác.”
“Ví dụ như từng tranh cãi chẳng hạn?” Lý Hiểu Lượng đứng đằng xa giễu cợt.
“Hiểu Lượng! Cô...” Hoàng Hải dùng giọng điệu bề trên khoa trương chặn sự thách thức lại.
La Chiêm lạnh lùng nhìn Lý Hiểu Lượng, chẳng buồn đôi co: “Nghĩ kỹ thì, nếu có người tìm được, liệu người đó sẽ ở lại đây chứ? Nếu là tôi, chắc chắn tôi đã bỏ đi rồi. Mọi người đều đến đây vì thứ đó, tìm được rồi mà còn ở lại, thêm một ngày là thêm khả năng bị cướp mất. Bởi vậy nếu giết người để lấy được thứ đó thì giờ hung thủ tuyệt đối sẽ chẳng ngồi đây thảo luận vấn đề đâu.”
Anh chàng thanh niên cao gầy áo quần rách nát uể oải ngồi tựa vào ba lô: “Đúng vậy, nhưng ý tôi không phải hung thủ đã tìm được thứ đó, mà là đã tìm được manh mối thôi. Thế nên hung thủ mới phải tiếp tục ở lại đây, đúng không?” Nói rồi anh ta nhìn về phía cô gái xinh đẹp ngồi cách mình không xa.
“Có thể... tôi không biết...” Cô gái xinh đẹp đó đáp lời giọng uể oải. Có vẻ cô ta vốn sống ở thành phố, nên dù về nơi hoang vu không một bóng người như này cô ta vẫn trang điểm nhẹ theo thói quen, gương mặt còn cố tỏ ra chừng mực ở một mức độ nào đó. “... Trong chúng ta có hung thủ giết người, nghe chẳng an toàn chút nào. Theo tôi tốt nhất phải nhanh chóng tìm ra hung thủ, nếu không chắc tôi chẳng ở lại đây được nữa mất.” Nói rồi, để thể hiện sự bất an, cô ta dịch dịch tờ báo lót dưới mông.
Mọi người đưa mắt nhìn nhau rồi lại chìm vào yên lặng lần nữa.
Tôi không hiểu những điều họ nói, bèn nhìn Trương Lam bằng ánh mắt dò hỏi, nhưng hình như cô ấy không hiểu ý tôi, còn khẽ hỏi lại: “Sao thế?”
“Sao mọi người không báo cảnh sát?” Tôi hỏi.
Trương Lam nhìn tôi chẳng nói gì.
Không khí đột nhiên trở nên khác thường, tôi ngẩng lên, tất cả mọi người đều đang nhìn tôi chằm chằm. Nhìn vẻ mặt họ, rõ ràng không ai ủng hộ lời đề nghị của tôi, dẫu họ đều chẳng nói gì, ánh mắt lạnh lùng vẫn thể hiện: Họ sẽ ngăn tôi báo cảnh sát.
Tôi sững người một lúc lâu, cảm giác lạnh lẽo từ từ bò lên sống lưng, tôi hiểu ra điều người tên Hoàng Hải nói lúc nãy: “...Dù sao chuyện này cũng không quan trọng...”
Có người chết không rõ nguyên nhân mà còn chẳng quan trọng, vậy cái gì mới quan trọng?
Hai ngày trước
Ánh mặt trời buổi trưa dịu dàng chiếu vào cửa sổ máy bay, tầng mây ngoài cửa sổ phản chiếu một tông màu ấm nhờ nhờ, đa số hành khách đều đang ngủ gà ngủ gật, ngoài tiếng động cơ ù ù khe khẽ, cả khoang máy bay rất yên tĩnh.
Tuy đêm qua ngủ không ngon nhưng lúc này tôi chẳng thấy buồn ngủ chút nào, lo lắng và bất an luôn bủa vây khiến tôi không thể bình tĩnh lại được.
Có lẽ tôi đã gây ra tiếng động quá lớn, hành khách ngồi bên cạnh liếc nhìn tôi vẻ hơi bất mãn rồi xoay người về phía bên kia. Tôi do dự một chút rồi từ bỏ ý định xin lỗi, khẽ thở dài, tựa đầu vào lưng ghế, nhưng đầu óc vẫn thấy rối bời.
Mấy ngày trước, Trương Lam, vợ chưa cưới của tôi thông báo cô ấy phải đi công tác, không chờ tôi ra sân bay tiễn cô ấy đã đi luôn rồi. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ, cô ấy là kiểu người như vậy. Từ hồi quen nhau đến giờ đã gần hai năm, cô ấy lúc nào cũng thích gì làm nấy.
Ngày xưa khi bạn cùng lớp giới thiệu cô ấy với tôi trong buổi gặp gỡ bạn bè, nói thực lòng tôi chẳng hy vọng gì nhiều, dù đã thích cô ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên. Kiểu đàn ông như tôi, tướng mạo bình bình, gia cảnh không khá giả, thân thế không hiển hách, lại chẳng có tài hoa gì, đã vậy còn ít nói, thực sự rất khó thu hút phụ nữ. Tôi không thể hiểu được tại sao mọi người chỉ thảo luận về vấn đề “gái ế”, trong khi trên thực tế theo tôi biết, số lượng “trai ế” như tôi vượt xa “gái ế’. Tuy ngoại hình Trương Lam không thể gọi là đẹp ấn tượng, nhưng ít nhất cũng cao hơn trung bình. Cô ấy bẩm sinh có mái tóc màu nâu sẫm, màu sắc quyến rũ đó là mơ ước của rất nhiều cô gái, thậm chí họ còn không tiếc tiền tới cửa hàng làm tóc nhuộm cho ra màu như thế. Nhưng dù các thợ làm tóc có cố gắng mấy, tóc nhuộm xong vẫn chẳng hề đẹp chút nào, nhìn còn rất giả trân, không thể sánh được với màu tóc tự nhiên của Trương Lam. Mắt cô ấy rất sáng nên trông cô ấy vô cùng sống động. Nhưng bờ môi mím chặt phía dưới cái mũi xinh xắn lại có vẻ xa cách, thêm vào đó là chiếc cằm nhọn khiến cô ấy thoạt nhìn rất giống kiểu phụ nữ nghiêm khắc. Nhưng kỳ diệu là, cá tính và khí chất toát lên từ động tác, biểu cảm của cô ấy vừa khiến người ta chùn bước, lại vừa làm cô ấy càng hấp dẫn hơn. Tôi đoán xung quanh cô ấy không thiếu đàn ông.
Bất ngờ là, theo thời gian, tôi và cô ấy lại trở thành người yêu của nhau. Đến một ngày kia, tôi mượn hơi men nửa đùa nửa thật cầu hôn cô ấy, cô ấy khẽ cười một cái rồi gật đầu đồng ý. Chỉ có thể dùng cụm từ “vừa mừng vừa lo” để miêu tả tâm trạng tôi lúc đó. Sau khi men rượu tan, tôi hiểu rằng, dù chúng tôi lấy nhau cũng chẳng bao giờ có chuyện cô ấy e ấp dựa dẫm vào tôi hay tôi bảo sao cô ấy nghe vậy, vì cô ấy chưa bao giờ thể hiện mặt dịu dàng của mình, ít nhất là tôi chưa từng thấy. Hơn nữa, qua hai năm tiếp xúc với cô ấy, tôi nghĩ sau này cũng chẳng có khả năng đó. Nhưng không sao, tôi hiểu một người sẽ phải trả giá nếu muốn có được thứ mình yêu thích. Bởi vậy tôi chọn nhường nhịn cá tính nổi bật của cô ấy mà chẳng một lời ca thán.
Hai năm qua, những việc như đi công tác, về cơ bản cô ấy chỉ nói với tôi một tiếng là đi luôn. Lúc nào cũng như vậy, tôi đã quen rồi. Nhưng tôi cảm thấy chuyến công tác này của cô ấy hình như có gì đó kỳ lạ. Tôi biết nghe hơi hoang đường, nhưng tôi thực sự cảm thấy có gì đó không bình thường. Hơn nữa, sau khi cô ấy đi, tôi không thể gọi được điện thoại cho cô ấy, lúc nào cũng “nằm ngoài vùng phủ sóng”, gửi tin nhắn cô ấy chẳng trả lời... Phải thừa nhận điều đó khiến tôi thấy hơi bất an và bắt đầu nghĩ ngợi lung tung.
Chiều hôm qua, tôi còn đang băn khoăn có nên hỏi thăm đồng nghiệp của cô ấy không thì cô ấy gọi điện. Cô ấy phớt lờ những câu gặng hỏi của tôi, chỉ vội nói với tôi ở đầu dây bên kia: “Lên đường càng nhanh càng tốt, tới tìm em, em gặp chút rắc rối.” Cô ấy cho tôi một loạt địa danh hoàn toàn xa lạ, đó là lộ trình cô ấy muốn tôi đi tìm cô ấy. Tôi luống cuống tìm sổ ghi lại, cô ấy dặn thêm: “Đúng rồi, Chu Khởi Dương, anh phải mang theo đồ ăn và nước uống. Đừng mang loại quá phiền phức, mang loại đóng gói ăn liền ấy, mang nhiều vào, phải bảo đảm hai chúng ta ăn được năm, sáu ngày, nước cũng thế. Nếu có thể thì tốt nhất mang theo đồ dã ngoại chống nước và chống rét, đừng mang túi ngủ, vải chống nước cũng được, em không tiện... anh đến nhanh lên... em sẽ... họ... quên mất... đèn pin...” Sau một loạt tiếng ồn, không đợi tôi gặng hỏi tiếp, điện thoại đã bị ngắt.
Tôi còn nhớ lúc đó tâm trạng mình hơi mất kiểm soát, tôi điên cuồng gọi lại rất nhiều lần, nhưng đầu dây bên kia chỉ phản hồi “nằm ngoài vùng phủ sóng”. Sững sờ cầm điện thoại rất lâu, một cảm giác sợ hãi lạ lùng trào dâng như nước vỡ đê dù tôi không hề biết cô ấy đã xảy ra chuyện gì.
Sau vài phút hỗn loạn và mù quáng, tôi tỉnh táo lại, lập tức tìm kiếm chuỗi địa danh trên mạng. Khoảng nửa tiếng sau, theo lộ trình và địa danh Trương Lam cung cấp, tôi tìm thấy nơi cô ấy muốn tôi đến - một hòn đảo nhỏ ngoài bờ biển phía Nam Trung Quốc.
Có điều, trên bản đồ, hòn đảo đó đến một cái tên cũng chẳng có, chỉ có một dãy số hiệu lạnh lùng.
Máy bay khẽ rung lắc nhẹ kéo suy nghĩ của tôi quay trở lại, tầng mây bất biến ngoài cửa sổ khiến người ta cảm thấy bức bối sốt ruột, thế là dưới ánh nhìn đầy trách cứ của hành khách bên cạnh, tôi đứng dậy đi vào nhà vệ sinh ở đầu kia khoang máy bay.
Đóng cửa lại, tôi đứng trước bồn rửa tay, chống hai tay lên cạnh bồn, nhìn mình trong gương.
Người trong gương khoảng ba mươi tuổi, gương mặt hơi tái xanh, đầu tóc hơi rối, ánh mắt đầy mệt mỏi... sống mũi được coi là thẳng, còn đôi môi mỏng thì mím chặt như một đứa trẻ bướng bỉnh.
Tôi mệt mỏi giơ tay ra trước mặt, qua những kẽ ngón tay, tôi nhìn thấy người đàn ông trong gương cũng dùng tay che nửa gương mặt, quan sát mình qua những kẽ ngón tay. Giằng co như vậy một lúc, chúng tôi đồng thời từ từ hạ tay xuống. Một cách vô ý, ngón áp út và ngón giữa chạm vào má trái, tôi giật mình bừng tỉnh, má tôi co giật như bị điện giật. Gã trong gương hình như lộ ra nụ cười giễu cợt: “Chu Khởi Dương, đến tay mình mày cũng không điều khiển được à?”
Chuyến bay hạ cánh, tôi không có thời gian cảm nhận cái gọi là “cảm giác của một thành phố xa lạ” đã vội lao ra khỏi sân bay, vào trung tâm thành phố, tìm kiếm bằng điện thoại trong thời gian ngắn nhất, sau đó chạy đôn chạy đáo mua sắm một lượng lớn nước và đồ ăn, đồ dã ngoại chống nước... Tất nhiên, trước đó còn phải đi mua một cái ba lô leo núi có thể nhét vừa tất cả mọi thứ.
Trước cửa siêu thị, lần lượt nhét cả một xe đẩy hàng đầy đồ ăn và nước đóng chai vào ba lô, tôi hoàn toàn chẳng bận tâm đến ánh mắt hiếu kỳ của những người xung quanh, chỉ lo Trương Lam đã xảy ra chuyện gì, liệu cô ấy có thể chờ đến lúc tôi tới không. Nghĩ đến điều này, tôi sinh ra một cảm giác kỳ lạ, cảm giác tôi chưa từng có trong đời - cảm giác trách nhiệm. Sự xuất hiện của tôi sẽ là hy vọng sống còn của một người khác, dù tôi không hề biết đã xảy ra chuyện gì, cũng chẳng biết nó có giống như tôi nghĩ thật không.
Khi màn đêm buông xuống, cuối cùng tôi cũng bắt kịp chuyến xe đường dài ra ngoại ô, mệt mỏi rã rời ngồi ngủ gà ngủ gật trên dãy ghế phía sau, chiều hôm nay thực sự quá mệt mỏi. Rất khó kiếm dụng cụ dã ngoại, tôi gần như phải chạy khắp mọi ngóc ngách của thành phố xa lạ này, tôi cầm bản danh sách bôn ba khắp nơi như một kẻ điên, liên tục nhét đồ vào cái ba lô leo núi to kinh người, cho đến khi nhét đầy nó, cho đến khi tôi gần như không đeo nổi nữa... sau đó tôi leo lên chuyến xe đường dài ra ngoại ô này.
Theo nhịp xe rung lắc, tôi miễn cưỡng mở mắt ra, mông lung quan sát cảnh sắc ngoài cửa sổ, có vẻ đang trên đường quốc lộ ngoài thành phố... Nếu không nhớ nhầm lộ trình, ngày mai thứ khiến tôi khổ sở sẽ là giao thông. Tôi đã tra cứu rồi, gần như không có đường thông tới hòn đảo đã bị bỏ hoang nhiều năm đó, mà dù tôi có tới được bờ biển gần hòn đảo đó nhất, e rằng đến bến thuyền cũng chẳng có. Nếu tư liệu tra cứu trên mạng không sai, rất có thể tôi cần tới gần bờ biển lệch xuống phía Nam mười mấy cây số để tìm vài ngôi làng, thuê người hoặc thuyền thì mới ra đảo được... Nghĩ vậy, tôi thấy hơi bực bội, không hiểu vì sao Trương Lam phải đến đó, cũng chẳng đoán nổi đã xảy ra chuyện gì.
Tôi nghĩ tôi sẽ biết nhanh thôi.
Cái bóng này hình như là Trương Lam, cô ấy xoay lưng về phía tôi, đứng cuối bến thuyền phía xa, xa hơn nữa là một khoảng tối tăm mênh mang, ngoài đường chân trời mờ nhạt, không nhìn thấy bầu trời, chỉ có sương mù vô tận. Tôi vừa chạy về phía cô ấy vừa lớn tiếng gọi tên. Nhưng dù tôi có chạy thế nào, có gọi ra sao, khoảng cách vẫn cứ xa như thế, hình như cô ấy không nghe thấy tiếng tôi, vẫn xoay lưng về phía tôi nhìn gì đó ở đằng xa. Một trận gió cuồng bạo rú rít thốc tới từ sau lưng tôi, xen lẫn âm thanh như tiếng gào khóc, lao đến cuối cây cầu gãy với tốc độ kinh người, trong nháy mắt đã xé thân hình mỏng manh như một tờ giấy của cô ấy thành những mảnh vụn. Trên bến thuyền hoàn toàn trống trải... nhưng tôi có thể ngửi thấy mùi máu tanh trong không khí...
Chẳng biết bao lâu sau, cuối cùng tôi cũng chạy tới được bến thuyền, nhưng ở đây không lưu lại bất cứ dấu vết gì. Tôi ngơ ngác nhìn quanh, phát hiện nước biển dưới bến thuyền không phải màu xanh nước biển, mà là màu đen nhờ nhờ. Dưới mặt nước có rất nhiều gương mặt thoáng ẩn thoáng hiện, mỗi gương mặt hình như đều là người tôi quen biết, nhưng tôi lại không phân biệt được họ là ai. Lúc này phía sau vọng lại tiếng gọi của ai đó. Tôi quay đầu lại, một cái bóng mông lung chạy về phía tôi từ đằng xa. Ngay sau đó, một cơn lốc màu xám bất ngờ xuất hiện sau lưng người đó, nhanh chóng quét qua anh ta xoáy về phía tôi... Nỗi sợ hãi to lớn trong nháy mắt đã đóng đinh tôi tại chỗ, không thể cử động được.
Giữa tăm tối tôi nếm được vị máu tanh trong miệng mình...
Chân tay co giật mạnh khiến tôi giật mình tỉnh giấc, tôi ngồi bật dậy, hoảng hốt nhìn quanh. Ánh nắng sớm yếu ớt ngoài cửa sổ chiếu những vệt lốm đốm và các vết bẩn đủ mọi hình dạng kỳ quái lên tường, khiến cả bức tường như một bức tranh trừu tượng quái dị. Phía bên kia bức tường mỏng dính vọng lại tiếng ngáy của những vị khách trọ khác, tiếng giường gỗ cọt kẹt lúc trở mình, trong không khí còn có mùi mốc dai dẳng... Căn phòng tối tăm và cũ kỹ này của một nhà trọ nhỏ cũ nát - Tôi nhớ ra rồi, đây là nơi tôi ở lại sau khi xuống xe lúc nửa đêm.
Tôi thở phào, lau mồ hôi trên trán, cố gắng điều hòa hơi thở và nhịp tim của mình, rồi nằm phịch xuống cái gối cũng tỏa ra mùi mốc.
Có lẽ hôm qua quá mệt, nằm xuống chưa được vài phút, ý thức của tôi lại trở nên mơ hồ lần nữa, trong mông lung tôi nghĩ tới một vấn đề: Trương Lam muốn tôi mang theo nhiều thức ăn, nước uống như vậy làm gì? Lẽ nào không phải muốn tôi cứu cô ấy, mà là muốn tôi ở lại cùng cô ấy hoàn thành việc gì đó? Nếu vậy, đó là việc gì?
Hai ngày sau.
Tôi ngồi trên thùng xe phía sau của một cái xe chạy bằng dầu diezen gần như sắp rời ra thành từng mảnh, không ngừng xóc lên xóc xuống theo con đường đất gập ghềnh, còn những thứ khác trên thùng xe - một số ống và thùng kim loại cũng phát ra tiếng leng ca leng keng cùng tần số, nghe hơi buồn cười.
Đã hai ngày trôi qua kể từ khi xuất phát, tôi có cảm giác sức cùng lực kiệt. Cũng chính lúc này tôi mới hiểu ra, một mình du lịch đến một nơi xa xôi chẳng hề lãng mạn như trong mấy cuốn tiểu thuyết chết tiệt mà rất gian khổ.
Chỉ trong hơn một ngày ngắn ngủi, tôi đã đổi đủ các phương tiện giao thông lớn nhỏ với mọi loại hình dáng quái dị khác nhau, thậm chí còn đi bộ hơn hai tiếng đường núi... Nhưng điều thực sự khiến tôi cảm thấy bất an là: Trong thời đại giao thông đã phát triển như hiện nay, tôi lại mất tới hai ngày trời vẫn chưa đến được bên cạnh cô ấy! Thậm chí tôi vẫn còn ở trong nước! Cứ có thời gian tôi lại gọi điện cho cô ấy, nhưng chẳng bao giờ gọi được, hình như cô ấy luôn nằm ngoài vùng phủ sóng... Nơi tôi phải đến rốt cuộc là nơi quỷ quái nào vậy?
Tôi ngồi nghĩ ngợi linh tinh trong thùng xe xóc điên đảo, gió thoáng mang tới mùi tanh của biển. Nhòm qua nóc xe tôi thấy đằng xa có một khu nhà thấp bé nằm rải rác, hẳn đó chính là ngôi làng tôi phải tìm - làng Mang Cát. Nếu thông tin dọc đường không sai, chỉ có dân làng này mới biết cách đến được hòn đảo nhỏ vô danh tôi muốn tới. Vì một bộ phận dân làng Mang Cát chính là hậu duệ của những ngư dân đã di cư từ hòn đảo đó lên đất liền năm xưa. À, còn nữa, hòn đảo nhỏ đã bị mọi người quên tên từ lâu đó tên là Hắc Thủy Châu.
Khi tôi xuất hiện ở làng, quần áo tôi mặc thu hút ánh nhìn của rất nhiều dân làng. Nói chính xác là cái ba lô khổng lồ của tôi thu hút ánh nhìn của rất nhiều dân làng. Đến mức còn chưa đợi tôi lên tiếng đã có người hỏi tôi tới đây làm gì bằng thứ tiếng phổ thông ngọng nghịu. Sau khi trao đổi ngắn gọn, tôi nhận được một thông tin đáng mừng: Mấy ngày trước có một số người tự xưng là đội khảo sát khoa học hải dương cũng tới đây, còn thuê thuyền ra một hòn đảo nào đó. Nhưng không ai biết rõ là ra đảo nào. Tôi mất một thời gian mới biết được ngư dân đưa họ đi thuê thuyền, thế là tôi theo hướng dân làng chỉ, men ruộng muối trắng lóa mắt đi một đoạn rất xa, tìm được căn nhà sơ sài như một cái lán.
Tôi mất một lúc để nói rõ ý định của mình, người đàn ông trung niên đen gầy cẩn thận quan sát tôi, rồi bảo: Có thể thuê thuyền, phải đặt cọc, cả tiền thuê mỗi ngày nữa, không mặc cả. Nếu được sẽ đưa tôi đi tìm thuyền.
Nghe khẩu khí tôi đoán ông ta không muốn thương lượng với tôi, không có đất để thương lượng. Lúc sắp tới làng Mang Cát, tôi được biết chỉ có dân làng Mang Cát mới biết hòn đảo đó, nghĩa là tôi chẳng còn lựa chọn nào khác.
Sau khi xác nhận xong, người đàn ông trung niên hài lòng dẫn tôi tới một cầu cảng bằng gỗ nổi sơ sài cách đó không xa, lên chiếc thuyền đánh cá nhỏ nồng nặc mùi dầu diezen rồi chạy ra biển.
“Ừm... ông đưa tôi tới Hắc Thủy Châu à?” Tôi bất an liếm liếm môi.
Ông ta nheo mắt nhìn phía trước, chẳng buồn quay đầu lại, nói bằng giọng phổ thông cứng nhắc: “Đưa cậu đi thuê thuyền.” Dừng lại giây lát ông ta chủ động hỏi tôi: “Các cậu đều tới khảo sát thủy lưu và khí hậu à?”
“Gì cơ?” Nhất thời tôi không hiểu ý ông ta.
Ông ta quay lại quan sát tôi thật kỹ lần nữa: “Không phải cậu đi cùng mấy người hôm trước à?”
Tôi bảo với ông ta tôi tới đưa đồ, những việc khác tôi chẳng biết nhiều. Người đàn ông trung niên đen gầy “ờ” một tiếng rồi không hỏi gì thêm, có thể thấy ông ta không hề tin lời tôi, tôi cũng chẳng mong ông ta tin.
Thuyền đi được nửa tiếng, phía trước lờ mờ xuất hiện một hòn đảo rất nhỏ. Chạy về phía hòn đảo đó lại mất nửa tiếng đồng hồ nữa. Tôi nhớ ra trong một cuốn sách từng viết: Ở khu vực rộng lớn trống trải, dù có thể nhìn thấy kiến trúc hoặc một cột mốc đằng xa nhưng không có nghĩa là bạn sẽ nhanh chóng đến được đó. Khi không có vật tham chiếu, mục tiêu bạn nhìn thấy rất có thể cách bạn mười mấy, thậm chí mấy chục cây số.
Nói một cách chính xác, đây có lẽ là đảo đá - diện tích lớn nhất cũng chỉ hai kilomet vuông. Sau khi chạy quanh đảo đá nửa vòng, thuyền dừng lại cạnh một bến thuyền gỗ, ở đó còn buộc mấy chiếc thuyền nhỏ hơn bốc mùi dầu diezen nồng nặc hơn. Tôi đoán đó là thuyền tam bản loại nhỏ mà các ngư dân thường nói tới. Người đàn ông trung niên đỗ thuyền xong bảo tôi chờ trên bến thuyền một lúc (nếu đây cũng được coi là bến thuyền) rồi đi về phía cái lán nhỏ dựng tạm bằng gỗ thô, vải nhựa, vải chống nước ở đằng xa. Tôi hoài nghi quan sát những chiếc thuyền tam bản, không cần bàn cãi làm gì, tiền đặt cọc tôi trả đủ sức mua hai chiếc “thuyền” loại này.
Một lúc sau, người đàn ông trung niên dẫn một người đàn ông cũng đen gầy như ông ta tới. Có vẻ hai người họ là anh em, rất giống nhau, hoặc cũng có thể là ảo giác, chắc vì da họ đều rất đen chăng, tôi cảm thấy ngư dân trông đều giống nhau, gặp được một người trong số họ như đã gặp những người khác rồi.
Tôi mất một lúc lâu mới học được cách sử dụng “thuyền độc mộc” dưới sự chỉ dạy của hai người họ - nó khó hơn tôi nghĩ nhiều.
“Giờ không còn vấn đề gì nữa, cậu đi đi! Thấy cái dấu này không?” Người đàn ông trung niên đưa tôi tới đây chỉ cái la bàn nhỏ sơ sài bẩn thỉu: “Lúc lái thuyền phải để cái kim này chỉ thẳng vào nó, một lát là cậu sẽ nhìn thấy hòn đảo.”
Tôi chăm chú phân biệt vạch khắc mờ mờ kia, rồi lại ngẩng lên nhìn mặt biển phía xa, chẳng có gì cả.
“Giờ không nhìn thấy đâu, hòn đảo đó khá nhỏ, chỉ lớn hơn nơi này một chút, nhưng bên đó không có cá, nên ngư dân chẳng ai tới cả.” Người đàn ông đen gầy nhận ra sự sợ hãi của tôi bèn an ủi: “Đi đi, mặc áo phao vào, làm như tôi dạy, gặp gió ngang thì chuyển hướng, gió thuận hay gió nghịch đều đi được, đừng để thuyền xoay ngang về hướng gió, nếu không khó chèo lắm, thuyền sẽ bị lật. Hướng thuyền lệch một chút không sao, gió nhỏ đi chỉnh lại là được... Dầu đủ chạy hai chuyến đi và về. Nếu có việc gì đừng quên gọi điện cho tôi, nhớ số điện thoại của tôi chưa?” Nói rồi ông ta đá đá vào động cơ ở đuôi thuyền, tung người nhảy lên một chiếc thuyền khác buộc trên “bến thuyền”.
Tôi đọc số điện thoại của ông ta.
“Ừ, được rồi đấy, cậu đi đi.” Người đàn ông đen gầy toét miệng cười.
Tôi gượng gật đầu, hai tay nắm chặt vô lăng, đẩy cái công tắc bằng nhựa đã bị miết đến bóng loáng lên. Tiếng động cơ rền rền, chiếc thuyền từ từ rời “bến thuyền”.
Sau khi chỉnh phương hướng theo vạch khắc trên la bàn, tôi quay đầu nhìn lại, lúc này hai người đàn ông đang tươi cười hớn hở đếm tiền. Tôi lại liếm liếm đôi môi khô nứt, dằn lòng tăng tốc lái thuyền về phía Hắc Thủy Châu trước mắt chỉ tồn tại trên la bàn.
Lái rất lâu, tôi lại quay đầu nhìn, hòn đảo thuê thuyền đã biến thành một chấm đen mờ mờ phía sau lưng. Tôi lôi điện thoại ra, không có tín hiệu. Tuy lúc này sóng gió trên mặt biển nhỏ tới mức có thể bỏ qua, nhưng hơi thở của tôi vẫn vô cùng gấp gáp, lòng đầy hoảng hốt, sợ hãi, thậm chí tôi còn nghe được tiếng tim mình đập thình thịch trong tiếng ồn đinh tai nhức óc của động cơ.
“Bình tĩnh! Chẳng có gì ghê gớm cả, chỉ là lái thuyền thôi mà, chẳng có gì ghê gớm cả...” Tôi vừa an ủi bản thân vừa điều chỉnh cân bằng cơ thể, cẩn thận quay người móc chai nước trong túi lưới ba lô ra, uống mấy ngụm lớn để bình tĩnh lại.
Lúc này, trên mặt biển chếch về phía bên trái thoáng hiện một chấm đen mờ mờ, tôi lau mồ hôi trán, cẩn thận xác nhận vạch khắc trên la bàn - nó đang chỉ về hướng chấm đen, có lẽ chính là nơi đó. Tôi sắp gặp được vợ chưa cưới rồi.
Nhưng trong lòng tôi không thấy vui, chỉ lo lắng và bất an.
Lý do
Sau khi cuộc tranh cãi lạ lùng kết thúc, cả buổi chiều tôi chăm chú nghe họ chuyện phiếm một cách bóng gió.
Trong mỗi câu nói tôi đều nghe ra được họ đang thăm dò, nghe ngóng điều gì đó, có điều chẳng ai đi thẳng vào vấn đề cốt lõi cả. Bởi vậy, dù đã nghe mấy tiếng đồng hồ, tôi vẫn chẳng hiểu họ đang nói gì. Nhưng tôi có thể chắc chắn họ đang tìm thứ gì đó, và đến giờ vẫn chưa ai tìm ra.
Trương Lam không tham gia cuộc trò chuyện úp úp mở mở của những người này, cô ấy ăn rất nhiều với một tốc độ điên cuồng, sau đó ngồi cạnh tôi, tựa vào cái ba lô leo núi to tướng ngủ rất say. Tôi đoán mấy hôm nay cô ấy không những không được ăn uống gì mà còn chẳng được ngủ yên giấc - hoặc hoàn toàn không ngủ tí nào. Buổi chiều khi tôi xuất hiện ở cổng nhà thờ, cô ấy không mừng rỡ mà chỉ vô cùng mệt mỏi. Cũng chính khoảnh khắc đó, cô ấy thở phào nhẹ nhõm chẳng chút che giấu, hình như trước lúc tôi tới thần kinh cô ấy đã căng thẳng rất lâu - về điểm này tôi không nghĩ cô ấy đang lo cho tôi, mà có nguyên nhân khác.
Sắc trời tối dần, tôi hiểu vì sao phải mang theo đồ chống nước và giữ ấm rồi. Nhiệt độ ban ngày và ban đêm trên hòn đảo này chênh lệch cực lớn, nhiệt độ ban ngày đúng là nhiệt độ tháng sáu, nhưng khi mặt trời xuống núi, nhiệt độ hạ rất nhanh, nếu chỉ mặc một cái áo chắc sẽ lạnh run người mất. Trong lúc tôi mặc thêm áo, những người khác tìm về ít củi khô và gỗ mục chẳng biết lấy đâu ra, nhanh chóng đốt một đống lửa khá ra gì - chắc tối nào họ cũng làm vậy nên quá trình nhóm lửa rất yên tĩnh, nhanh chóng và thành thạo.
Ngọn lửa dần ổn định, mỗi người hình như đều thở phào, sự đề phòng, thận trọng cũng giảm đi rất nhiều. Ít nhất mọi người không còn nói bóng nói gió tìm đủ mọi cách nghe ngóng thông tin từ người khác nữa.
Tôi rất tò mò rốt cuộc đó là gì.
“Có lẽ chuyện này chẳng đơn giản như lời đồn, bên trong hẳn còn những thứ chúng ta không biết.” Một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, đô con, để đầu đinh, tóc muối tiêu ngẩn người nhìn ngọn lửa nhảy nhót, lẩm bẩm nói. Chẳng ai đáp lời, mọi người đều chăm chú nhìn đống lửa, nghĩ ngợi tâm sự riêng. Người đàn ông đô con gãi đầu như để che giấu vẻ ngượng nghịu vì không ai tiếp chuyện - tôi nhớ anh ta tên Trần Bình.
Lúc này nhiệt độ đã rất thấp, nhưng Trần Bình vẫn xắn cao tay áo phông, để lộ bắp thịt rắn chắc. Người này bình thường nhất định rất thích thể thao, còn chịu khó giữ gìn vẻ ngoài. Vì anh ta tuy đô con nhưng làn da chẳng hề thô ráp, ngược lại còn rất mịn màng. Tôi để ý thấy đồng hồ thể thao anh ta đeo giá không hề rẻ.
Một lúc sau, Mã Tiểu Điền - chính là anh chàng mặc sơ mi và quần bò rách bươm mò mẫm rút thuốc lá ra rồi phá vỡ sự yên lặng khó xử: “Làm gì có ẩn tình gì? Bất quá thì bị lừa thôi! Nhưng đã đến đây lâu vậy rồi, tôi vẫn muốn tìm thêm mấy ngày nữa, không thể lật tung chỗ này lên, nhưng cũng phải xác nhận cẩn thận... thứ đó quá hấp dẫn.” Nói rồi anh ta vứt que củi dùng để châm thuốc lá vào đống lửa.
“Nếu là thật, mà lại tìm được, sau này mọi người định làm gì?” Hoàng Hải vuốt cái đầu trọc, nhìn mọi người nở nụ cười giả tạo chính hiệu.
Sau khoảng yên lặng ngắn ngủi, một giọng nói hơi non nớt vọng ra từ trong góc: “Cháu... không muốn đi học nữa.”
Tôi quay lại nhìn, là một cậu bé có vẻ đang học cấp ba. Cậu ta hơi bẽn lẽn, nhút nhát, cả buổi chiều hầu như chỉ co rúm cơ thể gầy yếu trốn trong một góc.
“Cháu không thích trường học và giáo viên, cả bạn học nữa...” Cậu ta thấy tôi quay đầu về phía mình liền nho nhã đẩy gọng kính, nở nụ cười thân thiện.
“Chiêu Huy thì sao? Chiêu Huy muốn có được thứ gì?” Hẳn nhiên Mã Tiểu Điền không mấy hứng thú với lời cậu bé kia nói, mà hỏi cô gái xinh đẹp trang điểm nhạt vẻ lấy lòng - A, đúng rồi, tôi nhớ ra rồi, cô gái đó tên là Trương Chiêu Huy.
Trương Chiêu Huy ngồi rất gần đống lửa, tựa cằm lên đầu gối chăm chú nhìn đống lửa, lắc lắc đầu, tỏ ý giờ không muốn nói chuyện.
“La Chiêm?” Mã Tiểu Điền nghịch nghịch điếu thuốc trong tay, lại quay sang hỏi La Chiêm.
“Không biết, xác nhận xem chuyện này là thật hay giả trước hẵng tính, tôi bắt đầu nghi ngờ chuyện này có thật hay không rồi đấy.” Gương mặt La Chiêm đầy vẻ mệt mỏi.
“Nói thực tôi cũng hơi nghi ngờ, có thể đây là một trò đùa ác ý.”
Tôi nhìn gã mập tỏ vẻ tán thành với La Chiêm phía bên kia đống lửa, gã tên là gì ấy nhỉ. Mãi mà tôi không thể nhớ được tên gã. Có lẽ vì gã rất hung ác: thân hình béo mập thấp choẳn, mặt mũi bặm trợn, để bộ râu quai nón trông rất bẩn thỉu, lại còn lúc nào cũng đội mũ bóng chày bị biến dạng vì cái đầu quá to, quần áo trông bẩn thỉu chẳng kém. Cái sự bẩn thỉu trên người gã như một loại dầu mỡ nào đó, không khác nào vừa ra khỏi nhà bếp quán ăn vậy. Còn nữa, cử chỉ của gã rất thô lỗ... Nếu bắt tôi đoán ai là hung thủ giết người, nói một cách vô trách nhiệm, đầu tiên tôi sẽ nghi ngờ gã - bộ dạng gã đúng chuẩn bộ dạng của nhân vật phản diện.
Trong lúc tôi đang nghĩ ngợi linh tinh, Trương Lam tỉnh dậy. Cô ấy từ từ ngồi thẳng người, bình tĩnh tiếp lời: “Ai nghi ngờ thì cứ đi hết đi.” Nói rồi quấn thật chặt cái áo khoác tôi đắp cho cô ấy vào người, im lặng nhìn đống lửa trước mắt: “Tôi sẽ không đi đâu.”
“Ờ, nhận ra mà, đúng là cô không định đi thật, nếu không đã chẳng ung dung như thế trong tình hình này.” Lý Hiểu Lượng lấy túi bánh quy trong ba lô ra, xé mạnh, sau đó nhìn hai chúng tôi nửa cười nửa không.
Tôi phát hiện cô gái này rất đáng ghét, lúc nào cô ta cũng nói bóng nói gió, có thói quen bày tỏ ý kiến bằng giọng điệu châm biếm. Cô ta còn mang vẻ đắc ý tự cho mình là ghê gớm, cứ như thể cả thế giới này ngoài cô ta ra, tất cả đều là kẻ xấu ngu ngốc, ti tiện, độc ác, như thể cả thế giới này chỉ có mình cô ta hoàn hảo. Nếu được chắc cô ta sẽ lập bia tưởng niệm hoặc đúc tượng tôn vinh sự thánh khiết của mình cũng nên. Tôi thực sự chẳng hiểu Lý Hiểu Lượng lấy đâu ra sự tự tin đó, dựa vào cái gì mà tự tin như thế - cô ta không hề xinh đẹp.
Đến nhìn Trương Lam cũng chẳng buồn nhìn, chỉ cười nhạt, có vẻ cô ấy cũng không thích Lý Hiểu Lượng. Trương Chiêu Huy nãy giờ vẫn thất thần nhìn ngọn lửa vén lọn tóc trước trán, thở dài nói: “Ban đầu tôi còn tưởng chỉ có mình tôi ngu ngốc chạy đến đây tìm kiếm. Nào ngờ... nào ngờ lại gặp được nhiều người như vậy...”
Mọi người nhìn nhau, không hẹn mà cùng lặng lẽ gật đầu, chẳng ai định nói thêm gì nữa. Ngoài tiếng củi nổ lép bép, cả chính điện chìm trong tĩnh lặng, không khí ủ rũ thất vọng nhanh chóng lan truyền.
Tôi thực sự không nhịn được nữa, nghiêng đầu nhìn Trương Lam, chau mày - chắc cô ấy hiểu được ý tôi, mà tôi cảm thấy mình cũng đã nhẫn nại đủ lâu rồi. Tất cả mớ lộn xộn này là thế nào? Những người này đang nói gì? Ở đây đã xảy ra chuyện gì?
Trương Lam đã hiểu, cô ấy cắn môi nhìn tôi một lúc, rồi từ từ đứng dậy vươn vai, thong thả nói: “Vẫn chưa ngủ đủ, em nghĩ chúng ta nên đi nghỉ... mượn tí lửa nhé, phía sau tối quá.” Nói rồi cô ấy đứng dậy rút một cành củi khá to trong đống lửa, quay đầu đưa mắt ra hiệu cho tôi, tôi vội vàng chật vật đeo cái ba lô leo núi to tướng lên, đi theo cô ấy.
Trương Lam dẫn tôi đi thẳng về phía bên trái cung thánh ở góc trong cùng, có một cánh cửa gỗ cũ nát. Dù không quay đầu lại tôi vẫn cảm nhận được tất cả mọi người đều đang chăm chú nhìn chúng tôi vẻ thù địch.
Tôi không am hiểu về kiến trúc tôn giáo, chỉ biết đa số chính điện của nhà thờ đều có hình thập tự giá thuôn dài, còn những kiến trúc phụ khác bố cục thế nào, tôi hoàn toàn chẳng hay. Bởi vậy, nhìn cánh cửa Trương Lam dẫn tôi đi, trong lòng tôi hơi bất an: “Họ nói cái xác để ở phòng bên cạnh, cô ấy không định tới đó chứ?” Tôi không muốn nhìn thấy cái xác.
Cô ấy mở cánh cửa gỗ mục nát, cảnh tượng bên ngoài khiến tôi thở phào nhẹ nhõm: đó là một cái sân.
Cái sân nằm phía sau chính điện, tường bao xây bằng đá đã sập hết nhưng vẫn có thể nhận ra đó là một cái sân hình chữ nhật. Trong sân chắc vốn có hành lang bằng gỗ... ờm... có lẽ là hoa viên hoặc cung thánh ngoài trời, nhưng do dầm mưa dãi nắng thời gian dài nên chẳng thể nhận ra ban đầu nó là cái gì, chỉ có một đống gỗ mục ngổn ngang chất đống. Bên trái sân có một khoảnh đất nổi lên, ở đó dựng một cổng vòm bằng đá nhưng đến khung cửa cũng chẳng có.
Trương Lam tới cạnh đống gỗ mục ngổn ngang, cẩn thận chọn mấy mảnh gỗ rồi ôm trong tay, thành thạo dẫn tôi xuyên qua cổng vòm. Qua một con hẻm chật chội là tới cái sân khác nhỏ hơn chút.
Nhìn tường bao đổ nát xung quanh có thể thấy nơi này vốn cũng hình chữ nhật, cỏ dại cao đến đầu gối mọc kín sân. Khoảnh đất trống chính giữa sân chắc vốn cũng trống trải, vì không có bất cứ phế liệu của công trình kiến trúc sụp đổ nào chất đống ở đó. Đầu bên kia sân có một dãy phòng đã bị sập một nửa do nhiều năm chẳng ai chăm sóc, giống mấy ngôi nhà tranh trong làng, duy chỉ có những ô cửa sổ tối hù hù là để lại cho người ta ấn tượng sâu sắc.
Sau khi theo Trương Lam vào một căn phòng rách nát đầy mùi cỏ xanh, tôi mất một lúc mới mượn được ánh lửa ngọn đuốc, tìm khoảnh đất tương đối khô ráo, đặt ba lô xuống rồi vội vàng giúp cô ấy nhóm đống lửa nhỏ dưới cửa sổ.
Khói nồng lúc mới nhóm lửa tan đi hết, gỗ bắt đầu cháy dần kèm những tiếng nổ lép bép, chúng tôi mặt đối mặt ngồi xổm cạnh đống lửa. Tôi nhìn quanh nơi này, mặt sàn bằng đá ướt nhẹp, ngổn ngang toàn đá là đá, cỏ dại mọc um tùm giữa những kẽ nứt... nơi này rất ẩm thấp. Lẽ nào hôm nay cô ấy định ngủ ở đây? Nói thực lòng, dự định tồi tệ nhất của tôi là quấn vải chống nước ngủ trên một đống rơm. Nhưng có vẻ trên đảo này rơm là một thứ rất xa xỉ.
“Nè... đêm nay bọn mình ở đây à?”
Trương Lam không trả lời tôi mà đứng dậy, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ vẻ hơi nhạy cảm thái quá rồi mới ngồi xuống, bình tĩnh nhìn tôi: “Em biết anh có rất nhiều băn khoăn, và một chút không vui nữa. Nhưng anh đừng lo, em sẽ kể cho anh biết hết.”
Tôi liếm liếm môi, đợi cô ấy tiếp tục. “Nói đi, anh muốn hỏi gì nhất?”
“Tại sao em lại tới đây? Những người đó là ai?” Tôi có quá nhiều câu hỏi, nhưng hai câu hỏi vừa rồi là điều tôi muốn biết nhất.
Trương Lam nhổ đại một cọng cỏ dài quấn quanh ngón tay như đang cân nhắc nên trả lời thế nào, sau vài giây trầm ngâm, cô ấy ngẩng mặt lên, vẻ rất nghiêm túc: “Em nói ra chắc anh sẽ cho là vớ vẩn, hoặc không tin lời em. Nhưng trước khi anh nghi ngờ lời em nói, để em kể hết đã, được không?”
Tôi còn có thể làm gì khác nữa? Đành gật đầu.
“Em nói đơn giản nhé, trên đời này có một cuốn sách...” Cô ấy cau mày chăm chú nhìn tôi. “Người có được cuốn sách đó có thể thay đổi vận mệnh mình. Em biết điều này nghe ngu ngốc, ấu trĩ, nhưng em vẫn tới đây tìm cuốn sách vì em đã thu thập được kha khá manh mối và các tư liệu chứng minh chuyện này. Ban đầu em cũng nghi ngờ có phải mình điên rồi không, nhưng sau khi gặp những người ngoài kia, em biết khả năng cuốn sách thực sự tồn tại lớn hơn rất nhiều; còn những người ngoài kia, em không quen ai cả. Có điều mục đích họ đến đây giống em: muốn có được cuốn sách.” Cô ấy dừng lại giây lát, vứt cọng cỏ bị quấn tròn trong tay vào đống lửa.
Nó dần khô héo sau khi hong ở nhiệt độ cao, rồi từ từ bị ngọn lửa nuốt chửng. “Hai câu hỏi của anh em đã trả lời rồi, còn câu hỏi nào khác không?”
Tôi thừa nhận tôi không hoàn toàn hiểu hết vợ chưa cưới của mình, nhưng tôi biết cô ấy là người như thế nào. Có thể cá tính cô ấy hơi mạnh một chút, có thể cô ấy còn chưa học được cách đối xử dịu dàng với tôi, có thể cô ấy chẳng hề dựa dẫm tôi như tôi khao khát, nhưng cô ấy tuyệt đối không phải người mắc chứng hoang tưởng, cũng không phải người đầu óc toàn những suy nghĩ kỳ quái, thậm chí cô ấy còn chẳng hề hứng thú với tiểu thuyết, phim ảnh khoa học viễn tưởng hay truyện tranh về thần tiên yêu quái. Nhưng giờ này phút này, trong đống hoang tàn đổ nát của hòn đảo, cô ấy lại nói với tôi rằng: Trên đời có một cuốn sách có thể thay đổi vận mệnh con người... Nó khiến đầu óc tôi hơi hỗn loạn. Nếu những điều này được thốt ra từ miệng người khác, tôi sẽ chẳng phải nghĩ xem nó có thật không hay chỉ là lời bá xàm bá láp, vì hoàn toàn không cần suy nghĩ. Dù sao chúng ta cũng sống trong một thế giới chân thực, chuyện này chẳng cần phải nghi ngờ làm gì. Cho đến giờ, tôi chưa từng thấy siêu nhân, chưa từng thấy người nhện, chưa từng thấy đĩa bay, chưa từng thấy dị năng đặc biệt, chưa từng thấy hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, cũng chưa từng thấy xác sống diễu hành trên đường phố, một lần cũng không. Bởi vậy, với kinh nghiệm của cá nhân tôi, những thứ đó đều chẳng có thật, ít nhất, chúng cách tôi rất xa. Cũng vì vậy mà tuy bất lực chịu đựng yên ổn, hòa bình và nhàm chán do sự bình thường mang lại nhưng tôi vẫn cảm thấy rất tốt, mọi người đều thế nên tôi yên tâm. Vậy mà đột nhiên có người bảo tôi, trên đời này tồn tại thứ vượt ra ngoài tầm hiểu biết của tôi - một cuốn sách quỷ quái, lại còn tin chắc vào điều đó và chạy tới hòn đảo hoang vắng này tìm kiếm... Tôi thực sự không biết nên làm thế nào.
Huống hồ người này còn là vợ chưa cưới của tôi.
Trương Lam nghiêng đầu nhìn tôi: “Anh... vẫn ổn chứ?” Chắc cô ấy nhìn ra vẻ mặt chưa từng thấy trên gương mặt tôi, tôi đoán đó là vẻ mặt hỗn loạn, đắn đo.
“Vẫn ổn...” Tôi thở dài. “Được rồi, cuốn sách đó như thế nào?”
“Cuốn sách đó hình như bằng da dê, bìa da màu đen. Nghe nói sau khi có được nó, in dấu tay lên một trang trong sách là có thể thay đổi vận mệnh của mình. Nói đơn giản thì là như vậy.” Cô ấy nhìn chằm chằm ngọn lửa đang nhảy nhót, cắn cắn da chết bong ra ở môi dưới.
Đột nhiên tôi có cảm giác rất không thật, như thể đang nằm mơ. Tôi nhanh chóng ổn định lại cảm xúc rồi hỏi tiếp: “Em nghe chuyện này từ đâu?”
“Trên mạng.” Câu trả lời của cô ấy đơn giản và dứt khoát, nhưng chắc chắn sẽ khiến người ta suy sụp.
“Em... tin thật à?”
Trương Lam ngẩng lên nheo mắt nhìn tôi: “Sao lại không tin?”
“Anh...” Câu hỏi của cô ấy khiến tôi nhất thời hỗn loạn. Thực tế trong mấy phút vừa rồi tư duy của tôi vẫn luôn hỗn loạn. “Dù sao thì... dù sao thì anh cảm thấy những thứ trên mạng không đáng tin...” E rằng đây là lý do duy nhất tôi có thể nghĩ ra.
“Những tin đồn hoặc truyền thuyết khác thì là vậy, nhưng chuyện này thật đấy. Em đã điều tra rồi, thực sự có một cuốn sách như vậy. Nếu cảm thấy chuyện này buồn cười, trời sáng anh có thể về đất liền, để lại đồ ăn nước uống cho em là được.” Cô ấy tiếp tục cúi đầu si dại nhìn ngọn lửa nhảy múa.
Ở bên cô ấy gần hai năm rồi, tôi hiểu ý nghĩa câu cô ấy nói: Không có lựa chọn nào khác.
Tôi biết có người sẽ nói tôi quá yếu đuối, quá nhu nhược, tôi không muốn tranh luận về điều này, cũng chẳng có hứng thú tranh luận. Đầu tiên, tôi không phải người cứng rắn; hơn nữa, mỗi người đều có khắc tinh của mình, không phải ai cũng gặp được khắc tinh. Còn tôi, tôi gặp được rồi.
“Thôi được, anh ở lại với em.” Sau vài phút im lặng khó xử, tôi thở dài thể hiện thái độ khoan dung trước sự bướng bỉnh của cô ấy. Có điều nếu đã ở lại vì truyền thuyết không đầu không cuối này (tôi thà tin rằng đây là một tin đồn), tôi nghĩ mình có quyền biết nhiều hơn, tôi hỏi: “Cuốn sách đó là thế nào? Có nó sẽ thay đổi được vận mệnh của mình ư? Vậy ai để lại cuốn sách đó? Là kinh Phật à? Hay thứ gì khác?”
“Không, không phải kinh Phật... đưa vải chống nước cho em, chỗ này nồm đến mức em đau nhức khắp người rồi.” Có vẻ cô ấy đã thả lỏng và lấy lại được ngữ khí trò chuyện mọi khi giữa chúng tôi.
Trải vải chống nước xong, cô ấy ngồi xếp bằng, nhìn tôi như nghĩ ngợi điều gì: “Cuốn sách đó là Sách Khải Huyền Hắc Ám, nghe nói đã lưu truyền rất lâu rồi, không biết có từ khi nào, em cũng chẳng điều tra được... anh biết Sách Khải Huyền không?”
Tôi lắc đầu.
“Nghe nói Sách Khải Huyền là do Thượng Đế khải thị cho Jesus, bảo Jesus cho môn đệ của mình thấy những chuyện chắc chắn sẽ xảy ra. Thế là Jesus phái tiên tri Gioan ghi chép lại những gì ông ấy nhìn thấy, đồng thời nói cho đại chúng biết. Những điều tai nghe mắt thấy này chính là toàn bộ nội dung của Sách Khải Huyền, trong đó miêu tả những chuyện xảy ra từ khi mạt thế đến ngày phán xét. Cái này chắc anh biết, có điều...” Cô ấy đón chai nước tôi đưa nhưng không uống, chỉ nắm trong tay như muốn ủ ấm nước. “Có điều Sách Khải Huyền Hắc Ám hình như không liên quan tới khải thị, chỉ thuần túy là một pháp khí. Rất lâu về trước nó bị một giáo phái bí mật nắm giữ, sau đó không biết vì sao giáo phái này biến mất, còn cuốn sách thì lưu truyền trong tay một số người biết rõ nội tình. Những người có được cuốn sách đều mượn một sức mạnh nào đó thay đổi vận mệnh của mình. Cụ thể thay đổi thế nào, tư liệu em tra cứu được rất hỗn loạn, nên em cũng không chắc chắn, chỉ biết in dấu tay mình lên trang sách là được, chung chung là vậy.”
“Nhưng tại sao em lại tin? Nếu em đã nói là tư liệu rất hỗn loạn.” Tôi sẽ không bỏ qua bất cứ cơ hội nào khuyên cô ấy rời khỏi nơi quỷ quái này.
“Vì cái này.” Nói rồi cô ấy lấy một xấp giấy in trong ba lô nhỏ của mình ra, lần giở từng trang, tìm một trang trong đó, đặt lên trên cùng và đưa cả xấp giấy cho tôi.
Tôi mượn ánh lửa cẩn thận đọc trang trên cùng: bên trên là một bức ảnh, nội dung bức ảnh có vẻ là một đoạn chữ Latinh rất mờ, cũng rất hỗn loạn. Còn bên dưới là nét chữ Trương Lam, hẳn cô ấy đã dịch ra. Trên đó viết:
Có được tư cách sở hữu ta, chắc chắn sẽ nhận được khải thị của ta, dài đến bảy ngày
Trong vòng bảy ngày chắc chắn sẽ tin vào sự tồn tại của ta, đồng thời đón nhận sự chỉ dẫn của ta
Chỉ sau khi trải qua đêm thần chọn mới có thể sở hữu ta
Người sở hữu ta sẽ nắm giữ vận mệnh của mình.
Nhìn mấy dòng chữ này tôi có một cảm giác rất kỳ lạ, hình như tôi đã từng thấy ở đâu, nhưng cảm giác quá mơ hồ, như có như không.
Thấy tôi đã đọc xong, cô ấy nói thêm: “Em từng mơ một giấc mơ liên tiếp bảy ngày, em thấy em cầm một cuốn sách màu đen, in dấu tay mình lên một trang trong đó.”
Tôi ngẩn ra một lúc rồi mới rời mắt khỏi tờ giấy: “... Ý em là, những giấc mơ giống nhau đó chính là cái gì mà khải thị ư? Nhưng, có thể do em đọc được truyền thuyết này nên mới mơ thấy vậy thì sao.” Tôi cho rằng đây là một lời giải thích rất ổn.
“Không.” Ánh mắt cô ấy quay lại xấp giấy, cô ấy ngẩn người nửa phút rồi mới nói với tôi từng từ: “Chính vì giấc mơ đó nên em mới điều tra về Sách Khải Huyền Hắc Ám.”
Tôi không dám tin lời cô ấy nói: “Ờ... em mơ thấy những thứ đó trước rồi mới bắt đầu tìm hiểu á?” Cô ấy gật đầu: “Ban đầu em chỉ muốn tìm cuốn sách bìa đen, vì giấc mơ để lại ấn tượng quá sâu sắc, bảy ngày liên tục. Nên khi bức ảnh cuốn sách xuất hiện, em nhận ra ngay. Chính là nó, chính là dáng vẻ em nhìn thấy trong mơ. Sau đó, em bắt đầu thu thập rất nhiều tư liệu liên quan trên mạng.” Nói rồi cô ấy hất hàm chỉ xấp giấy trong tay tôi: “Những thứ này đều do em tìm được, còn nhiều tư liệu nữa cơ, nhưng em chỉ chọn một phần tương đối đáng tin thôi.”
Nhìn vào mắt cô ấy, tôi biết cô ấy không nói dối.
“Vậy...” Tôi thừa nhận mình có chút tò mò: “Vậy những người khác thì sao? Cũng đều nằm mơ à?”
“Không biết, em không hỏi, cũng chẳng ai nhắc tới chuyện này.”
Về điểm này, tôi nghĩ mình có thể hiểu được, chiều nay tôi đã tận mắt chứng kiến sự thù địch ẩn giấu giữa họ. Tôi chợt nhớ ra mấy câu hỏi quan trọng mà từ đầu đến giờ vẫn chưa rõ.
“Ở đây không có tín hiệu điện thoại, sao em gọi được cho anh?”
“Bến thuyền, anh lái thuyền tới đúng không? Trên bến thuyền đôi khi sẽ có tín hiệu, nhưng rất yếu, lúc có lúc không, chắc do ảnh hưởng của thời tiết.” Cô ấy nghĩ ngợi rồi nhắc nhở tôi: “Tốt nhất giờ anh tắt nguồn điện thoại đi, lúc cần hẵng bật, nếu không đến lúc thực sự muốn dùng lại hết pin, điện thoại của em hết pin rồi.”
“Ờ...” Tôi tắt nguồn điện thoại rồi đặt ra một nghi vấn khác: “Em... em không nghĩ sẽ ở lại lâu như vậy nên chỉ mang theo ba lô nhỏ thôi à?” Tôi chỉ chỉ cái ba lô bằng vải dù sau lưng cô ấy.
Vẻ mặt cô ấy đột nhiên trở nên nghiêm trọng: “Không. Anh nhớ cái ba lô leo núi màu đỏ sậm của em không? Em mang theo rồi. Nhưng mấy tiếng trước khi em gọi cho anh, cái ba lô đó và tất cả mọi thứ bên trong đều biến mất... May mà em không để điện thoại trong ba lô.”
“Mất á? Trên đảo này á?” Tôi không hiểu ý cô ấy.
Cô ấy gật gật đầu: “Bị một người trong số họ lấy trộm, rất có thể đã giấu đi hoặc vứt vào chỗ nào đó rồi.”
“Ý em là...” Nói thực lòng điều này khiến tôi rất ngạc nhiên.
“Có người muốn em rời khỏi đây, có thể chính là hung thủ giết người.”
Tôi chợt nhớ ra sự thật quan trọng: Trong số họ có người đã bị giết.
Một cơn ớn lạnh khiến tôi rùng mình, hòn đảo này chẳng phải nơi an toàn. Dù cuốn sách đó có thay đổi được vận mệnh thật hay không, đã có người đại khai sát giới vì nó rồi. Nhưng nản lòng nhất là tôi không nghĩ ra được cách gì có thể khiến cô vợ chưa cưới bướng bỉnh, ương ngạnh của tôi theo tôi rời khỏi cái nơi ẩn giấu nguy hiểm chết người này.
Thấy tôi ngồi đần ra, Trương Lam đứng dậy nói: “Đi thôi, đi nghỉ đi, em buồn ngủ thật rồi. Đống lửa này cứ để nó cháy thế cũng được, chỗ này rất ẩm ướt, không bắt lửa đâu.”
Nhất thời tôi không hiểu ý cô ấy, liền ngẩng lên ngẩn người nhìn cô ấy: “Đi đâu cơ?”
Cô ấy cười đắc ý: “Sau khi mất ba lô, em đã dự cảm sẽ có nguy hiểm. Tranh thủ ban ngày em tìm được một nơi an toàn, mấy hôm nay em toàn ngủ ở đó. Không chỉ mình em đâu, cứ đến đêm ai cũng tìm một chỗ ẩn mình. Nhưng... Lý Giang vẫn không thoát được...”
Lý Giang chắc là người bị giết.
Nghe lời chỉ dẫn của Trương Lam, tôi dùng tay che bớt đèn pin, theo cô ấy trèo qua bức tường thấp của cái sân nhỏ, xuyên qua làng chài hoang phế, đi vào sâu trong rừng. Trên đường đi cô ấy chỉ một cái giếng nước mà nếu không để ý kỹ thì gần như chẳng thể nhận ra: “Nước ở đó uống được, nhưng rất chát.” Tôi biết trong thời gian hơn hai ngày chờ đợi tôi, cô ấy đã chịu không ít khổ cực.
Chúng tôi mượn ánh sáng đèn pin bước thấp bước cao đi một lúc lâu, xuyên qua một cánh rừng, cuối cùng tới bãi đá ngầm lớn rất gần biển. Cô ấy cảnh giác nhìn quanh, bước nhanh tới một khóm cây bụi lớn, cẩn thận vạch lá cây ra, ở đó có một cửa hang nhỏ bị khóm cây bụi che khuất.
Nhìn cửa hang, tôi buộc phải thừa nhận nơi này rất kín đáo, ban ngày e rằng cũng khó phát hiện ra.
Trương Lam bảo tôi chui vào trước, sau đó cô ấy cẩn thận lùi vào trong hang, chỉnh lại khóm cây bụi ở cửa hang. Trông cô ấy giống một loài động vật họ mèo sinh tồn ngoài thiên nhiên, cảnh giác và nhạy bén, tôi chưa từng thấy cô ấy như vậy bao giờ.
Hang không rộng lắm, chỉ bằng một cái giường đơn, thậm chí còn chẳng rộng bằng giường đơn, nhưng đủ để trú chân. Phía trong cùng hang trải một ít cỏ chưa khô hết. Tôi sờ sờ, không ẩm lắm. Dù sao vẫn ổn hơn nhiều khu nhà đổ nát rỏ nước kia.
Trải vải chống nước xong, chúng tôi đắp một tấm vải chống nước khác và mấy bộ quần áo lên người, tựa vào cái ba lô lớn, nửa nằm nửa ngồi sát cạnh nhau. Tôi muốn nói một điều gì đó với Trương Lam, nhưng cô ấy khẽ ngăn tôi lại. Ngoài kia tiếng sóng biển thoáng ẩn thoáng hiện, cô ấy gần như ngủ ngay lập tức.
Tôi không kìm được thầm thở dài một tiếng, khẽ ôm cô ấy vào lòng, nhắm mắt lại.
Đêm đó tôi ngủ không ngon chút nào, vì nửa đêm tôi nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài hang vọng vào.