Anh đứng đợi bên đường để chờ ai đó tìm ra xác của Cosmo Barditi.
Cuối cùng một trong những cô gái làm việc ở câu lạc bộ đã phát hiện ra sự việc kinh hoàng ấy. Đứng nấp cách cổng của SX vài bước, Marcus nghe thấy tiếng hét và anh rời đi.
Anh phải lần lại manh mối mà Cosmo để lại, nếu không việc anh cứu gã những năm trước và cái chết của gã sẽ là vô ích.
Nhưng Cosmo đã khám phá ra chuyện gì kinh khủng đến mức đe dọa cả đến tính mạng của gã chứ?
Đến trưa, linh mục ân giải quay lại nơi anh ở – căn hộ trên tầng áp mái ở phố Serpenti. Anh cần phải sắp xếp lại những suy nghĩ. Một cơn đau nửa đầu dữ dội tấn công hai thái dương của anh. Marcus nằm dài trên chiếc giường xếp. Chỗ bị thương sau gáy làm anh nhức nhối, ruột gan anh cũng cồn cào vì tác dụng của ma túy dùng trước bữa tiệc. Thi thoảng anh lại thấy hơi buồn nôn.
Căn phòng như thể một phòng giam với những mảng tường trần trụi, có độc một bức ảnh gắn vào tường bằng một chiếc đinh nhỏ: bức hình trích ra từ camera an ninh chụp nghi phạm giết bà sơ trong vườn của Vatican. Người đàn ông với cái túi khoác vai màu xám mà Marcus đã tìm kiếm một năm trời nhưng không có kết quả.
“Quỷ dữ đang ở đây.”
Marcus treo nó ở đó để không quên. Nhưng đúng lúc đó anh nhắm mắt. Và anh nghĩ tới Sandra.
Anh muốn nói chuyện với cô lần nữa. Không biết trước đây anh đã từng có người phụ nữ nào không nhỉ? Anh không nhớ nữa. Clemente tiết lộ rằng nhiều năm trước anh đã tuyên thệ, khi vẫn còn là một cậu thanh niên ở Agentina. Liệu anh đã bao giờ được ai đó yêu thương và khao khát?
Anh thiếp đi trong những nghĩ suy ấy. Rồi một giấc mơ làm anh trằn trọc trên giường. Vẫn là giấc mơ đó, được lặp đi lặp lại: khi tưởng chừng sắp kết thúc, nó lại bắt đầu lại từ đầu. Cái bóng của kẻ lạ mặt cầm máy ảnh bỏ đi trong khu vườn của ngôi biệt thự trên phố Appia Antica. Mỗi lần Marcus chuẩn bị tóm được hắn và nhìn tận mặt hắn thì anh lại bị đánh vào gáy từ phía sau. Đêm đó cái chết đã cảnh báo anh. Đêm đó cái chết đi giày màu lam.
Khi anh mở mắt, trời đã tối.
Anh ngồi dậy và nhìn giờ. Đã quá 11 giờ. Có dấu hiệu tích cực: cơn đau đầu đã tạm ngưng.
Anh tắm qua loa trong phòng vệ sinh nhỏ. Đáng lẽ anh nên ăn chút gì, nhưng anh không thấy đói. Anh mặc bộ quần áo mới nhưng vẫn màu xám như tất cả những đồ anh cất trong một chiếc vali để mở trên sàn nhà.
Anh phải tới một nơi.
Dưới một viên gạch trong phòng áp mái anh giấu số tiền mà Clemente đã đưa. Anh dùng nó để thực hiện nhiệm vụ và chỉ chi tiêu một chút cho bản thân. Anh không cần nhiều tiền.
Anh đếm được mười nghìn euro, rồi anh ra khỏi nhà.
Nửa giờ sau anh đứng trước cửa nhà của Cosmo Barditi. Anh ấn chuông và chờ đợi. Anh nhìn thấy một bóng người sau con mắt thần. Chẳng ai hỏi anh là ai. Nhưng Marcus biết rằng ở sau cánh cửa là người phụ nữ của Cosmo, hẳn cô ấy đang lo lắng về cuộc viếng thăm vào giờ này.
“Tôi là một người bạn của Cosmo,” anh nói dối, trên thực tế họ chưa bao giờ là bạn của nhau. “Tôi đã cứu mạng anh ấy ba năm trước.”
Đó có thể là thông tin mấu chốt để vượt qua sự kháng cự của người phụ nữ, vì chỉ có anh và Cosmo biết câu chuyện đó. Marcus hy vọng gã đã chia sẻ bí mật đó với bạn đời của mình.
Sau vài giây lưỡng lự, anh thấy ổ khóa bật mở và một cô gái xuất hiện cửa. Cô gái có mái tóc chấm vai, mắt sáng màu và sưng đỏ vì khóc.
“Anh ấy đã kể cho tôi về anh,” cô nói ngay. Trên tay cô cầm một chiếc khăn mùi xoa vo tròn. “Cosmo đã chết rồi.”
“Tôi biết.” Marcus xác nhận. “Tôi ở đây vì việc đó.”
Ngôi nhà khá tối, cô gái mời anh ngồi ở phòng bếp. Cô xin anh nhẹ nhàng để không đánh thức đứa trẻ. Họ ngồi bên chiếc bàn mà gia đình nhỏ thường dùng bữa, phía trên có treo một chiếc đèn chùm thấp đang tỏa ánh sáng ấm cúng và thân thiện.
Người phụ nữ mời Marcus uống cà phê nhưng anh từ chối.
“Cứ để tôi pha cho anh,” cô nài nỉ. “Anh có thể không uống nếu anh muốn, nhưng tôi không thể ngồi yên được.”
“Cosmo không tự sát,” linh mục ân giải nói với người phụ nữ từ phía sau. Anh thấy cô sững người lại. “Anh ấy bị giết vì đang làm giúp tôi một việc.”
Người phụ nữ không nói gì trong giây lát. Rồi, cuối cùng cô cũng lên tiếng: “Là ai vậy? Tại sao? Anh ấy chưa bao giờ làm gì tồi tệ cả, tôi chắc chắn như vậy.”
Cô ấy sắp khóc, Marcus hy vọng chuyện đó sẽ không xảy ra. “Tôi không thể nói gì với cô. Vì sự an toàn của cô và của đứa bé. Cô phải tin tôi. Về chuyện này tốt hơn cô nên biết càng ít càng tốt.”
Trong giây lát, Marcus mong cô ấy sẽ phản ứng, quát mắng anh và đuổi anh đi. Nhưng cô ấy không làm thế.
“Anh ấy rất lo lắng,” cô ấy nhỏ nhẹ thú nhận. “Tối qua anh ấy đã về nhà và bảo tôi chuẩn bị hành lý. Khi tôi yêu cầu giải thích, anh ấy chuyển đề tài.” Trong khi ấm đun cà phê đang sôi trên bếp ga, cô gái quay về phía Marcus. “Anh không cần thấy có lỗi về cái chết của anh ấy. Nhờ có anh, Cosmo đã sống thêm được ba năm. Ba năm để thay đổi, để yêu tôi và để cho ra đời một cô con gái. Tôi tin rằng ở vị trí của anh ấy, ai cũng sẽ chọn số phận như thế.”
Đó là lời an ủi quá ngắn ngủi với Marcus. “Có thể anh ấy đã ra đi một cách vô ích, vì thế tôi ở đây… Anh ấy không để lại gì cho tôi sao? Một tin nhắn, một số điện thoại, một thứ gì đó…”
Người phụ nữ lắc đầu. “Tối qua anh ấy về nhà rất muộn. Anh ấy nói tôi chuẩn bị hành lý nhưng không nói chúng tôi sẽ đi đâu. Đáng lẽ chúng tôi khởi hành vào sáng nay. Tôi nghĩ rằng anh ấy muốn ra nước ngoài, ít ra tôi hiểu là như vậy. Anh ấy ở nhà có đúng một tiếng. Anh ấy cho con gái đi ngủ và đã mua cho con bé một quyển truyện cổ tích. Tôi nghĩ rằng sâu trong đáy lòng, anh ấy biết có nguy cơ sẽ không được nhìn thấy con bé nữa, vì thế anh ấy đã tặng con món quà đó.”
Nghe câu chuyện, Marcus bỗng cảm thấy bất lực và tức giận. Anh phải chuyển chủ đề. “Cosmo có điện thoại di động chứ?”
“Có, nhưng cảnh sát không tìm thấy nó ở văn phòng của anh ấy. Và trong ô tô cũng không có.”
Anh ghi nhớ thông tin. Việc chiếc điện thoại bốc hơi càng khẳng định giả thuyết về vụ giết người.
Barditi hẳn đã gọi điện cho người đưa gã thông tin. Ai đây?
“Anh đã cứu mạng Cosmo, Cosmo thì đã cứu tôi,” người phụ nữ nói. “Tôi nghĩ rằng nếu ai đó làm một việc tốt, sau đó nó sẽ được lặp lại.”
Marcus định khẳng định đúng như vậy nhưng rồi anh nghĩ rằng chỉ có cái ác mới sở hữu tài năng đó. Nó dội lại như một tiếng vang. Quả thực, dù vô tội nhưng Cosmo Barditi đã phải trả giá cho những hành vi xấu xa gã phạm phải trong quá khứ.
“Cô và con gái vẫn nên đi,” anh nói. “Ở đây không an toàn.”
“Nhưng tôi không biết phải đi đâu và tôi không có tiền! Cosmo đã đầu tư tất cả vào câu lạc bộ nhưng chuyện làm ăn không thuận lợi lắm.”
Marcus đặt lên bàn mười nghìn euro anh mang theo mình. “Chỗ này có thể đủ cho cô trong một thời gian ngắn.”
Người phụ nữ trân trân nhìn đống tiền. Rồi cô bật khóc nghẹn ngào. Marcus muốn đứng dậy để tới ôm cô nhưng anh không biết thể hiện cử chỉ đó như thế nào. Anh thường thấy mọi người trao nhau tình thương và sự cảm thông nhưng anh không làm nổi.
Ấm đun cà phê trên bếp bắt đầu phả khói nước trong khi đồ uống đang sắp trào ra. Nhưng người phụ nữ không nhấc nó ra khỏi bếp. Marcus đứng dậy và làm việc đó giúp cô. “Giờ tốt hơn tôi nên đi.” anh nói.
Người phụ nữ gật đầu trong những tiếng nấc. Linh mục ân giải đi một mình thẳng ra phía cửa. Đi dọc hành lang, anh thấy một cánh cửa mở hé, từ đó lọt ra một tia sáng màu xanh dương yếu ớt. Anh lại gần cánh cửa.
Một cái đèn hình ngôi sao đang nhẹ nhàng tỏa bóng. Một đứa bé tóc vàng đang bình yên ngủ trên chiếc giường bé xinh của mình. Cô bé nằm nghiêng, tay khoanh lại còn miệng ngậm ti giả. Cô bé đã đạp tung chăn. Marcus lại gần và với một cử chỉ đáng ngạc nhiên với cả chính anh – anh kéo chăn lên đắp cho cô bé.
Anh nán lại nhìn cô bé, tự hỏi liệu đó có phải phần thưởng cho việc đã cứu mạng Cosmo Barditi những năm trước. Liệu, xét cho cùng, mầm sống mới đó có phải do công lao của anh.
Cái ác là lẽ thường, cái thiện là ngoại lệ, anh tự nhắc lại với chính mình.
Vậy nên không, anh chẳng có liên quan gì cả. Anh quyết định đi ngay ra khỏi ngôi nhà đó vì anh cảm thấy mình thật lạc lõng.
Nhưng đúng lúc anh đang chuẩn bị bước một bước ra khỏi cửa, ánh mắt anh bỗng dừng lại trên tấm bìa của một quyển sách đặt trên kệ trong căn phòng. Đó là quyển truyện cổ tích mà Cosmo Barditi đã tặng cho con gái vào tối hôm qua. Tiêu đề của cuốn sách làm anh giật mình.
Câu chuyện thần kỳ của đứa bé bằng thủy tinh.
Bài học thứ ba của Clemente tới vào một trưa hè oi ả.
Họ hẹn gặp nhau ở quảng trường Barberini và từ đó bách bộ dọc con phố cùng tên, trước khi rẽ vào con đường nhỏ dẫn tới đài phun nước Trevi.
Họ băng qua đám đông du khách đang tụ tập quanh đài phun nước, chăm chú chụp ảnh và ném đồng xu xuống nước theo tục lệ cổ xưa với hy vọng có thể quay trở lại Roma vào lúc nào đó trong cuộc đời.
Khi quan sát những khách du lịch tham quan Thành phố Vĩnh hằng kinh ngạc bởi vẻ đẹp của nó, Marcus thấy mình lạc lõng trong thế giới loài người. Số phận của anh chẳng khác nào của những cái bóng chạy trên tường như thể lẩn trốn khỏi ánh sáng mặt trời.
Ngày hôm đó Clemente có vẻ điềm tĩnh. Cậu ta rất tự tin vào công việc huấn luyện và chắc chắn rằng Marcus sẽ sớm sẵn sàng để thực hiện sứ mệnh của mình.
Cuộc đi dạo của họ dừng ở trước cửa nhà thờ Thánh Marcello al Corso mang phong cách Baroc với mặt tiền hình lõm như thể muốn ôm trọn những con chiên.
“Nhà thờ này ẩn chứa một bài học lớn.” Clemente thông báo với anh.
Vừa bước vào họ đã chạm phải một làn hơi lạnh bất ngờ phả ra. Như thể hơi thở của đá cẩm thạch. Không gian không lớn lắm và chỉ có một giáo đường chính với năm gian thờ ở mỗi bên.
Clemente đi thẳng tới điện thờ chính, trên đó có treo một cây thánh giá tuyệt đẹp làm bằng gỗ sẫm màu, theo trường phái của Siena vào thế kỷ 14.
“Hãy nhìn Chúa kìa,” cậu ta bảo anh. “Đẹp, phải không?”
Marcus gật đầu. Nhưng anh không hiểu Clemente muốn nói tới tác phẩm nghệ thuật, hay tới tính tâm linh của hình tượng đó dưới góc nhìn của linh mục.
“Theo những người dân của Roma, cây thánh giá đó là một điều kỳ diệu. Anh nên biết rằng nhà thờ này, như chúng ta thấy ngày nay, đã được xây dựng lại sau vụ hỏa hoạn đã phá hủy nó vào đêm ngày 23 tháng 5 năm 1519. Thứ duy nhất thoát khỏi ngọn lửa là cây thánh giá mà giờ anh thấy trên bệ thờ.”
Câu chuyện làm anh ngạc nhiên và anh bắt đầu quan sát tác phẩm đó bằng một cặp mắt khác.
“Chưa hết,” Clemente nói tiếp. “Vào năm 1522 nạn dịch hạch đã hoành hành ở Roma, cướp đi hàng trăm sinh mạng. Người dân nhớ tới cây thánh giá thần kỳ và quyết định mang nó đi diễu hành trên những ngả đường, bất chấp sự phản đối của chính quyền vì sợ việc tập trung đông người trong đoàn diễu hành có thể làm lây lan bệnh dịch.” Tới đó, cậu bạn anh ngừng lại. “Cuộc tuần hành kéo dài trong mười sáu ngày và nạn dịch hạch đã biến mất khỏi Roma.”
Trước phát hiện bất ngờ đó, Marcus không tài nào thốt lên lời, cả anh cũng bị sức mạnh thần kỳ của tấm gỗ đó hút hồn.
“Nhưng gượm đã,” Clemente ngay lập tức cảnh báo. “Còn có một câu chuyện khác liên quan đến tác phẩm đó. Anh hãy quan sát kỹ khuôn mặt của Đức Chúa đang chịu khổ nạn trên cây thập tự.”
Những dấu hiệu của nỗi đau trên gương mặt đó thật sống động. Dường như có thể cảm nhận được lời than vãn từ cây gỗ. Đôi mắt, đôi môi, những nếp nhăn đó đang bộc lộ một cách trung thực cảm xúc của cái chết.
Clemente bỗng nghiêm nghị. “Không ai biết tên tuổi người nghệ sĩ đã tạc tượng. Nhưng người ta nói rằng ông ta sùng đạo đến nỗi mong muốn để lại cho những người theo đạo một tác phẩm có thể làm rung động lòng người cũng như tạo dấu ấn bởi sự chân thực của nó. Vì lý do đó mà ông ta đã trở thành một tên sát nhân. Để lấy mẫu, ông ta đã chọn một người thợ đốt than đáng thương, giết anh ta một cách từ từ, để hiểu được những nét mặt và sự đau đớn khi anh ta chết.”
“Tại sao cậu lại kể cho tôi cả hai câu chuyện?” Marcus hỏi, dù phần nào đã đoán được mục đích.
“Vì hàng thế kỷ nay người dân vẫn thích kể lại cả hai câu chuyện. Hiển nhiên, những người không theo đạo thích câu chuyện ghê rợn kia hơn. Trong khi những người theo đạo lại thích câu chuyện đầu tiên… nhưng họ cũng không chỉ trích câu chuyện thứ hai, vì bản chất con người luôn bị thu hút bởi sự bí ẩn của cái ác. Tuy nhiên vấn đề là: anh tin vào câu chuyện nào?”
Marcus suy nghĩ một lát. “Không, câu hỏi thực sự phải là: liệu đằng sau thứ gì đó xấu xa có ẩn chứa điều gì tốt đẹp?”
Clemente có vẻ mãn nguyện với câu trả lời. “Điều tốt và cái ác không bao giờ là những phạm trù được định nghĩa rõ ràng. Thường thì chúng ta phải quyết định xem cái nào là tốt và cái nào là xấu. Lời phán xét phụ thuộc vào chúng ta.”
“Phụ thuộc vào chúng ta.” Marcus nhắc lại như thể đang nhập tâm những lời nói đó.
“Khi anh quan sát một hiện trường vụ án, có thể ở đó có dính máu của người vô tội, anh không thể chỉ dừng lại ở câu hỏi là ai và tại sao.” Trái lại, anh phải hình dung hung thủ của vụ án trong quá khứ đã dẫn hắn tới đó, mà không được bỏ sót những người đã và đang yêu quý hắn. Anh phải hình dung lúc hắn cười, hắn khóc, lúc hắn hạnh phúc hay buồn phiền. Hồi bé, trong vòng tay mẹ. Và lúc trưởng thành, trong khi đi chợ hay bắt xe buýt, khi ngủ và khi ăn. Thậm chí cả khi hắn yêu. Vì không có con người nào, cho dù là kẻ gớm ghiếc nhất, lại không có cảm xúc đó.”
Marcus đã hiểu bài học.
“Cách để tóm được một kẻ ác là tìm hiểu xem hắn yêu như thế nào.”