- Không cần phải đốt thêm lửa.
Ở trên bến sông chỉ có hai người thanh niên. Họ đã nghe tiếng ghe máy chạy đến rồi, tiếng máy rất gần nhưng họ vẫn đốt ngọn lửa thật cao, vàng rực như một bụi cây thông kỳ lạ trong đêm Nô-en.
- Đốt thêm để mấy ổng nhìn cho rõ.
Người bạn đứng khoanh tay trước ngực im lặng nhìn vệt sáng loang ra một vùng lấp lánh trên mặt nước đen kịt. Tiếng ghe máy đến đã gần sát, hiện lần trong cái quầng sáng ấy và đi chậm lại.
- Có rượu không, chú Bảy?
Giám đốc nông trường Bảy Hưng xách chai rượu nhảy lên bờ theo sau là một người bạn cũ của ông Phạm Sơn. Hai người thanh niên nông trường chào người khách của thủ trưởng mình. Bảy Hưng bảo họ:
- Lát nữa đứa nào đem cho tao ít rau thơm. Có không?
- Thiếu gì.
Họ lên khỏi cái dốc đã thấy ánh đèn điện lấp lánh trên những chùm lá cây dày. Tới chỗ đó hai người công nhân nông trường rẽ đi về trại của mình. Phạm Sơn hỏi:
- Ông bắc điện từ hồi nào vậy?
- Lên đây được một tuần là có điện liền. Có điện cái tự nhiên thấy nó vui.
Bảy Hưng nhìn về phía rặng cây thấp, ở đó có ánh sáng xanh của một ngọn đèn nê-ông. Bảy Hưng nói:
- Đội máy kéo của tôi sắp đi cày đêm.
- Anh bắt họ làm cả ban đêm à?
- Tôi khoán họ mà. Họ rất thích cày ban đêm vì ban đêm mát, cày đỡ mệt mà năng xuất lại cao hơn ban ngày.
Hai người dừng lại trước một căn nhà gỗ nhỏ. Đêm không có trăng nhưng ánh sao cũng đem lại cho trời đất một thứ ánh sáng mờ mờ. Căn nhà gỗ của Bảy Hưng tuy đơn sơ nhưng xinh xắn. Phía sau nhà có một cái hành lang khá rộng bày mấy cái ghế mây và cái bàn nhỏ. Hai người bạn ngồi uống rượu nhìn ra vườn. Thực ra đây không phải là một cái vườn như ở làng quê mà là một khu rừng cây cao sâu hút.
Bảy Hưng nói:
- Tôi tính mua mấy con ngựa để đi lại. Ở đây đi xe đạp không được.
Bảy Hưng hít hít mũi, đánh hơi và đứng dậy:
- Chắc món nhậu đã xong.
Ông xuống bếp bưng hai dĩa thịt lên, chị nuôi đem rổ rau và nước chấm. Phạm Sơn hỏi:
- Ở đây nuôi được bao nhiêu heo?
- Bảy trăm con. Một đàn bò và hơn hai ngàn con vịt. Bận sau ông lên sẽ cho ông ăn trứng chết bỏ. Cầm đũa đi.
Khách chưa cầm đũa Bảy Hưng đã gắp hai ba miếng rồi. Ông uống rượu từng ly một. Ly tuy không to lắm nhưng cũng không phải là nhỏ. Bảy Hưng nói:
- Ở bên ông có mấy thằng rất khá.
Phạm Sơn hỏi:
- Mấy thằng nào?
- Thằng Duy, thằng Cần và cả cái trung đội cơ giới của nó. Đứa nào cũng khoái máy móc và sáng trí. Tụi nó học nghề ở đây chưa tới hai tháng mà lái máy kéo không thua gì thợ bậc năm của tôi. Anh thấy cánh đồng một trăm mẫu của chúng nó chưa?
Phạm Sơn chỉ cười khô một tiếng mà không trả lời. Bảy Hưng nói tiếp:
- Anh nên dời liên đội về đó hay hơn. Ở trong kia là cái kẹt núi mà, làm ăn không được đâu.
Bảy Hưng rót thêm rượu vô ly của bạn nhưng Phạm Sơn đã lấy tay bịt miệng ly lại.
- Anh nói như vậy là không hiểu cái chức năng của thanh niên xung phong. Mục đích của nó là thông qua lao động rèn luyện con người chớ không phải làm ăn kinh tế.
- Tôi có kinh nghiệm về nông trường của tôi. Lao động mà không đem lại hiệu quả kinh tế là thanh niên nó bất mãn, nó tiêu cực cho anh coi.
- Cái đó tôi biết rồi. Ở liên đội có thiếu chi trường hợp tiêu cực nhưng chính vì vậy mà ta mới phải giáo dục họ.
- Ồ, anh giáo dục không được đâu. Không phải ai cũng sẽ là những nhà đạo đức như tụi mình đâu. Anh muốn lãnh đạo quần chúng anh phải nắm chắc, nắm vững quy luật về tâm sinh lý, quy luật xã hội. Anh không thể nào lãnh đạo quần chúng mà chỉ lo dạy đạo đức cho họ đâu. Đó là chuyện của đức Khổng Tử. Chuyện đó đã xảy ra cách đây hơn hai nghìn năm và cũng không phải là hay ho gì.
Phạm Sơn lấy một cây tăm xỉa răng và đốt một điếu thuốc:
- Không ngờ anh lại tôn sùng chủ nghĩa thực dụng đến như thế. Tôi thì tôi vẫn quý trọng những giá trị tinh thần. Chẳng hạn như đôi dép râu này nè (Phạm Sơn đưa bàn chân phải lên gần tới mặt bàn), tôi hứa với anh là tôi sẽ mang nó suốt cả đời tôi. Anh nghĩ, làm sao mình có thể bỏ được nó khi nó đã theo mình suốt đoạn đời kháng chiến, qua bao nhiêu gian khổ hiểm nguy nó cũng không rời mình. Về thành phố rồi tôi vẫn mang nó, có sao đâu.
Bảy Hưng cứ cắm cúi ăn. Ông gắp miếng to, nhai nhanh và nốc rượu một cách hào sảng. Mặt ông bắt đầu ửng lên một chút dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn bóng tròn bảy mươi lăm oát. Ông nói:
- Dép lốp thì thiếu gì. Tôi cũng có một đôi chứ.
Phạm Sơn lấy khăn chùi miệng, ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Con người tôi bây giờ và thời kháng chiến không có gì khác nhau cả. Trước sau như một. Và tôi tự hào về điều đó.
- Nhưng như thế thì anh chỉ được tiếng là trung kiên, là đạo đức nhưng lính của anh nó có được cái gì đâu.
- Sao lại không được. Tôi làm việc tận tụy vì anh em thanh niên xung phong. Tôi nhịn ăn nhịn mặc… Ồ nhưng mà thôi, có lẽ chúng ta cũng không nên đi sâu vào những chuyện ấy. Hôm nay có chút rượu tôi nói chơi vui vậy thôi.
- Thì chơi vui chớ có gì đâu mà anh ngại. Tụi mình đã từng sống chung với nhau những năm gian khổ nhứt trong rừng. Hiểu nhau quá, chính vì thế mà càng quý anh tôi càng bực anh. Nói thiệt đấy anh Năm ạ. Tôi biết anh nhịn ăn nhịn mặc để lấy tiền mua lưới cá tặng anh em bên đó, tôi biết anh nhịn phần sữa tiêu chuẩn của mình cho anh em bị bịnh. Lính của anh nó thương anh vì những điều ấy, nhưng đó không phải là chức năng của một người lãnh đạo. Đó chỉ là chuyện lặt vặt của một bậc "hiền nhân quân tử" thôi, chớ không phải là một nhà lãnh đạo Mác-xít. Nhiệm vụ chính của anh bây giờ là phải làm sao cho lính của anh có cơm no, áo ấm, có đời sống văn hóa cao, có tay nghề, có tương lai, có sự nghiệp. Nhiệm vụ chính của anh bây giờ là phải biết làm kinh tế, biết huy động những con người trẻ tuổi đầy sức sống kia, biết làm ra của cải càng nhiều càng tốt để xã hội được sung túc, gia đình và cá nhân của họ được đầy đủ. Chớ còn nhịn ăn để mua vài cái lưới cá thì anh giải quyết được gì?
Phạm Sơn đỏ mặt nhưng ông không giận, ông chỉ cười cười:
- Nghe anh nói chuyện làm ăn kinh tế sao mà dễ dàng quá.
- Tất nhiên là không dễ, nhưng cũng không phải là không làm được. Chìa khóa của sản xuất chính là việc bảo đảm đời sống của công nhân. Tôi đổ bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian để hiểu được vấn đề đơn giản ấy. Và càng ngày tôi càng thấy rằng bảo đảm đời sống cho họ chính là bao đảm những giá trị đạo đức tiềm ẩn trong con người họ.
- Thôi như thế đủ rồi anh Bảy Hưng ạ. Nói chung thì tao không ngu đến nỗi không hiểu những gì mày nói đâu nhưng để dịp khác. Bây giờ ông dẫn tôi đi coi cái ghe máy. Nó chỉ hư có piston thôi, hả?
- Vài thứ lặt vặt nữa nhưng tụi thằng Duy nó dư sức sửa.
- Bây giờ mình ra đó đi.
Bảy Hưng tự tay dọn dẹp các thứ rồi xách cây đèn bấm đi cùng Phạm Sơn. Ông nói:
- Trước khi đi coi ghe, ông nên ghé thăm đội máy kéo của tôi một chút. Cái chỗ lúc nãy.
Họ đi tắt qua một đám đậu và tiến về phía ngọn đèn nê ông sáng xanh.
Ba bốn chiếc máy kéo đậu lại trước trạm dầu, máy nổ xình xịch đèn bật sáng trưng. Người lái máy MTZ nhảy xuống xe chỉnh lại ra-lăng-ti và gác điếu thuốc đang cháy trên vè xe. Một người khác đến và mồi thuốc. Một người nữa ngồi trong ca bin và nói thật to:
- Chiếc Renault 7 của ông mạnh lắm, nên hạ giàn bừa xuống sâu một tí. Không việc gì đâu.
Nghe câu nói Phạm Sơn ngẩn người ra, hỏi Bảy Hưng:
- Ai như thằng Duy bên tôi.
- Thì nó chớ còn ai. Hồi trưa tôi có dẫn nó và thằng Cần đi coi cái ghe rồi. Nó nói sửa được.
- Nhưng nó cày đêm cho anh à?
- Tụi nó ưa máy móc lắm. Lâu lâu qua đây là xin đi cày. Mà phải là cày đêm nó mới ham.
Hai chiếc xe tải ở đàng kia đi lại rọi đèn sáng trưng. Xe đến trước xưởng cơ khí và dừng lại. Bảy Hưng ra trước đầu xe. Người ông sáng rực lên. Ông hỏi:
- Còn mấy chuyến nữa?
- Còn nhiều, chú Bảy.
- Tao đã biểu tụi bay kêu "anh Bảy" sao cứ "chú Bảy" hoài vậy?
Bảy Hưng cười khì và đu lên thành xe lấy một bụi đậu phộng đưa cho Phạm Sơn:
- Anh thấy khá không?
Phạm Sơn chỉ gật gật cái đầu, không nói. Bảy Hưng đẩy nhẹ vào lưng ông bạn cũ và hai người đi lẫn vào bóng tối. Lúc họ đi rồi thì Hồng xuất hiện. Hai chiếc xe tải chở đậu phộng chạy về kho. Các công nhân nông trường nhao nhao lên:
- Ô, người đẹp.
- Ai vậy?
- Hình như đào của thằng Duy. Nó dẫn từ bên liên đội qua.
- Bậy bạ, một người khác cãi, nhà báo đó mày.
Hồng bất ngờ bấm máy ảnh, ánh đèn flash chớp lên một cái làm họ giật mình. Hồng cười thành tiếng:
- Cám ơn các bạn. Một pô hình rất đẹp.
- Chừng nào đăng?
- Mười ngày nữa.
- Gởi cho anh em mỗi người một tấm, nha?
Hồng cười, đưa tay chào họ, vừa chào vừa tiến lại chỗ chiếc máy kéo của Duy đang đậu.
- Anh cày đêm hả?
- Hồng đi luôn, nha?
- Họ có nói gì không?
- Chẳng sao đâu. Bạn thân cả mà. Với lại nhà báo thì có quyền đi thực tế chớ.
Hồng đưa cái máy ảnh cho Duy cất rồi nói:
- Anh mở cửa đi.
Duy nắm tay Hồng kéo lên. Hồng ngồi gọn trong ca pin, quay nhìn Duy và cười rất tươi.
- Hay quá. Em rất thích.
Duy búng điếu thuốc bay vòng cung trong khoảng không rồi nhấn ga cho xe đi tới.
Trong những lần ra quân như thế bao giờ anh cũng thấy bị kích thích bởi những cơn gió mát. Cánh đồng đen sẫm, rộng bao la. Đưa máy kéo ra đồng ban đêm giống hệt đưa một chiếc ca nô ra giữa biển khơi. Máy nổ đều và giòn, đàng trước, đàng sau, chung quanh coi rất khí thế. Nhưng khi ra đến hiện trường, những chiếc máy kéo bắt đầu tẻ đi thì Duy mới thực sự thấy lòng thanh thản. Hồng lấy trong túi xách ra một lon ghi gô, mở nắp và đưa cho Duy:
- Gì vậy?
- Cà phê. Còn nóng.
Duy uống một ngụm, thấy ngon quá. Anh đưa lại cho Hồng nhưng Hồng đang nhìn ngắm thiên nhiên chung quanh. Trời đất là một màu đen, chỉ có hai ngọn đèn máy kéo là vẽ được hai vệt sáng lắc lư theo nhịp xe đi, và những con thiêu thân, con bông cỏ thì ùa đến đó dày đặc như mưa rào.
Hai người ngồi im trong cabin như những hoa tiêu âm thầm ở một góc biển với con tàu nhỏ cô độc, thỉnh thoảng ở một góc nào đó của cánh đồng mới thấy lóe lên ánh đèn pha của một máy kéo bạn. Ánh sáng ấy di động dần xa cùng lúc với tiếng máy nổ rồi tắt mất ở một chỗ quẹo. Lúc khác lại thấy một lúc ba bốn cặp đèn pha di động ở phía xa như những đóm đèn vàng của những thuyền đánh cá. Những ánh đèn ấy thường đem lại cho anh sự ấm áp của tình đồng đội.
Duy quay sang hỏi người bạn gái:
- Thích không?
Hồng chỉ nhìn anh, nheo mắt cười. Cô uống một ngụm cà phê rồi đưa cái lon ghi gô cho Duy:
- Anh uống nữa đi.
Duy uống một ngụm nhỏ, thấy thấm quá nên uống một ngụm nữa. Duy nói:
- Uống cà phê ban đêm, giữa đồng, trên một chiếc máy kéo và bên cạnh một người đẹp như thế này là tuyệt nhứt. Không có ngụm cà phê nào ngon như ngụm cà phê ở đây.
Duy đang nói chợt dừng xe lại.
- Chuyện gì vậy? Hồng hỏi.
Duy lấy ngón tay đè lên môi Hồng, bảo cô giữ im lặng. Anh ghé sát mặt mình vào má cô mà nói nhỏ:
- Nhìn trước đầu xe coi. Nhìn kỹ dưới đất.
Hồng rướn người dậy, tìm kiếm. Và cô nhìn thấy một đôi chim cút đang đứng im trong cái luồng sáng của ngọn đèn pha. Chúng nhìn trân trối ánh đèn, không nhúc nhích.
Duy nhẹ nhàng nhảy xuống đất và tiến tới chỗ hai con chim đang đứng. Chúng vẫn cứ nhìn trân trối ánh đèn. Anh đến thật gần mà chúng vẫn không hay. Duy ngồi nhẹ xuống và chộp lấy cả hai. Anh nghe tiếng Hồng reo lên trong cabin:
- Được rồi.
Duy ôm hai con chim trước ngực, chạy tới. Hồng mở cửa cabin cho Duy lên. Anh kiếm sợi dây nhỏ cột cánh chúng lại rồi đưa cho Hồng. Ngay lúc ấy hai người đều nghe có tiếng máy kéo của ai đó đi lại gần nhưng vì đêm đen quá nên không thấy chiếc máy kéo nào cả. Thế mà tiếng máy vẫn cứ đến sát và đột nhiên nó bật đèn rọi thẳng vô cabin xe của Duy khiến hai người chói mắt, nhưng cả hai đều chưa kịp phản ứng gì thì người bạn lái máy kéo nào đó đã bật lên cười ha hả:
- Khà khà! Anh chị mùi mẫn quá!
Duy cũng cười, chống chế:
- Bậy bạ mày! Tụi tao mới bắt được cặp cút.
Người bạn cho máy kéo mình cặp sát bên máy của Duy để mồi điếu thuốc và nói:
- Tao cũng mới "làm" được hai cặp. Thôi, đi. Chúc vui vẻ nha.
- Cảm ơn anh, Hồng nói vói theo và nhìn chiếc máy kéo của người bạn khuất dần trong bóng đêm. Hồng gọi Duy:
- Anh Duy à.
- Gì đó, Hồng?
- Thôi, đừng làm thịt mấy con cút này chi, để Hồng nuôi.
- Nuôi không được đâu. Cút con nuôi mới khôn, lớn cỡ này chỉ ăn thịt. Tụi anh sáng nào cày xong cũng nấu cháo cút ngoài đồng. Khỏi chê. Còn nhiều thứ nữa. Cày đêm có nhiều cái vui lắm. Chẳng hạn như những đêm mưa tầm tã, hai ba xe bị lầy không có cách gì kéo lên được. Tụi anh ngồi lại với nhau dưới cơn mưa chuyền cho nhau gói thuốc lá. Đợi sáng.
- Sao không về?
- Không thể bỏ máy giữa đồng mà về được. Nhưng mà tụi anh cũng không cần về. Anh em ngồi với nhau trong đêm mưa giữa đồng xúc động lắm em ạ. Không có gì có thể thay được những đêm mưa ấy.
Hồng tự nhiên tựa đầu vào vai Duy. Cô thấy má mình lạnh đi, hai bàn tay của mình cũng lạnh đi nhưng cái vai của Duy thì vẫn ấm áp lạ thường. Hơi ấm ấy làm cô ngây ngất. Cô hỏi:
- Gần sáng rồi phải không, anh?
- Gần sáng rồi. Em ngủ một chút đi.
Hồng nhắm mắt lại.
Đường cày hẹp dần. Duy coi đồng hồ và cho xe chạy chậm lại. Anh thấy mắt hơi cay. Anh quàng tay qua ôm lấy vai Hồng và nhỏm dậy một chút để nhìn cho rõ mặt đất. Nhưng bỗng nhiên từ trong vệt sáng của ngọn đèn pha hiện ra một bóng người cao lớn. Duy thắng gấp máy lại. Hồng choàng tỉnh nhưng Duy đã giữ cô nằm im.
Cái bóng đen cao lớn ấy đến sát ca bin anh và một giọng ồ ề vang lên:
- Buồn ngủ không, chú em?
Duy nhận ra giám đốc Bảy Hưng. Duy làm bộ nhỏng nhẻo:
- Buồn ngủ quá, bố ơi.
Ông già cười hềnh hệch, ném lên cabin gói thuốc lá đen rồi bỏ đi lại phía mấy cái máy kéo khác.
Duy châm lửa và rít một hơi thật dài. Bảy Hưng đã không nhìn thấy "nhà báo" và nhà báo thì cũng chẳng hề biết là Bảy Hưng đến. Cô vẫn tựa đầu lên vai Duy ngủ say.
Trời sáng dần. Cái màu bạc quen thuộc của chân trời lan dần lên. Mặt đất hiện ra một màu nâu dịu như bột cà phê, trải rộng mênh mông như một tấm thảm nhung êm ả. Duy đã nhiều lần trải qua những buổi sáng như thế này nhưng lần nào – sau một đêm cày âm thầm – sáng ra anh vẫn có cảm tưởng như mình đang ở nơi một miền đất nào khác, mới lạ, bằng phẳng, sạch sẽ, tươi tắn.
Cái mặt đất lồi lõm, đầy cỏ gai và cây chồi chiều hôm qua bây giờ ai đã đem đi mất tích rồi. Nàng tiên đã đến và che mắt anh bằng chiếc khăn đêm, đến khi dở chiếc khăn ra đã thấy mặt đất hoàn toàn khác lạ, trật tự, ngăn nắp, hiền hậu, xinh đẹp và đầy hơi hướng của con người.
Duy biết phép lạ ấy là của chính mình nhưng không lần nào là anh không ngạc nhiên thích thú.
Hồng vẫn tựa đầu lên vai anh ngủ say. Duy dừng máy lại trên đường cày cuối cùng, gió sớm thổi những sợi tóc dài của người con gái bay lất phất vào mặt anh, gây một chút hương thầm lặng.