Thông Minh Cảm Xúc 2.0

Lượt đọc: 317 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
hiểu về bốn kỹ năng

Để có thể thật sự nâng cao khả năng trong bốn kỹ năng trí tuệ cảm xúc, bạn cần hiểu rõ hơn về từng kỹ năng và cách nó thể hiện trong thực tế.

Để có thể thật sự nâng cao khả năng trong bốn kỹ năng trí tuệ cảm xúc, bạn cần hiểu rõ hơn về từng kỹ năng và cách nó thể hiện trong thực tế. Bốn kỹ năng trí tuệ cảm xúc có thể chia thành hai nhóm năng lực cơ bản: năng lực cá nhân và năng lực xã hội. Năng lực cá nhân được hình thành từ khả năng tự nhận thức và làm chủ bản thân của bạn, những khả năng vốn chú trọng vào cá nhân bạn hơn là những mối tương tác giữa bạn với người khác. Năng lực cá nhân là khả năng nhận diện cảm xúc của mình và kiểm soát hành vi, xu hướng của mình. Năng lực xã hội được hình thành từ kỹ năng nhận thức xã hội và làm chủ mối quan hệ; năng lực xã hội là khả năng thấu hiểu tâm trạng, hành vi và động cơ của người khác để làm tăng chất lượng các mối quan hệ của bạn.

Bốn kỹ năng này kết hợp với nhau tạo thành trí tuệ cảm xúc. Hai kỹ năng trên cùng, tự nhận thức và làm chủ bản thân, chú trọng đến cá nhân bạn nhiều hơn. Hai kỹ năng bên dưới, nhận thức xã hội và làm chủ mối quan hệ, tập trung vào cách bạn giao tiếp với người khác.

Tự nhận thức

Tự nhận thức (hay còn gọi là Nhận thức về bản thân ) là khả năng bạn nhận biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó. Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối với những sự việc, thách thức và đối tượng cụ thể. Hiểu biết thấu đáo về khuynh hướng của bản thân đóng vai trò rất quan trọng; nó giúp bạn nhanh chóng nắm bắt được cảm xúc của mình. Khả năng tự nhận thức tốt đòi hỏi bạn sẵn sàng chịu đựng sự khó chịu khi phải chú ý đến những cảm xúc đôi khi tiêu cực.

Cách duy nhất để thấu hiểu cảm xúc của mình là dành một khoảng thời gian cần thiết để suy nghĩ về chúng, nhằm tìm ra nguồn cơn và tại sao chúng lại xuất hiện. Cảm xúc bao giờ cũng có lý do của nó. Bởi cảm xúc phản ánh những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn, và chúng luôn bắt nguồn từ một nguyên do nào đó. Đôi khi, cảm xúc như từ trên trời rơi xuống, và quan trọng là hiểu được tại sao sự việc đó lại khiến mình phản ứng như vậy. Những ai làm được việc này sẽ nhanh chóng tìm ra cốt lõi của cảm xúc. Những tình huống gây ra xúc cảm mạnh mẽ thường đòi hỏi bạn phải suy nghĩ kỹ càng, và chính việc bình tâm suy nghĩ này sẽ giúp bạn tránh được những hành động đáng tiếc về sau.

Tự nhận thức không phải là khám phá những bí mật thầm kín, đen tối hoặc những động cơ vô thức mà là phát triển một sự hiểu biết chân xác và trung thực về những điểm mạnh của bản thân. Những người có khả năng tự nhận thức cao là những người đặc biệt hiểu rõ về những gì họ làm tốt, những gì thôi thúc và khiến họ thỏa mãn, cả về những đối tượng và hoàn cảnh khiến họ phải lưu tâm.

Một điều đáng ngạc nhiên về tự nhận thức là chỉ cần nghĩ về nó thôi đã đủ giúp bạn cải thiện kỹ năng, cho dù thoạt đầu bạn có khuynh hướng tập trung vào những gì bạn làm “sai.” Đạt được khả năng tự nhận thức có nghĩa là bạn không còn sợ mình “sai lầm” trong cảm xúc nữa. Nó cho bạn biết nên làm gì khác đi và mang đến cho bạn nguồn thông tin ổn định mà bạn cần biết khi cuộc sống tiếp diễn.

Tự nhận thức là kỹ năng căn bản; một khi đã có nó, bạn sẽ vận dụng những kỹ năng trí tuệ cảm xúc khác dễ dàng hơn nhiều. Khi mức độ tự nhận thức tăng lên, sự thỏa mãn của con người trong cuộc sống – được định nghĩa là khả năng họ có thể đạt được những mục tiêu trong công việc và cuộc sống gia đình – sẽ gia tăng đột biến. Tự nhận thức đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với thành tích cá nhân, đến mức 83% những người có mức độ tự nhận thức cao là những người đứng đầu về hiệu suất công việc, và chỉ có 2% những người có kết quả làm việc kém lại có khả năng tự nhận thức cao mà thôi. Tại sao lại có chuyện như vậy? Khi bạn biết tự nhận thức, nhiều khả năng bạn theo đuổi đúng cơ hội hơn, bạn biết cách vận dụng thế mạnh của mình vào công việc và – có lẽ điều quan trọng nhất – không để cho cảm xúc ngăn trở mình.

Nhu cầu về sự tự nhận thức chưa bao giờ cao như lúc này. Từ trước đến nay, nhiều người vẫn nghĩ theo một quan điểm sai lầm rằng tâm lý học chỉ nhằm mục đích chữa bệnh, thế nên chúng ta cho rằng thời điểm duy nhất nhìn lại bản thân là lúc phải đối mặt với khủng hoảng. Chúng ta có xu hướng chấp nhận những gì mình cảm thấy thoải mái và che đậy những thứ khiến ta cảm thấy bất an. Nhưng thật ra, một bức tranh toàn cảnh mới cho ta thấy rõ mọi thứ. Càng hiểu rõ về mặt tốt đẹp và mặt hạn chế bao nhiêu thì chúng ta càng phát huy toàn bộ tiềm năng của mình tốt bấy nhiêu.

Biểu hiện của tự nhận thức

Dave T., Giám đốc Dịch vụ Vùng

Điểm tự nhận thức = 95

Đồng sự nói gì về anh:

“Dave có những mục tiêu dài hạn rất rõ ràng và anh ấy không bao giờ hy sinh chúng chỉ vì những lợi ích trước mắt. Dave là người ngay thẳng không bao giờ đánh đố người khác. Tôi từng chứng kiến điều này trong các cuộc họp công ty và những buổi gặp mặt với khách hàng.”

“Ví dụ hay nhất mà tôi có thể nói về Dave là khi anh chuyển vào làm trong công ty chúng tôi. Tôi chắc rằng trước khi đặt chân vào công ty, Dave đã rất muốn thực hiện những thay đổi trong nội bộ nhóm, nhưng anh đã hết sức cẩn trọng nghiên cứu tình hình công việc, tình hình nhóm và khách hàng trước khi đưa ra những đề xuất hoặc những chỉ thị thay đổi.”

“Nói ngắn gọn, Dave làm chủ cảm xúc tốt; chúng không hề chi phối anh. Tôi từng chứng kiến cảnh anh chấp nhận những tin tức khó khăn trong kinh doanh chỉ với một cái chau mày, ngay sau đó anh nhanh chóng vượt qua và cùng đội nhóm của mình tìm ra giải pháp để cải thiện tình thế.”

Maria M., Giám đốc Nhân sự

Điểm tự nhận thức = 90

Đồng sự nói gì về cô:

“Trong tất cả những tình huống mà tôi biết thì dù xấu hay tốt, Maria luôn giữ được bình tĩnh, nhẹ nhàng và tự chủ – thậm chí cả trong những lúc tôi biết rằng cô đang chán nản hoặc giận dữ ghê lắm. Maria luôn sống thật với những gì cô cảm nhận mà không để chúng biến đổi mình. Khi đối mặt với những tình huống khó khăn, cô biết cách làm thế nào để vừa kiên quyết nhưng vẫn rất từ tốn.”

“Chị ấy lúc nào cũng cởi mở và đáng tin cậy, và điều đó thật sự ý nghĩa đối với tất cả những ai mà chị ấy tương tác. Tôi nghĩ Maria không nên thay đổi: tuy vậy, chị ấy có thể cứng rắn hơn một chút trong một số tình huống. Chị ấy biết điều này và luôn lưu ý để tránh không cho tình cảm cá nhân xen vào công việc.”

“Trong những tình huống khó khăn đối với các nhân viên, Maria luôn chú ý đến giọng điệu của mình và thường cố gắng giữ cho cuộc trò chuyện trong tầm kiểm soát. Mọi người trong công ty đều tin tưởng chị ấy.”

Biểu hiện của thiếu khả năng tự nhận thức

Tina J., Giám đốc Tiếp thị

Điểm tự nhận thức = 69

Đồng sự nói gì về cô:

“Thỉnh thoảng, sự căng thẳng và vẻ khẩn trương của Tina lây sang người khác. Sẽ tốt hơn nhiều nếu Tina hiểu được rằng chính cách xử sự của chị ấy có tác động xấu đến công việc của người khác và khiến mọi người căng thẳng. Thậm chí, đôi khi chị ấy tỏ vẻ quá bảo thủ hoặc quá hung hăng, vì thế Tina nên có ý thức hơn nữa về giọng điệu và ngôn ngữ của mình, vậy sẽ tốt hơn.”

“Khi mọi việc suôn sẻ với Tina, trí tuệ cảm xúc của cô ấy mạnh mẽ hơn. Cô ấy cần học cách hiểu về bản thân và nhận ra những tác nhân kích thích để có thể phản ứng hiệu quả hơn khi bị kích.”

“Cô ấy cần biết mọi người nhìn mình như thế nào. Có những lúc cô ấy quá sách nhiễu, nhưng tôi không tin là cô ấy cố tình như vậy.”

Giles B., Giám đốc Kinh doanh

Điểm tự nhận thức = 67

Đồng sự nói gì về anh:

“Giles quá bó hẹp trong thế giới nhỏ của riêng mình. Anh ấy thật ra cũng có quan tâm đến đồng nghiệp, nhưng dường như không biết đâu là giới hạn. Tính anh ấy có thể lấn át người khác, nhưng anh ấy không biết lúc nào người khác cảm thấy bực mình, chán nản hay bị anh ta đàn áp.”

“Mỗi khi làm việc với khách hàng, anh ấy nói rất hay về sản phẩm và dịch vụ mà công ty chúng tôi mang lại. Nhưng trong nhóm làm dự án, đôi khi anh ấy quá tập trung vào kết quả mà quên đi quá trình. Nếu một lúc nào đó anh ấy ổn định cảm xúc, và thử xem xét những phương án khác nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn, mọi thứ có lẽ sẽ suôn sẻ hơn.”

“Giles rất đam mê những gì anh làm. Nhưng đôi khi niềm đam mê ấy gây trở ngại. Anh ấy không nhận ra tôi đang bận lo việc của mình thế là nhảy bổ vào và bắt chuyện. Khi anh ấy phấn khích thì bạn đừng mong chen vào được một lời. Anh ấy không cố tình; chỉ là anh ấy quá phấn khích với những việc mình làm mà thôi.”

Làm chủ bản thân

Làm chủ bản thân là khi bạn quyết định hành động – hoặc không hành động. Nó phụ thuộc vào sự tự nhận thức của bạn và là yếu tố thứ hai trong năng lực cá nhân. Làm chủ bản thân là khả năng vận dụng nhận thức về cảm xúc của chính bạn để luôn linh hoạt và hành động đúng đắn. Nó còn có nghĩa là khả năng kiểm soát được những phản ứng cảm tính của bạn trước những trường hợp và con người cụ thể. Một số cảm xúc gây ra nỗi sợ hãi khiến bạn tê liệt và mụ mị đến mức không biết làm gì cho phải – giả sử bạn có thể làm được một điều gì đó. Trong những trường hợp như vậy, kỹ năng làm chủ bản thân thể hiện qua khả năng chấp nhận cảm giác mơ hồ, trong lúc tìm hiểu cảm xúc và những phương án hành động của mình. Một khi bạn hiểu và tạo dựng cảm giác thoải mái với những cảm xúc của mình, bạn sẽ tự biết hành động nào là phù hợp nhất.

Tạm gác sang một bên những nhu cầu tức thời để theo đuổi mục tiêu lớn lao và quan trọng hơn sẽ mang lại kết quả đáng kể.

Làm chủ bản thân không đơn thuần là chống lại cảm xúc bộc phát và cư xử khó hiểu. Thách thức lớn nhất mà người ta phải đối mặt là làm chủ khuynh hướng của mình qua thời gian và áp dụng những kỹ năng này vào những tình huống khác nhau. Những cơ hội làm chủ bản thân rõ ràng và ngắn ngủi (ví dụ, “Tôi bực con chó đáng ghét này quá đi mất!”) là những lúc dễ dàng nhất để bạn nhận ra và làm chủ cảm xúc. Tạm gác sang một bên những nhu cầu tức thời để theo đuổi mục tiêu lớn lao và quan trọng hơn sẽ mang lại kết quả đáng kể. Việc nhận ra những mục tiêu đó thường gặp trở ngại, có nghĩa là lòng quyết tâm làm chủ bản thân của bạn sẽ bị thử thách nhiều lần. Những người làm chủ bản thân giỏi nhất là những người có thể nhìn thấu đáo mọi chuyện mà không cần phải quá trấn áp nó. Thành công chỉ đến với những ai có thể tạm gác nhu cầu của mình sang một bên và không ngừng kiểm soát khuynh hướng tự nhiên.

Biểu hiện của làm chủ bản thân

Lane L., Quản lý trung tâm chăm sóc sức khỏe

Điểm làm chủ bản thân = 93

Đồng sự nói gì về cô:

“Lane là ví dụ điển hình cho lòng kiên nhẫn và sự thấu hiểu trong những cuộc họp nảy lửa và nhạy cảm. Trong khi những người chung quanh có thể hoàn toàn bị lôi kéo vào những cuộc tranh luận gay gắt, thì Lane vẫn bình thản lắng nghe một cách chủ động và đáp lại đầy vẻ hiểu biết và khôn khéo.”

“Tôi đã tận mắt chứng kiến việc cô xử lý khéo léo như thế nào trong những tình huống khó khăn (ví dụ như chấm dứt hợp đồng lao động với một nhân viên). Lane là người nhạy cảm, tuy vậy cô rất trực tính và luôn đi thẳng vào vấn đề. Cô kiên nhẫn lắng nghe và đặt ra tiêu chuẩn cao trong cách hành xử.”

“Lane là người rất tuyệt vời trong giao tiếp. Cô giao tiếp rất tốt và suy nghĩ độc lập. Phản ứng của cô trong những lúc khủng hoảng thật xuất sắc. Khả năng phân biệt rõ cảm xúc và lý trí khiến cô trở thành một nhà quản lý tốt và khéo léo. Tôi chỉ ước gì có thêm nhiều người giống cô ấy.”

Yeshe M., lập trình viên máy tính

Điểm làm chủ bản thân = 91

Đồng sự nói gì về anh:

“Yeshe xử trí các tình huống căng thẳng, xung đột rất tốt. Bất kể Giám đốc Dự án thúc ép đến mức nào, anh vẫn không bao giờ mất đi vẻ điềm tĩnh! Điều này khiến anh rất được lòng Giám đốc Dự án. Anh còn có thể làm việc được cả với những người có phong cách làm việc anh vốn không ưa. Tôi biết, làm việc với những người như vậy sớm muộn gì bạn cũng nản, nhưng Yeshe không bao giờ mất kiên nhẫn.”

“Tôi từng chứng kiến Yeshe rơi vào tình thế nản lòng vô cùng, công việc của anh không thể hoàn tất chỉ vì người khác không làm tròn phận sự của họ. Nhưng anh đã xử lý một cách lịch sự và chuyên nghiệp. Mặc dù đang rất khó chịu nhưng anh vẫn kiên nhẫn giải thích lại quy trình một lần nữa nhằm tìm được giải pháp tối ưu.”

“Tôi chưa bao giờ nghe thấy Yeshe nói xấu bất kỳ ai bất đồng ý kiến với anh. Chuyện nói xấu người khác sau lưng diễn ra hàng ngày, nhưng anh không bao giờ bị thói xấu đó cám dỗ, kể cả khi anh rất bức xúc.”

Biểu hiện của thiếu khả năng làm chủ bản thân

Jason L., chuyên gia tư vấn công nghệ thông tin

Điểm làm chủ bản thân = 59

Đồng sự nói gì về anh:

“Trong những tình huống căng thẳng hoặc khi có vấn đề xảy ra, Jason thường phản ứng quá nóng vội, quá gay gắt hoặc không đúng chỗ. Giá như Jason dành thời gian để bình tâm và chậm lại một chút trước khi phản ứng. Anh ấy quá cảm tính. Tôi đã chứng kiến các đồng nghiệp của anh cư xử đầy hoài nghi bởi cái cách anh giao tiếp với họ. Jason là người tốt nhưng có thể trở nên hốt hoảng khi bị căng thẳng. Phản ứng của anh khiến những đồng sự phiền lòng.”

“Jason cần chú ý hơn về những lời nói bộc phát, và phải biết những chuyện như vậy ảnh hưởng như thế nào đối với khách hàng lẫn đồng nghiệp. Anh ấy không phải là người xấu tính; anh cũng rất quan tâm đến người khác nhưng vẫn có những câu nói lỡ lời – anh phải suy nghĩ thấu đáo trước khi để cho cảm xúc bộc phát. Khi anh ấy căng thẳng, vấn đề này càng xảy ra thường xuyên hơn… Như người ta thường nói, đừng để giận mất khôn.”

“Jason để cho cảm xúc điều khiển hành vi của anh. Đôi khi anh ấy hành động và phát ngôn quá vội vàng. Giá như anh ấy kiên nhẫn một chút để xem sự thể ra sao rồi hẵng phản ứng. Rất nhiều lần mọi việc tự nhiên ổn thỏa hoặc không quá khẩn cấp như anh ấy tưởng, nhưng chưa gì thì anh ấy đã khiến mọi thứ rối tung lên bởi hàng loạt câu nói.”

Mei S., Giám đốc Bán hàng Khu vực

Điểm làm chủ bản thân = 61

Đồng sự nói gì về cô:

“Mei không cần phải bộc tuệch đến thế. Nhân viên của cô không cần phải biết đến tận chân tơ kẽ tóc về những khó khăn trong công ty. Nếu có chuyện gì đó khiến cô lo nghĩ, cô cần học cách giữ điều đó trong lòng. Khi cô ấy không vui, cô khiến cả nhóm rầu rĩ theo. Mei có xu hướng bộc lộ sự căng thẳng trong một số tình huống nhất định, và bởi cô là lãnh đạo, nên điều đó gây tác động tiêu cực lên nhóm của cô, nó gây ra sự căng thẳng và cảm xúc tiêu cực hơn là giải tỏa.”

“Mei có vẻ khó lòng mở miệng chúc mừng đồng nghiệp khi họ hoàn thành công việc, giống như cô ấy ganh tị. Cứ như tôi đang ganh đua với cô ấy chứ không phải cô ấy mong tôi thành công. Tôi nghĩ Mei là một chuyên gia bán hàng tuyệt vời và cô ấy đối xử với khách hàng rất tốt. Tôi mong cô ấy cũng đối xử với nhân viên của mình như thế.”

“Mei cần trở nên chủ động thay vì chỉ biết phản ứng lại. Trong những thời điểm khủng hoảng, cô không nên lộ ra cho mọi người thấy cô căng thẳng như thế nào. Cô ấy cứ chăm chăm vào thành tích cá nhân, thế nên tôi nghĩ cô ấy nghĩ cho bản thân mình quá nhiều. Cô ấy phải đảm nhận một khối lượng lớn công việc khi điều hành đội West Coast, nhưng cô ấy cần kiềm chế cảm xúc của mình khi người khác nêu ra những vấn đề của họ trong các buổi họp.”

Nhận thức xã hội

Là yếu tố đầu tiên trong năng lực xã hội, nhận thức xã hội là kỹ năng nền tảng. Nhận thức xã hội là khả năng nhận biết chính xác những cảm xúc của người khác và thấu hiểu điều gì đang xảy ra với họ. Thông thường điều này đồng nghĩa với việc bạn hiểu những gì người khác suy nghĩ và cảm nhận mặc dù bạn không đồng cảm. Chúng ta rất dễ mắc kẹt trong cảm giác của mình mà quên không cân nhắc đến quan điểm của người khác. Nhận thức xã hội bảo đảm bạn luôn tập trung và thu thập được những thông tin quan trọng.

Lắng nghe và quan sát là hai yếu tố quan trọng nhất của nhận thức xã hội. Để lắng nghe tốt và quan sát những gì đang diễn ra xung quanh, chúng ta phải ngưng làm những việc mình hay làm. Chúng ta phải ngừng nói, ngừng những mẩu độc thoại liên miên trong đầu, ngừng suy đoán về những gì người ta sắp nói, và thôi không toan tính mình sẽ nói gì tiếp theo. Cần phải thực hành để thật sự quan sát người khác khi bạn tương tác với họ và hiểu đúng những gì họ suy nghĩ và cảm nhận. Nhiều lúc bạn có cảm tưởng mình là một nhà nhân loại học. Các nhà nhân loại học cả đời quan sát người khác trong trạng thái tự nhiên mà không để cho bất kỳ suy nghĩ hay cảm xúc của mình xen vào quá trình quan sát ấy. Đó chính là nhận thức xã hội ở dạng thuần túy nhất. Điểm khác biệt ở đây là bạn không đứng cách xa hàng trăm mét quan sát mọi thứ diễn ra qua ống nhòm mà để có được nhận thức xã hội, bạn phải xác định được và thấu hiểu cảm xúc của người khác với vai trò là người trong cuộc – người góp phần vào tình huống đó, một đối tượng tương tác nhưng vẫn nhận thức một cách rõ ràng.

Biểu hiện của nhận thức xã hội

Alfonso J., Giám đốc Bán hàng Dược phẩm

Điểm nhận thức xã hội = 96

Đồng sự nói gì về anh:

“Alfonso thật sự là một tài năng hiếm có, anh có thể đọc cảm xúc của người khác rất tốt. Anh thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau và tìm cách xây dựng mối quan hệ tốt với hầu hết mọi người. Điều đó thể hiện rõ nhất trong các bữa ăn tối, họp hành và những chuyến công tác với các đại diện nhà phân phối.”

“Alfonso giải quyết rất tốt các vấn đề liên quan đến các đại diện nhà phân phối khi họ có rắc rối với các bộ phận khác trong công ty chúng tôi. Anh ấy bao giờ cũng quan tâm đến các đại diện và có khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của họ và tự hỏi có gì không ổn trong chuyện này. Vì thế, họ trở nên rất trung thành với Alfonso.”

“Alfonso nhận diện cảm xúc cực kỳ chính xác khi ngồi làm việc với các đại diện bán hàng về số liệu kinh doanh cuối tháng, cuối năm, và anh làm việc đó giỏi hơn ai hết. Anh rất giỏi trong việc xây dựng các mối quan hệ với những bác sĩ phẫu thuật qua các bữa tiệc tối, bởi anh biết cách lái cuộc nói chuyện theo ý mình mà không khiến các vị khách cảm thấy mình bị dắt mũi.”

Maya S., Chuyên viên Phát triển Tổ chức

Điểm nhận thức xã hội = 92

Đồng sự nói gì về cô:

“Maya có khả năng phi thường trong việc nhận biết và xử lý các vấn đề nổi cộm mà ai cũng cố tình lảng tránh. Cô rất cảm thông với cảm xúc của người khác khi truyền đạt những tin tức không vui. Cô suy ngẫm xem người khác đang cảm thấy thế nào và thay đổi cách giao tiếp của mình để tìm ra giải pháp. Cô tìm hiểu tâm tư cá nhân của từng người, nhờ vậy cô hiểu quan điểm của họ và làm việc với họ rất suôn sẻ.”

“Maya rất tuyệt trong những buổi họp lãnh đạo, cô trân trọng lắng nghe các đồng sự sau đó mới đưa ra ý kiến. Cô thật sự quan tâm đến việc thông cảm với người khác và đóng góp cho họ những ý kiến sâu sắc có giá trị dựa trên những điều họ nói hoặc việc họ làm. Cô là người rất giỏi xây dựng đội nhóm và cô cũng là người củng cố sự gắn kết của toàn đội.”

“Maya là người chủ động lắng nghe hiệu quả nhất mà tôi từng gặp. Cô rất thành thạo trong việc tìm hiểu hoàn cảnh trước khi đưa ra ý kiến của mình nhằm mục đích đảm bảo sự hiểu biết thấu đáo. Cô khẳng định quyền hạn của mình nhưng vẫn rất tôn trọng người khác. Maya biết cách động viên và truyền cảm hứng cho mọi người. Cô có thể nâng đỡ tinh thần mọi người và khiến họ cảm thấy dễ chịu hơn.”

Biểu hiện của thiếu nhận thức xã hội

Craig C., luật sư

Điểm nhận thức xã hội = 55

Đồng sự nói gì về anh:

“Craig cần làm cho người ta cảm thấy dễ chịu khi đề xuất ý kiến, ngay cả khi anh có những ý tưởng hay hơn. Anh cũng cần tỏ ra kiên nhẫn hơn và phải chấp nhận rằng những kế hoạch của người khác hiệu quả không kém gì của anh, mặc dù chúng không giống nhau. Tôi thấy anh ấy nên tìm hiểu xem người khác đang nghĩ gì và cảm thấy ra sao, đồng thời anh nên xem xét hoàn cảnh trước khi đưa ra ý kiến của mình hoặc đề xuất giải pháp.”

“Craig cần học cách lắng nghe nhiều hơn. Anh nên chú tâm đến những gì người ta nói thay vì mải nghĩ ngợi về những điều anh muốn nói. Ngôn ngữ cơ thể tố cáo rằng anh chẳng buồn nghe, khiến mọi người chẳng ai muốn nói nữa. Tôi cũng ước gì anh ấy diễn đạt ý kiến người khác chính xác hơn.”

“Craig không phải là người hòa nhập với xã hội. Anh ấy quá tập trung vào công việc và đôi khi anh ấy dường như chẳng quan tâm gì đến những chuyện xảy ra với người khác. Khi anh có một ý kiến mới (hoặc ý tưởng lấy từ công ty cũ của anh), anh gặp khó khăn trong việc giải thích những ý tưởng ấy cho các đồng nghiệp để họ chấp nhận chúng. Craig cần học cách lắng nghe người khác bằng đôi tai và cả trái tim. Craig có vẻ như quá giữ vững lập trường và điều này khiến anh khó lòng chấp nhận quan điểm của người khác hay chấp nhận sự đóng góp ý kiến của họ trong quyết định của mình.”

Rachel M., quản lý dự án

Điểm nhận thức xã hội = 62

Đồng sự nói gì về cô:

“Trong các buổi họp, Rachel không có khả năng cảm nhận được những ý kiến ngoài chuyên môn. Tâm trạng và cách đề xuất ý tưởng của cô rất rối rắm. Rachel cần học cách hiểu khía cạnh phi chuyên môn, nhân văn của các buổi họp và trở thành người lắng nghe cảm xúc của người khác.”

“Rachel thường vạch lá tìm sâu nên không nhìn ra tổng thể vấn đề. Điều này khiến chúng tôi, những người ở quanh cô, nản lòng ghê gớm. Đặc điểm của cô là không bận tâm đến phản ứng của chúng tôi. Cô ấy nên hỏi một vòng những người tham gia họp hành xem họ có ý kiến gì không, trước khi mọi người trở nên lúng túng với những chi tiết trong dự án của cô. Tốt hơn cả, cô nên bắt đầu bằng việc nói khái quát chủ đề chứ đừng bắt mọi người ngay từ đầu đã đi vào tiểu tiết.”

“Rachel đôi khi bị những suy nghĩ cá nhân và những cuộc trao đổi tay đôi cuốn hút đến mức cô không thật sự lắng nghe những cuộc nói chuyện thẳng thắn hay ngấm ngầm đang diễn ra xung quanh. Điều đó khiến cô làm việc kém hiệu quả bởi cô không tích cực tham gia bàn luận và đánh mất cơ hội tác động đến hướng đi của cuộc họp. Rachel phải học cách xem xét các vấn đề hoặc quan điểm người khác, để cô còn biết cách gây ảnh hưởng, hoặc chí ít, cũng đưa ra nhận xét thẳng thắn về các quan điểm đó. Điều này còn giúp cô biết cách nói chuyện ngắn gọn và có trọng tâm nhất. Người ta có thể mất hứng hoặc bối rối bởi những lời giải thích vòng vo, hoặc họ chẳng hiểu cô muốn nói cái gì.”

Làm chủ mối quan hệ

Mặc dù làm chủ mối quan hệ là yếu tố thứ hai trong năng lực xã hội, nhưng kỹ năng này thường gây ảnh hưởng đến khả năng của bạn về ba kỹ năng trí tuệ cảm xúc đầu tiên: tự nhận thức, làm chủ bản thân và nhận thức xã hội. Làm chủ mối quan hệ chính là khả năng nhận thức về cảm xúc của mình và của người khác, nhằm kiểm soát các mối tương tác một cách hiệu quả. Điều này đảm bảo sự rõ ràng trong giao tiếp và giải quyết mâu thuẫn hiệu quả. Làm chủ mối quan hệ còn là sự gắn bó mà bạn tạo dựng với những người khác qua thời gian. Những người kiểm soát tốt các mối quan hệ sẽ thấy việc kết giao với nhiều dạng người rất có lợi, cho dù không phải ai họ cũng quý mến. Những mối quan hệ bền chặt là điều mà chúng ta ai cũng cố gắng tìm kiếm và vun đắp. Đó là kết quả của việc bạn hiểu người khác như thế nào, đối xử với họ ra sao và những gì bạn đã có với nhau.

Mối quan hệ giữa bạn với những người chung quanh càng lỏng lẻo bao nhiêu, họ càng khó hiểu bạn bấy nhiêu. Nếu bạn muốn người khác lắng nghe mình, bạn phải thực tập kỹ năng làm chủ mối quan hệ và tìm kiếm lợi ích từ tất cả các mối quan hệ, đặc biệt là những mối quan hệ khó khăn. Điểm khác nhau giữa sự tương tác và mối quan hệ nằm ở tính thường xuyên. Mối quan hệ chính là sản phẩm của chất lượng, sự sâu sắc và thời gian bạn dành ra để tương tác với người khác.

Làm chủ mối quan hệ đặt ra thách thức lớn nhất đối với hầu hết mọi người trong những giai đoạn căng thẳng. Nếu bạn biết rằng hơn 70% những người tham gia khảo sát của chúng tôi cho biết họ cảm thấy khó khăn khi đối mặt với khủng hoảng, thì bạn sẽ hiểu vì sao làm chủ mối quan hệ lại thử thách đến thế. Những tình huống thách thức và căng thẳng nhất mà người ta đối mặt là trong công việc. Mâu thuẫn nơi công sở có khuynh bộc phát khi người ta tránh né các vấn đề một cách thụ động, bởi họ thiếu kỹ năng cần thiết để khơi gợi một cuộc nói chuyện thẳng thắn nhưng mang tính xây dựng. Mâu thuẫn trong công việc sẽ bùng nổ khi người ta không kiểm soát được cơn giận hoặc nỗi thất vọng của mình và chọn cách lôi ra trút lên đầu người khác. Làm chủ mối quan hệ mang đến cho bạn những kỹ năng cần thiết để tránh được cả hai viễn cảnh nói trên và để sự tương tác giữa bạn với những người khác mang lại kết quả tốt nhất.

Biểu hiện của việc làm chủ mối quan hệ tốt

Gail C., Giám đốc Tài chính

Điểm làm chủ mối quan hệ = 95

Đồng sự nói gì về cô:

“Gail có một khả năng thiên bẩm trong việc đọc hiểu cảm xúc người khác, và cô dùng những gì mình học được lập nên một diễn đàn đáng tin cậy và hấp dẫn phục vụ cho việc trao đổi ý kiến. Cánh cửa phòng làm việc của Gail chưa bao giờ đóng lại mỗi khi tôi cần giúp đỡ, cô luôn tìm cách duy trì phong thái chuyên nghiệp và hòa nhã, ngay cả khi công việc của cô đang ngập đầu. Mọi người đều cảm thấy có thể tin tưởng Gail và những điều riêng tư họ nói với cô luôn được tôn trọng và giữ kín.”

“Gail rất nhạy cảm và cô luôn muốn cải thiện tình hình. Khi ai đó có chuyện lo lắng, cô sẽ hỏi han sau đó đưa ra lời khuyên và sự giúp đỡ cụ thể cho người ấy, để đảm bảo họ cảm thấy tốt hơn 100%. Khi Gail phản hồi, cô ấy khiến bạn cảm thấy mình thật thông minh và tự tin, kể cả khi bạn phạm sai lầm. Cô ấy giúp đỡ nhân viên của mình tiến bộ và phát triển, và cô ấy là tấm gương sáng trong việc đối đãi với mọi người một cách quyết đoán và thẳng thắn.”

“Cả trong những buổi nói chuyện gay go, Gail vẫn quan tâm đến việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp, thoải mái giữa các bên liên quan. Gail luôn tìm hiểu ý thích của người khác và gợi chuyện về chủ đề đó khi có dịp gặp gỡ, mặc dù chủ đề đó không phải là sở thích của cô. Gail biết cách kiểm soát cảm xúc của mình rất tốt và mỗi khi nói chuyện với bạn, dường như cô cũng cảm nhận được những gì bạn cảm nhận, điều này khiến bạn cảm thấy cô ấy thân thiết và hiểu mình.”

Allister B., Bác sĩ nội khoa

Điểm làm chủ mối quan hệ = 93

Đồng sự nói gì về ông:

“Allister là người biết lắng nghe một cách nhẫn nại, đầy cảm thông, đó là lý do tại sao các bệnh nhân đều yêu quý ông. Ông luôn tránh đưa ra phán xét nếu vẫn còn có nghi vấn. Ông cũng đối xử y như vậy với các y tá và các kỹ thuật viên. Tôi từng thấy Allister rơi vào những tình huống khi gia đình bệnh nhân đặt câu hỏi làm khó dễ, nhưng ông vẫn giữ được bình tĩnh và trả lời chứ không lảng tránh người nhà bệnh nhân. Ông chăm chú lắng nghe điều người khác nói và không bao giờ thể hiện vẻ bực bội hay phiền hà. Ông làm đúng thẩm quyền nhưng vẫn từ tốn.”

“Kỹ năng giao tiếp của Allister thật đẳng cấp. Trong những tình huống tôi được chứng kiến, khi không hài lòng với một kết quả nào đó, ông luôn thể hiện vị thế của mình qua những suy nghĩ sâu sắc về mong đợi của mình chứ không hề nổi giận hay bộc phát cảm xúc. Tôi nghĩ ông thẳng thắn nhưng không đối đầu hoặc ra vẻ mất tự chủ. Ông nhanh chóng khen ngợi nỗ lực và thành công của nhân viên khi họ xứng đáng. Ông cũng rất giỏi trong việc nhìn ra toàn cảnh vấn đề sau đó đưa ra lời khuyên đầy cảm thông và thực tế.”

“Tôi chưa bao giờ thấy Allister cảm nhận về bất cứ điều gì dưới 110%. Ông biết khi nào nên đề cập vấn đề một cách thận trọng và biết khi nào nên khen ngợi và động viên. Allister rất hiểu đồng nghiệp của mình, điều đó cho phép ông xử lý các mâu thuẫn một cách bình tĩnh và theo hướng tích cực. Ông được mọi người tôn trọng vì luôn xem xét phản hồi từ nhiều phía trước khi đưa ra kết luận. Ông luôn cố gắng giao tiếp với người khác một cách tốt nhất, ngay cả trong bầu không khí chống đối, lộn xộn hay đầy mâu thuẫn. Khả năng cảm thông với người khác ở ông thật sự đáng kinh ngạc và điều đó tạo nên những mối quan hệ bền chặt, tích cực.”

Biểu hiện của làm chủ mối quan hệ yếu kém

Dave M., Giám đốc Kinh doanh

Điểm làm chủ mối quan hệ = 66

Đồng sự nói gì về anh:

“Nếu Dave không gặp gỡ ai đó trực tiếp, anh xem mối quan hệ ấy không đáng để phát triển. Tôi ước sao anh ấy biết dành thời gian và công sức cần thiết để cải thiện khoản này. Khi Dave cảm thấy một đồng nghiệp nào đó không phải đồng minh mà chỉ là kẻ không đáng tin, anh sẽ công khai ý kiến của mình về người này. Khi nó lan đến tai đối tượng bị chỉ trích, mối quan hệ đó sẽ ngày một hao mòn. Dave trở nên khá hơn khi anh hiểu tường tận về một người nào đó, và tin rằng họ không phải là mối đe dọa đối với anh, nhưng anh phải khắc phục nhược điểm này nếu muốn vươn lên những nấc thang cao hơn.”

“Dave thường quá nhiệt thành khi làm quen với người lạ và đó có thể là một đặc tính tốt, nhưng một số người không đáp lại lòng nhiệt tình của anh, và họ tỏ ra dè dặt với anh. Họ cảm thấy khó khăn khi kết nối với anh. Tôi mong Dave tìm cách gắn kết đội ngũ nhân viên của mình nhiều hơn và xóa đi cảm giác anh ra quyết định dựa trên ý kiến của cá nhân anh hoặc vì thành kiến. Mọi người thường cảm thấy như thể ý kiến chuyên môn của họ bị xem nhẹ, mặc dù ý kiến đó dựa trên cơ sở rõ ràng.”

“Dave thường phản ứng với người khác hơn là đưa ra ý kiến hồi đáp cho họ. Có chính kiến thì tốt, nhưng bác bỏ hết ý kiến người khác thì không tốt chút nào. Anh ấy cũng cần điều chỉnh phong cách giao tiếp của mình cho phù hợp với người đối diện. Cách tiếp cận của anh ấy hình như quá bộc tuệch, nó có thể khiến người đối diện khó xử.”

Natalie T., Giám sát Bán hàng

Điểm làm chủ mối quan hệ = 69

Đồng sự nói gì về cô:

“Natalie thường đánh giá thấp quan điểm hoặc kinh nghiệm của người khác. Cô biện minh cho những tình huống xấu bằng cách cho rằng nó còn có thể tệ hơn thế, chỉ là bạn không hiểu hoặc bạn không nên băn khoăn về nó nữa. Đôi lúc cô thô lỗ và thiếu cảm thông, nhất là đối với nhân viên cấp dưới. Tôi muốn cô chân thành hơn trong việc giao tiếp với họ, và thể hiện sự cảm kích đối với người khác.”

“Natalie cần dẹp bỏ cái thói bới lông tìm vết trong mọi chuyện. Điều đó thật mệt mỏi và khiến người ta nhụt chí. Cô ấy cần học cách công nhận thành quả của người khác. Đó là dấu hiệu chứng tỏ Natalie khắc nghiệt, khó làm việc chung và khó gần. Cô ấy có thể gặt hái được thành quả nhưng người khác phải trả giá.”

“Tôi muốn Natalie đừng đưa ra những lời chỉ trích hay phê bình tiêu cực dành cho đội ngũ nhân viên của cô, hoặc cho người khác, khi những lời nói đó chẳng mang lại ích lợi gì. Giúp người khác nhận ra những gì nên làm khác đi sẽ giúp họ phát triển, nhưng kiểu phản hồi đầy tiêu cực của cô xuất phát từ việc cô xem thường người khác. Người ta không còn xem trọng ý kiến của cô nữa và đôi khi họ cho rằng đó là cách cô thể hiện quyền lực.”

« Lùi
Tiến »