Phó cảnh sát trưởng Moro đi dọc đường vành đai phía đông trên một chiếc xe không có dấu hiệu nhận diện.
Đó là loại xe cảnh sát thường dùng để theo dõi và bám đuôi mà không bị phát hiện. Thường thì đó là phương tiện trong các vụ án đã bị tịch thu và sau đó được đưa đến sở cảnh sát.
Ví dụ, chiếc xe mà Moro đang lái từng thuộc về một vụ buôn lậu ma túy. Nó trông chẳng khác một chiếc dòng sedan thông thường, nhưng trên thực tế nó được trang bị một động cơ nâng cấp và thân kép: ở khoảng trống giữa hai lớp, nhân viên hải quan đã tìm thấy năm mươi cân cocain nguyên chất.
Moro nhớ tới khoảng trống dưới sàn xe và nảy ra ý tưởng đó sẽ là chỗ lý tưởng để vận chuyển thứ gì đó mà không bị chú ý.
Anh ta đã đi ra từ lối cổng phụ của tòa nhà sở cảnh sát ở phố San Vitale để tránh đụng độ với cánh nhà báo nếu có. Giờ họ đang săn lùng anh ta để phỏng vấn và cùng lúc công kích anh ta về cái chết của hai cảnh sát. Phó cảnh sát trưởng chưa bao giờ bận tâm tới những cuộc tranh luận, trong suốt sự nghiệp lẫy lừng của mình anh ta đã nhiều lần là đối tượng bị giới truyền thông đem ra mổ xẻ. Đó là một trong những cái giá phải trả cho sự nổi tiếng, dù với anh chỉ là những vết thương nhỏ cho lòng kiêu hãnh của mình. Nhưng lần này thì khác. Nếu báo chí phát hiện ra anh ta đang cẩn trọng che giấu mọi việc, cái giá sẽ rất chát.
Ánh mặt trời nhợt nhạt và óng ánh chiếu sáng buổi sớm của Roma nhưng không đủ sức sưởi ấm không gian. Giao thông ùn ứ. Có những thứ nếu để lộ sẽ rất nguy hiểm, Moro thầm nghĩ khi quan sát gương mặt của các hành khách trên những chiếc xe khác đang nối đuôi trên đường. Có những thứ tốt hơn không nên biết. Những người đó sẽ không hiểu. Đằng nào cũng nên để họ sống trong yên bình, không nên xáo trộn cuộc sống của họ với những câu chuyện mà chính anh cũng không đủ sức để giải thích.
Phó cảnh sát trưởng mất gần một tiếng để tới được đích: một tòa nhà lớn bằng xi măng nằm giữa những tòa nhà y hệt khác, được xây dựng trong thời kỳ mà một vài khu trong thành phố là mảnh đất màu mỡ của những tay đầu cơ xây dựng.
Anh đỗ xe ở một con đường kế bên. Một trong số cấp dưới của anh mặc thường phục đang chờ ở cổng của tòa nhà, bước tới và Moro đưa cho anh ta chìa khóa ô tô.
“Mọi người đang ở trên,” anh ta thông báo.
“Tốt.” Phó cảnh sát trưởng nói và đi thẳng về phía lối vào.
Anh bước vào cầu thang máy nhỏ hẹp và ấn nút lên tầng mười một. Khi tới chiếu nghỉ, anh nhìn ra cánh cửa mình muốn tìm và bấm chuông. Ra mở cửa là một kỹ thuật viên mặc đồ bảo hộ trắng toát.
“Các cậu làm đến đâu rồi?” Moro hỏi.
“Chúng tôi sắp hoàn thành.”
Phó cảnh sát trưởng bước vào. Không khí ngột ngạt, đượm mùi các chất phản ứng hóa học mà đội khoa học hình sự sử dụng, nhưng dưới đó – như một lớp dai dẳng – còn có mùi nicotine khét lẹt và ẩm mốc không lẫn đi đâu được.
Căn hộ không lớn lắm và khá tối. Ở đó có bốn phòng trông ra một hành lang hẹp. Ở lối vào có một cái tủ với một tấm gương lớn, trong góc là một giá treo chất đầy áo khoác.
Moro bước vào hành lang và dừng lại ở ngưỡng của các căn phòng. Phòng đầu tiên là phòng làm việc. Có một tủ sách với những quyển giải phẫu và y học, và cả một chiếc bàn làm việc đầy trang báo, trên đó là một mô hình tàu chiến ba cột buồm chưa hoàn tất, gần đó là hồ dán, bút và một chiếc đèn cây.
Có cả những mô hình máy bay, tàu thủy và tàu hỏa đặt trên kệ hoặc dựa vào đủ chỗ, kể cả dưới đất. Moro nhận ra chiếc máy bay RAF Havilland DH.95 Flamingo trong Thế chiến thứ hai, một thuyền chèo hai tầng của văn minh Phoenicia và một trong những đầu máy chạy bằng điện đầu tiên.
Tất cả những mô hình đều bị bao phủ bởi một lớp bụi dày, biến căn phòng như thể một nghĩa địa phế liệu. Và có lẽ cũng đúng như vậy: một khi đạt được mục đích, nhà chế tạo ra chúng không còn hứng thú nữa. Ông ta chẳng có ai để khoe tác phẩm của chính mình, Moro thầm nghĩ khi nhìn những chiếc gạt tàn đầy đầu lọc. Thời gian và sự cô đơn sóng đôi nhau, thuốc lá chính là minh chứng cho việc đó.
Những kỹ thuật viên của đội khoa học hình sự đang làm việc với những chiếc đèn tia cực tím và dụng cụ máy ảnh xung quanh những tàn tích để lại. Như thể họ tham dự hiện trường của một thảm họa những mẫu vật thu nhỏ.
Trong bếp, hai người trong số họ đang tháo dỡ và phân loại đồ trong một chiếc tủ lạnh chắc chắn đã hơn ba mươi năm tuổi. Ở đó sự hỗn độn cũng có vẻ như đã ngự trị hết năm này qua năm khác.
Phòng thứ ba là phòng vệ sinh. Gạch ốp tường màu trắng, bồn tắm bằng gốm đã ngả màu vàng, bồn cầu với một chồng tạp chí và những cuộn giấy vệ sinh ở bên. Trên bồn rửa tay là một cái kệ có duy nhất một chai kem cạo râu và một cái dao cạo bằng nhựa.
Cả Moro cũng sống một mình sau cuộc hôn nhân đầu tiên thất bại. Nhưng anh tự hỏi sao ông ta có thể ra nông nỗi như thế.
“Astolfi là một người cô độc và nhà ông ta thật kinh khủng.”
Người vừa lên tiếng là thanh tra Crespi. Chính ông ấy phụ trách việc khám xét.
Phó cảnh sát trưởng quay lại. “Ông để Vega ở ngoài chứ?”
“Vâng thưa ngài. Khi cô ấy hỏi tôi, tôi nói rằng chúng ta chẳng tìm thấy thứ gì quan trọng ở ngôi nhà này cả. Tôi đã làm cô ấy tin rằng Astolfi bị tâm thần và đã thủ tiêu một bằng chứng tại hiện trường vụ án trong một cơn bốc đồng không có lý do.”
“Tốt lắm.” Moro hài lòng, dù anh chưa hẳn đã tin Sandra Vega sẽ chấp nhận sự thật ấy mà không thắc mắc gì. Cô ta khá nhanh nhạy và sẽ không vừa lòng. Nhưng có thể phiên bản đó sẽ giữ cô ta yên lặng đôi chút. “Hàng xóm nói gì về Astolfi?”
“Một số người còn không biết là ông ta đã chết.”
Đám tang được cử hành vào đúng sáng hôm đó, nhưng chẳng ai tham dự. Thật đáng buồn, Moro thầm nghĩ. Chẳng ai thèm quan tâm đến sự ra đi của ông bác sĩ pháp y. Người đàn ông đó đã tạo ra một khoảng trống quanh mình. Một khoảng cách được nuôi dưỡng bằng sự thờ ơ trong hàng năm trời. Những con người duy nhất mà ông ta có quan hệ là những xác chết trên bàn giải phẫu của mình. Nhưng căn cứ vào nơi ở của ông ta, có thể thấy rằng Astolfi đã sống đời thầm lặng đó từ rất lâu trước khi tự sát.
“Ông ta có di chúc không? Ai sẽ được thừa kế tài sản của ông ta?”
“Ông ta chẳng để lại gì và cũng không có họ hàng,” Crespi nói. “Ngài có thể tưởng tượng ra một điều tương tự như thế không?”
Không, thực sự Moro không thể. Nhưng anh có bằng chứng về sự tồn tại của những người như vậy. Hơn một lần anh đã từng xông vào những căn nhà giống thế, đụng độ với những con người sở hữu món quà của sự vô hình. Xác của họ chỉ được phát hiện khi mùi hôi thối bốc tới những căn hộ của hàng xóm. Nhưng khi mùi đó bay hết, chẳng có gì của họ còn sót lại và họ lại rơi vào hư vô như chưa bao giờ từng tồn tại.
Astolfi thì có để lại thứ gì đó. Một thứ mà sẽ không làm người ta quên mình.
“Anh có muốn xem phần còn lại không?” Crespi hỏi.
Có những thứ nếu biết sẽ rất nguy hiểm, Moro thầm nhắc lại. Có những thứ tốt hơn không nên biết. Nhưng anh thuộc loại người không thể bỏ qua. “Có. Cùng xem nào.”
Đó là căn phòng trong cùng. Chính ở đó người ta đã tìm ra.
Có một chiếc giường đơn mà Astolfi ngủ. Sát cạnh đó là một tủ đầu giường với mặt bằng đá cẩm thạch, bên trên có đặt một cái đồng hồ báo thức cần phải lên giây, một chiếc đèn đọc sách, một cốc nước và một gạt tàn – vật không thể thiếu. Có một cái tủ bằng gỗ sẫm màu trông có vẻ rất nặng. Một cái ghế bành bọc nhung đã sờn và một túi đựng quần áo. Một chiếc đèn chùm ba nhánh và một ô cửa sổ kín mành.
Một phòng ngủ hết sức bình thường.
“Tôi tới đây bằng một chiếc xe không có dấu hiệu nhận diện và có đáy kép.” Moro thông báo. “Tôi muốn đem tất cả những bằng chứng về sở cảnh sát mà không bị phát hiện. Giờ hãy kể cho tôi mọi việc…”
“Chúng tôi đã kiểm tra bên trong tất cả các đồ đạc,” Crespi giải thích. “Lão điên đó không vứt thứ gì đi cả. Cứ như thể chứng kiến lại sự hiện diện vô ích của ông ta. Ông ta tích trữ đồ nhưng không có lưu niệm. Điều làm tôi bất ngờ nhất là chúng tôi không tìm thấy ảnh của ông ta hồi bé, cũng như ảnh của bố mẹ ông ta. Không có thư từ của bạn bè, cũng chẳng có lấy nổi một tấm bưu thiếp.”
Ông ta tích trữ đồ nhưng không có lưu niệm, Moro nhắc lại trong khi nhìn ngó xung quanh. Người ta có thể sống như vậy, không có mục đích gì sao? Nhưng có thể đó chính là điều mà Astolfi cố tình để mọi người thấy.
Một thế giới của những bí mật đen tối luôn ẩn giấu trong mỗi người.
“Chúng tôi vừa mới hoàn tất việc xới tung căn hộ và lúc đang chuẩn bị rời đi thì…”
“Chính xác là chuyện gì đã xảy ra?”
Crespi quay về phía bức tường sát cửa. “Có ba cái công tắc,” ông ta chỉ cho anh. “Cái đầu tiên để bật đèn chùm, cái thứ hai nối với chiếc đèn trên tủ đầu giường. Còn cái thứ ba thì sao?” Ông thanh tra ngừng lại. “Trong một ngôi nhà cũ đôi khi cũng có một vài cái công tắc không sử dụng được nữa. Nó ở đó trong nhiều năm và cuối cùng người ta chẳng nhớ nổi lúc trước dùng làm gì.”
Nhưng không phải trường hợp này. Moro với tay và ấn nút tắt đèn chùm và đèn đọc sách. Căn phòng chìm trong bóng tối. Tới lúc đó, phó cảnh sát trưởng bật công tắc thứ ba.
Một ánh sáng yếu ớt lan tỏa trong căn phòng. Nó phát ra từ miếng ốp của một chân tường. Một luồng sáng dài và mỏng manh lan từ góc này sang góc kia.
“Bức tường làm từ thạch cao,” ông thanh tra nói. “Ở phía bên kia ắt hẳn là một khoảng không, làm giảm kích thước nguyên bản của căn phòng.”
Moro hít một hơi thật sâu, băn khoăn không biết điều gì đang chờ đợi.
“Lối vào ở bên phải.” Crespi chỉ vào một điểm ở dưới, nơi có thấp thoáng một cái ô cửa rộng khoảng năm mươi centimet và cao chưa đầy bốn mươi. Rồi ông lại gần và lấy tay đẩy nó. Ổ khóa chìm bật mở, để lộ một lối vào.
Moro cúi người sát đất để ngó vào cái hốc.
“Khoan đã,” ông thanh tra ngăn anh lại. “Ngài cần biết chúng ta đang đối mặt với cái gì…”
Đoạn, ông ấn công tắc thêm lần nữa, tắt ánh sáng ở phía bên kia bức tường. Rồi ông đưa anh một cái đèn pin.
“Khi nào sẵn sàng, hãy nói cho tôi biết.” Crespi nói.
Moro quay về phía lối vào tối bưng. Anh nằm úp và dùng sức của hai tay để trườn về phía cánh cửa.
Ngay khi vừa mới vào bên trong, anh cảm thấy như bị tách khỏi phần còn lại của thế giới.
“Mọi chuyện ổn chứ?” Giọng nói của Crespi vang lên xa xăm và nghèn nghẹt, dù hai người họ chỉ cách nhau có một bức tường vài centimet.
“Ổn.” Moro đứng dậy đáp. Rồi anh bật đèn đang cầm trong tay.
Anh lia nó sang phải, rồi sang trái. Và chính ở chỗ đó, sâu trong cùng, ở phía đối diện với ô cửa hẹp, có thứ gì đó.
Một cái bàn nhỏ bằng gỗ. Trên đó có đặt một kiểu cấu trúc mô phỏng. Nó có vẻ nhẹ như một cái mạng nhện hay một cái bẫy chim. Nó cao khoảng ba mươi centimet và được làm từ những cành cây đan chồng lên nhau.
Moro cẩn thận lại gần, cố tìm hiểu ý nghĩa của mô hình. Hình dáng của nó không nói lên điều gì, có vẻ như những mẩu gỗ được xếp lại một cách tình cờ. Một tác phẩm hoàn hảo, anh tự nhủ khi nghĩ đến những lọ hồ và bút lông nhìn thấy trong phòng làm việc. Nhưng khi đứng trước mặt nó, anh mới nhận ra mình đã lầm.
Đó không phải là cành cây, mà là những mẩu xương. Nhỏ và thâm đen. Nhưng không phải xương người, mà là xương động vật. Phó cảnh sát trưởng tự hỏi sao lại có thể như vậy được. Ai có thể nghĩ ra trò này chứ?
Anh thấy có một cái bóng đèn được treo trên một sợi dây ròng từ trần nhà xuống và kết thúc đúng ở phía sau công trình điêu khắc mọi rợ đó.
“Tôi sẵn sàng rồi.” Anh nói to.
Anh tắt đèn và ngay lập tức ở bên ngoài Crespi bật lại cái công tắc. Ngọn đèn hoạt động, tỏa ra ánh sáng vàng nhạt.
Nhưng Moro không hiểu. Có điều gì lạ lùng ở đây?
“Giờ anh hãy quay lại,” ông thanh tra nói.
Phó cảnh sát trưởng làm theo. Khi nhìn thấy, anh giật bắn người. Một cảm giác anh sẽ không thể quên chừng nào còn sống.
Trên bức tường đối diện, bóng của anh đè lên bóng của cấu trúc xương đang được bóng đèn chiếu sáng.
Những mẩu xương đó không phải được ghép lại một cách ngẫu hứng. Bằng chứng là hình ảnh nó tạo thành trên bức tường.
Một hình người khá cao. Một thân người với cái đầu sói.
Một con sói với hai hốc mắt trống rỗng. Nhưng điều kinh hãi nhất là nó đang dang tay. Đó là hình ảnh làm Moro giật mình.
Cái bóng của sinh vật đó đang ôm lấy bóng của anh.