Vatican là quốc gia nhỏ nhất trên thế giới.
Chưa đầy nửa cây số vuông, nằm chính giữa trung tâm của Roma. Lãnh địa của nó trải dài phía sau Vương cung thánh đường Thánh Pietro. Biên giới của quốc gia được bảo vệ bởi một bức tường thành vững chắc.
Xưa kia toàn bộ Thành phố Vĩnh hằng thuộc về Giáo hoàng. Nhưng từ khi Roma trở thành một phần của Vương quốc Italia mới khai sinh, năm 1870, Giáo hoàng lùi về bên trong phần lãnh thổ lọt thỏm đó và tiếp tục thực thi quyền lực của mình. Là một quốc gia tự trị, Vatican có lãnh thổ, dân tộc và bộ máy chính quyền riêng. Công dân của họ gồm giới tu sĩ – những người đã thề trước Chúa – và dân thường. Một số sống bên trong thành, số khác bên ngoài, trên lãnh thổ của Italia, và mỗi ngày họ lại tất tả tới chỗ làm hay đến một trong rất nhiều văn phòng và cơ quan bộ, thông qua một trong năm cánh cửa ra vào.
Bên trong thành có đủ hạ tầng cơ sở và dịch vụ. Một siêu thị, một bưu điện, một bệnh viện nhỏ, một hiệu thuốc, một tòa án phán xử theo luật giáo hội và một nhà máy điện nhỏ. Thậm chí có cả một sân bay trực thăng và một nhà ga, nhưng chỉ để phục vụ cho việc di chuyển của Giáo hoàng.
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Latin.
Bên cạnh Vương cung thánh đường, dinh thự của Giáo hoàng và các tòa nhà của chính phủ, không gian của thành phố nhỏ còn có những khu vườn mênh mông và bảo tàng Vatican, nơi hằng ngày đón tới hàng ngàn du khách từ khắp nơi trên thế giới. Kết thúc chuyến tham quan, họ ngửa mặt lên trời chiêm ngưỡng mái vòm tuyệt diệu của Nhà nguyện Sistina với bức tranh tường Phán quyết cuối cùng của Michelangelo.
Chính đó là nơi phát báo động.
Vào khoảng 16 giờ, hai tiếng trước giờ đóng cửa chính thức của các bảo tàng, lính gác bắt đầu lịch sự đuổi khéo du khách mà không giải thích gì. Đúng lúc đó, trong phần còn lại của tiểu quốc gia, những người không phải tu sĩ được yêu cầu trở về nơi ở của mình trong hay ngoài thành. Những người sống ở bên trong không thể ra khỏi nhà cho tới khi có mệnh lệnh mới. Yêu cầu này được áp dụng với cả giới tu sĩ, họ được mời trở về tư gia hoặc lui về rất nhiều những tu viện ở trong thành.
Đội vệ binh Thụy Sĩ – quân đội của Giáo hoàng với những thành viên được tuyển mộ chỉ ở các bang Thụy Sĩ theo đạo Thiên chúa giáo từ năm 1506 – nhận lệnh phong tỏa mọi lối vào thành phố, bắt đầu từ cổng chính Thánh Anna. Đường dây điện thoại trực tiếp bị ngắt và tín hiệu di động bị cấm.
Vào hồi 18 giờ ngày mùa đông giá buốt đó, thành trì hoàn toàn bị cô lập với phần còn lại của thế giới. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Không ai ngoại trừ hai con người đang băng qua sân Thánh Damaso và hành lang Raffaello trong đêm tối.
Nhà máy điện đã ngừng cung cấp năng lượng cho toàn bộ khu vực vườn tược rộng lớn. Tiếng bước chân của họ âm vang trong sự tĩnh lặng tuyệt đối.
“Phải khẩn trương lên, chúng ta chỉ có ba mươi phút.” Clemente nói.
Marcus ý thức rằng việc cách ly không thể kéo dài lâu, nếu không ai đó bên ngoài sẽ nảy sinh nghi ngờ. Theo những gì cậu bạn truyền đạt lại, họ đã sớm chuẩn bị một phiên bản cho giới truyền thông: lý do chính thức của việc cách ly đó là một cuộc tập dượt cho kế hoạch sơ tán mới trong trường hợp nguy hiểm.
Còn lý do thực sự phải hoàn toàn được bảo mật.
Hai thầy tu bật đèn pin để chui vào những khu vườn. Chúng rộng hai mươi ba hecta, chiếm một nửa toàn bộ diện tích lãnh thổ của Vatican, được chia thành khu vườn của Ý, của Anh và của Pháp, tập hợp những loài thực vật đến từ mọi nơi trên thế giới. Chúng là niềm tự hào của mỗi Giáo hoàng. Rất nhiều vị đã bách bộ, ngồi thiền và cầu nguyện giữa những tán cây đó.
Marcus và Clemente băng qua những con lộ hai bên là hàng rào hoàng dương, được những người thợ làm vườn tạo hình hoàn hảo chẳng khác nào những tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch. Họ di chuyển dưới những tán cọ lớn và những cây thanh yên Liban, trong âm thanh của hàng trăm đài phun nước trang trí trong khu vườn. Họ bước vào vườn hồng của Giovanni XXIII, nơi những bông hồng mang tên của chính vị Giáo hoàng này nở rộ vào mùa xuân.
Bên ngoài bức tường thành cao lớn là giao thông ồn ã của Roma. Nhưng, ở phía bên trong là sự yên ả và tĩnh lặng tuyệt đối.
Thế nhưng, nó không hề yên bình, Marcus nhận định. Ít nhất là không còn như thế nữa. Nó đã bị hủy hoại bởi chuyện xảy ra vào trưa hôm đó, khi họ phát hiện ra vụ việc.
Tại chỗ mà hai linh mục ân giải đang hướng tới, khung cảnh thiên nhiên không được chăm chút như phần còn lại của khu vườn. Quả thực, bên trong lá phổi xanh có một nơi mà ở đó, cây cối có thể tự do phát triển. Một khu rừng rộng hai hecta.
Công việc duy nhất mà họ tiến hành định kỳ là thu lượm cành khô. Và đó cũng là việc mà thợ làm vườn – người gọi báo động – khi ấy đang chuẩn bị làm.
Marcus và Clemente trèo lên một ngọn đồi. Khi tới đỉnh, họ rọi đèn vào thung lũng nhỏ ở phía dưới, ở chính giữa cảnh binh – lực lượng cảnh sát của Vatican – đã khoanh một vùng nhỏ bằng dây màu vàng. Họ đã tiến hành điều tra vụ việc và hoàn tất mọi công đoạn khảo sát, rồi nhận lệnh rời khỏi hiện trường.
Marcus tiến tới gần biên giới có dải ngăn cách và rọi đèn pin.
Một thân người.
Trần truồng. Nó làm anh nhớ ngay đến Tượng bán thân Belvedere, bức tượng Hercule khổng lồ và què cụt, được bảo quản trong chính những bảo tàng Vatican và cũng là nguồn cảm hứng của Michelangelo. Nhưng chẳng có gì thi vị trong những phần còn lại của người phụ nữ khốn khổ đã phải gánh chịu hành động súc sinh đó. Kẻ nào đó đã chặt rời đầu, tay và chân của bà ta. Chúng ở cách đó vài mét, vương vãi cùng bộ quần áo sẫm màu, tả tơi.
“Có biết là ai không?”.
“Một bà sơ.” Clemente trả lời. “Có một tu viện kín không lớn lắm ở phía bên kia khu rừng,” cậu ta vừa nói vừa chỉ về phía trước. “Danh tính của bà ta vẫn còn bí ẩn, đó là một trong số những luật lệ của dòng tu mà bà ta tham gia. Nhưng tôi tin rằng tới nước này cũng chẳng khác gì.”
Marcus cúi xuống đất để quan sát thi thể kỹ hơn. Da thịt trắng tinh, bộ ngực lép và vùng kín bị phơi bày một cách lõa lồ. Tóc vàng ngắn cũn cỡn trước kia bị mạng che kín giờ lộ ra trên cái đầu bị cắt lìa. Đôi mắt xanh biếc, ngước lên trời như đang cầu nguyện. Bà là ai? Vị linh mục ân giải hỏi bà ta qua ánh mắt. Tại sao lại có số phận tồi tệ hơn cả cái chết: chết mà không có tên. Ai đã khiến bà ta ra nông nỗi này?
“Thi thoảng, những bà sơ thường dạo bộ trong rừng,” Clemente tiếp tục. “Ở đây chẳng có ai lai vãng, và họ có thể cầu nguyện trong yên bình.”
Nạn nhân đã chọn tu kín, Marcus thầm nghĩ. Bà ta trở thành tu sĩ để tránh xa nhân loại, cùng với những nữ tu khác. Chẳng ai có thể nhìn thấy mặt bà. Thế mà giờ đây bà ta lại trở thành màn trình diễn ghê tởm cho sự ác độc của kẻ nào đó.
“Khó có thể hiểu được sự lựa chọn của những nữ tu sĩ này, rất nhiều người nghĩ rằng họ có thể đi làm phước cho mọi người thay vì giam mình giữa những bức tường của tu viện.” Clemente khẳng định, cứ như thể cậu ta đọc được những suy nghĩ của anh. “Nhưng bà tôi thường nói rằng: Cháu không biết những bà sơ này đã bao lần cứu vớt thế giới bằng những lời cầu nguyện của họ đâu.”
Marcus không biết có nên tin hay không. Với những gì anh biết, trước một cái chết như ở đây, không thể nói rằng thế giới đã được an lành.
“Hàng thế kỷ nay, ở đây chưa bao giờ xảy ra một việc nào tương tự như thế,” cậu bạn bổ sung. “Chúng ta không được chuẩn bị. Cảnh binh sẽ tiến hành điều tra bên trong, nhưng họ không có phương tiện để xử lý một trường hợp như vậy. Bởi thế chẳng có bác sĩ pháp y hay cảnh sát khoa học hình sự nào. Chẳng có khám nghiệm tử thi, phân tích dấu vân tay hay ADN.”
Marcus quay lại nhìn cậu ta. “Vậy tại sao lại không đề nghị sự giúp đỡ của giới chức trách Ý?”
Theo hiệp ước gắn kết hai quốc gia, Vatican có thể cầu viện tới cảnh sát Ý trong trường hợp cần thiết. Nhưng người ta chỉ cần hỗ trợ để kiểm soát vô số những tín đồ hành hương đổ về Vương cung thánh đường hoặc để ngăn chặn những vụ phạm tội lặt vặt xảy ra ở quảng trường đối diện. Cảnh sát Ý không có quyền tài phán ở phía bên kia bậc thang dẫn tới lối vào nhà thờ Thánh Pietro. Nếu không có yêu cầu đặc biệt.
“Điều đó sẽ không xảy ra, họ đã quyết định vậy.” Clemente khẳng định.
“Làm sao tôi có thể điều tra ở phía bên trong Vatican mà không ai nhận ra tôi, hay tồi tệ hơn, phát hiện ra tôi là ai?”
“Quả thực anh sẽ không thể làm được. Dù đó là ai thì hắn cũng từ bên ngoài vào.”
Marcus không hiểu. “Làm sao cậu biết được?”
“Chúng tôi biết mặt hắn.”
Câu trả lời làm Marcus ngạc nhiên.
“Thi thể đã ở đây được ít nhất tám, chín tiếng,” Clemente tiếp tục. “Vào sáng sớm hôm nay, camera an ninh đã ghi được hình của một kẻ tình nghi lởn vởn trong khu vườn. Hắn ta mặc đồ phục vụ, nhưng người ta phát hiện có một bộ đã bị đánh cắp.”
“Tại sao lại là hắn?”
“Anh tự nhìn xem.”
Clemente đưa anh bản in của một hình ảnh trong máy quay. Một người đàn ông mặc bộ đồ thợ làm vườn, một phần khuôn mặt bị che khuất bởi chiếc mũ lưỡi trai. Người Kavkaz, khó xác định tuổi tác nhưng chắc chắn ngoài năm mươi. Hắn mang theo mình một cái túi khoác vai màu xám, phía dưới đáy thoáng thấy một vệt tối màu.
“Cảnh binh chắc chắn rằng trong đó có một cái rìu nhỏ hoặc một vật tương tự như thế. Hắn hẳn vừa mới dùng nó, vết mà anh nhìn thấy có thể là máu.”
“Tại sao lại là một cái rìu?”
“Vì đó là vũ khí duy nhất có thể tìm thấy ở đây. Người ta đã loại trừ trường hợp hắn có thể mang thứ gì đó từ bên ngoài vào, thoát được hàng rào an ninh, lính canh và máy dò kim loại.”
“Nhưng hắn đã mang nó theo để xóa dấu vết, trong trường hợp cảnh binh có thể cầu viện cảnh sát Ý.”
“Ở lối ra đơn giản hơn rất nhiều, không bị kiểm soát. Hơn nữa, để đi ra mà không bị ai chú ý chỉ cần hòa mình vào dòng người hành hương hoặc du khách.”
“Một cái rìu làm vườn…”
“Họ vẫn đang kiểm tra xem còn thiếu thứ gì không.”
Marcus quan sát thêm lần nữa những phần thi thể của nạn nhân. Vô thức, một tay anh nắm chặt chiếc mề đay đeo ở cổ với hình Thánh Michele Arcangelo đang vung lưỡi gươm lửa. Người bảo hộ của những linh mục ân giải.
“Chúng ta phải đi thôi.” Clemente khẳng định. “Hết giờ rồi.”
Đúng lúc đó, một tiếng xào xạc chạy dọc khu rừng. Nó đang tiến về phía họ. Marcus ngước mắt lên, thấy một đội quân bóng đen ló ra từ đêm tối và đang tiến đến. Một vài người cầm nến trong tay. Dưới quầng sáng yếu ớt của những đốm lửa, anh nhận ra một nhóm người trùm kín đầu. Họ mang mạng xám che mặt.
“Những nữ tu cùng dòng với bà ta.” Clemente nói. “Họ tới để đưa bà ta đi.”
Khi sống, chỉ có họ mới biết vẻ ngoài của bà ta. Khi chết họ cũng chính là những người duy nhất có thể chăm sóc cho thi thể của bà ấy. Đó là luật.
Clemente và Marcus lùi bước để trả lại hiện trường. Và thế là những bà sơ đứng lặng yên quanh những phần thi thể tội nghiệp. Ai cũng biết việc phải làm. Một vài người trải vải trắng, số khác nhặt từ dưới đất những phần thi thể.
Chỉ bấy giờ Marcus mới nhận ra âm thanh. Một tiếng thì thào phát ra từ sau lớp mạng che mặt. Một câu kinh. Họ đang cầu nguyện bằng tiếng Latin.
Clemente tóm lấy tay anh kéo đi. Nhưng đúng lúc Marcus đang định theo cậu ta, thì một trong số những bà sơ bước lại gần anh. Và anh nghe thấy rõ mồn một.
“Hic est diabolus.”
Quỷ dữ đang ở đây.