Thủy hử @

Lượt đọc: 208 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
người thầy kinh doanh trên bờ sông tầm dương

Tống Giang cười một cách giễu cợt và nói: “Nếu tham tiền háo sắc là điều tội lỗi thì tôi tình nguyện làm tên tội đồ lưu danh thiên sử. Đàn ông mà không tham tiền bạc thì sinh ra trên cõi đời này thật uổng phí. Đàn ông mà không háo sắc thì cuộc đời sẽ vô vị biết bao. Chỉ có tham tiền và háo sắc mới có thể viết lên áng văn rực rỡ tươi đẹp, đầy màu sắc của đời người, hiểu không?”

Tống Giang cười một cách giễu cợt và nói: “Nếu tham tiền háo sắc là điều tội lỗi thì tôi tình nguyện làm tên tội đồ lưu danh thiên sử.”

Người đàn bà đáng đánh

Lại nói Tống Giang đứng xem múa rối ở phía nam thị trấn thì không ngờ bị vợ của Lưu Cao - văn tri trại của trại Thanh Phong nhận ra. Lưu Thị lập tức hô hoán: “Đó là tên thổ phỉ! Chính là hắn! Tôi năm đó bị bọn thổ phỉ ở núi Thanh Phong bắt cóc, kẻ cầm đầu của bọn chúng chính là gã lùn mặt đen xì kia!” Lưu Cao nghe nói vậy lập tức sai mấy tên lính xông ra bắt gọn Tống Giang như thể đại bàng vồ chim yến.

Sự việc bất ngờ, nhưng Tống Giang không chút hoảng hốt, quỳ trước mặt Lưu Tri trại khẩn khoản nói: “Tiểu nhân tên Trương Tam đến từ huyện Vận Thành, Tề Châu, tri trại tiền nhiệm Hoa Vinh là bạn tốt của tôi, các ông bắt tôi lại thế này không biết là tôi đã phạm phải tội gì?” Lưu Tri trại cười nhạt, lúc này vợ ông từ sau bức bình phong đi ra, cất giọng mắng nhiếc: “Lại còn giả bộ à! Đừng có giả bộ với tôi! Ngươi hãy mở to đôi mắt lưu manh ra mà nhìn đi, xem tôi là ai?” Tống Giang ngẩng đầu lên nhìn, đột nhiên nhớ đến một chuyện.

Thì ra một năm trước, lúc ấy Tống Giang đang làm khách ở núi Thanh Phong. Một lần, Nụy Cước Hổ Vương Anh xuống núi bắt được người phụ nữ kia, muốn ép cô ta làm áp trại phu nhân. Cũng may là Tống Giang để ý tới, mới hỏi cô gái là quý quyến (32) nhà ai? Sau khi biết cô ta chính là phu nhân Lưu Tri trại của trại Thanh Phong. Tống Giang ngẫm nghĩ, Hoa Vinh và chồng cô ta là bạn đồng liêu, không được làm điều lỗ mãng, nên xin người anh em Vương Anh tha cho cô ta. Đồng thời lại phải hứa với Vương Anh một ngày nào đó sẽ nhất định làm mai làm mối giúp cậu ta lấy được một cô gái tốt. Còn phu nhân Lưu Tri trại thì như thỏ con được tha chết, ba chân bốn cẳng chạy biến khỏi hang hổ.

“Phu nhân, thì ra là cô à?” Tống Giang nói: “Tôi vẫn nhớ, lúc đó chính là tiểu nhân tôi nói đỡ lời cứu cô. Hôm nay cớ gì lại bắt tôi thế này?”

Ai ngờ ả Lưu Thị kia lạnh lùng mắng nhiếc lại Tống Giang: “Đúng là tên thổ phỉ vô liêm sỉ, còn dám mở mồm ra nói là cứu ta à? Lúc đó khi nghe ta nói đến đại danh của Lưu Tri trại các ngươi mới sợ chết khiếp đấy chứ!” Rồi quay sang nói với chồng: “Đại nhân chỉ việc đánh cho hắn một trận nhừ tử, rồi tra hỏi đồng bọn của hắn.”

Tống Giang nghe ả Lưu Thị kia nói như vậy thì vô cùng phẫn nộ. Lúc ấy Tống Giang đã có ý tốt cứu cô ta, vậy mà hôm nay cô ta lại lấy oán báo ân, đạo lý ở đâu thế! Nhiều năm sau đó, khi hồi tưởng về những chuyện đã qua, Tống Giang vẫn không thể nuốt nổi cục tức trong lòng, bèn soạn ra một bảng danh sách “10 loại phụ nữ đáng bị ăn đòn”, và Lưu Thị hiển nhiên cũng có mặt trong danh sách đó.

“Mười loại phụ nữ đáng bị ăn đòn” là gì?

Thứ nhất là người đã xấu còn hay gây rắc rối, lại không biết cách trang điểm nên đã xấu lại càng xấu hơn, nhưng lại cứ tưởng là mình đẹp, dương dương tự đắc.

Thứ hai là chỉ biết yêu bản thân, dường như trên thế gian này chỉ có một mình mình là người phụ nữ đẹp, không coi ai ra gì, thậm chí còn cố tình hạ thấp người khác và nâng mình lên.

Thứ ba là giả bộ ngây thơ, bốn mươi tuổi rồi mà vẫn còn nhận mình là “con gái”.

Thứ tư là hám tiền, thà rằng lấy một ông già nhiều tiền còn hơn là lấy một chàng trai si tình mà nghèo rớt mùng tơi, vô tình vô nghĩa, thấy mà ớn lạnh.

Thứ năm là giả nhân giả nghĩa, cho ăn xin được hai đồng thì sai người nhà đi lấy lại một đồng về.

Thứ sáu là lắm mồm, suốt ngày ngồi lê đôi mách, đâm bị thóc, chọc bị gạo.

Thứ bẩy là dâm đãng, mang tiền của chồng đi nuôi tình nhân, phóng túng dâm dục, không cần thể diện.

Thứ tám là bỡn cợt tình cảm, dùng tài sắc trời cho của mình để đi lừa dối tình cảm của đàn ông, cặp kè hết người này đến người kia để kiếm chác trục lợi.

Thứ chín là nói dối, nói dối mà mặt không biến sắc, kể cả bị bắt quả tang thông dâm ngay tại trận rồi mà còn lắm lời ngụy biện, hùng hồn cãi cố.

Thứ mười là gian xảo, ngang ngược, không học những đức tính tốt của người phụ nữ, tự kiêu vô lễ, làm điều ác mà không biết hối cải.

Cũng là Tống Giang số phận long đong, liên tiếp gặp phải hai người đàn bà đáng ghét, một là Diêm Bà Tích, hai là ả Lưu Thị này. Hai người đàn bà này như thể hai trận động đất dội xuống đầu Tống Giang, và cuộc đời anh cũng từ đây mà rẽ sang ngả khác.

Đáng thương cho Tống Giang lúc này nằm trong tay Lưu Tri trại, làm gì có cơ hội để đánh ả ta nữa chứ? Ngược lại, anh còn bị đánh cho trầy da tróc thịt, thương tích đầy người. Hoa Vinh nghe tin báo vội vàng đến tìm Lưu Tri trại đòi người. Lưu Tri trại và Hoa Vinh xưa nay không ưa gì nhau, tất nhiên không bằng lòng và khăng khăng đòi áp giải tới nha môn Thanh Châu để xét xử. Không lâu sau, tin tức từ huyện Vận Thành truyền tới, thì ra người đàn ông mặt đen tự xưng là Trương Tam này lại là tội phạm đang bỏ trốn.

Không phải vì tiền mà vì theo thông lệ

Hoa Vinh cũng nhanh chóng đến Thanh Châu, đút tiền các cửa, tìm mọi cách để giúp Tống Giang thoát tội. Phủ Doãn đại nhân nhận được nhiều lợi lộc nên cũng có phần nương nhẹ. Đến lúc lên công đường hỏi tội, Tống Giang chỉ việc nói theo những gì đã bày sẵn, công nhận chuyện hai năm trước vì Diêm Bà Tích đi ngoại tình, Tống Giang uống say rồi hai người xảy ra xô xát dẫn đến vụ việc đáng tiếc, sau đó anh chạy trốn đến núi Thanh Phong thì bị thổ phỉ bắt giữ. Bọn thổ phỉ thậm chí còn nghe lời khuyên của Tống Giang trở lại hoàn lương, ai nấy về quê sinh sống, còn chuyện thổ phỉ ngang ngược hoành hành trên núi Thanh Phong cũng từ đó mà lắng xuống. Quan phủ lại đến huyện Vận Thành tìm chứng cứ, may mà Tống Giang may mắn, được tri huyện Thời Văn Bân ghi vào công văn những lời lẽ tốt đẹp. Phủ Doãn căn cứ theo tình tiết đó nên phán nhẹ tội cho Tống Giang, chỉ phạt hai mươi trượng và đày đi Giang Châu.

Đến nhà lao Giang Châu, Tống Giang cũng đút tiền các nơi, từ quản doanh (đứng đầu nhà lao) cho đến lính coi ngục, mỗi người đều được một phong bao dày. Riêng quản doanh lão gia là hai mươi lạng và quà cáp kèm theo, một lạng bạc tương đương với ba trăm nhân dân tệ bay giờ, hai mươi lạng là tương đương một vạn tệ rồi. Tống Giang không những biết những quy tắc ngầm ở chốn quan phủ, mà tung tiền cũng rất hào phóng, được hối lộ ai nấy đều vui vẻ, chẳng trách anh em trên giang hồ lại ngưỡng mộ Tống Giang. Quản doanh lão gia lấy cớ Tống Giang bị cảm lạnh mà miễn cho anh một trăm gậy sát uy; lại xét đến Tống Giang xuất thân từng làm quan lại ở nha huyện, nên không bắt đi lao động khổ sai, mà để anh đi phụ trách mảng sao chép và viết công văn ở phòng văn thư, các tù nhân khác thấy bộ dạng đó, biết là nhân vật có máu mặt nên đều đến xun xoe lấy lòng Tống Giang.

Lại nói trong lao thành Giang Châu có một vị tiết cấp (tương đương với chức trưởng trại giam ngày nay), theo quy tắc ngầm thì Tống Giang cũng nên đút lót cho anh ta một ít tiền. Ai ngờ Tống Giang trên dưới đều đã tính toán hết, nhưng lại bỏ sót vị tiết cấp này. Tiết cấp lão gia nổi giận cho gọi Tống Giang vào văn phòng của y để dạy cho bài học. Nhưng vì đã được lợi từ Tống Giang nên bọn lính coi ngục đều coi lời sai bảo của tiết cấp như gió thổi ngoài tai, và lủi đi hết sạch. Tục ngữ có câu “há miệng mắc quai”, lại nói “có tiền mua tiên cũng được”. Lính coi ngục ngậm mồm ăn tiền rồi nên hung ác cũng biến thành từ bi.

Tiết cấp lão gia ngày càng bực tức, bèn đích thân cầm côn đến đánh Tống Giang. Tống Giang nói: “Khoan đã, ông muốn đánh tôi thì xin hỏi tôi có tội gì?” Tiết cấp lão gia nói: “Mày là quân phạm tội, là hạng tầm thường trong tay ta thôi, chỉ cần tôi đây khẽ ho một tiếng là mày có thể lĩnh tội chết.” Tống Giang cười nhạt nói: “Chẳng phải là như thông lệ, tiền hay sao? Nếu sớm đưa tiền cho ông rồi thì làm sao tôi có cơ hội được yết kiến ông thế này chứ?” Tiết cấp lão gia bắt đầu thận trọng hơn, chằm chằm nhìn Tống Giang bằng ánh mắt đầy ngờ vực. Tống Giang nói: “Tôi là bạn của giáo sư Ngô, có một bức thư muốn chuyển tới tiết cấp.”

Tiết cấp lão gia nghe thấy vậy, hốt hoảng đóng cửa, quay lại hỏi: “Anh nói là giáo sư Ngô nào vậy?”

Tống Giang nói: “Chính là giáo sư Ngô - Trí Đa Tinh Ngô Dụng.” Rồi lấy bức thư từ trong áo ra đưa cho tiết cấp lão gia. Thì ra, Ngô Dụng ở Lương Sơn hay tin Tống Giang bị bắt về quy án, trong lòng rất lo lắng, bèn thừa lúc áp giải trên đường, mang tới rất nhiều ngân lượng cùng với bức thư này cho Tống Giang, chỉ mong sẽ có lúc dùng đến.

Bạn đọc thân mến, tiết cấp lão gia này không phải là người bình thường, mà chính là Thần Hành Thái Bảo Đới Tung tiếng tăm lừng lẫy. Nhân vật này học được một đạo thuật: Một là buộc hai giáp ngựa (33) vào hai chân, gọi là “thần hành pháp”, một ngày đi được năm trăm dặm; hai là buộc bốn giáp ngựa vào một chân, một ngày đi được tám trăm dặm. Ngày nay tương đương với xe gắn máy phân khối lớn, đúng là trên cả tuyệt vời. Ai có thể nghĩ được một người giỏi thế này mà lại hạ mình làm cai ngục trong nhà lao? Ai mà nghĩ được rằng Trí Đa Tinh Ngô Dụng ở xa ngàn dặm lại là bạn thân của một người giỏi như thế! Đới Tung xem xong thư, quả nhiên sắc mặt thay đổi, vội quay sang hành lễ với Tống Giang, Tống Giang vội vàng đỡ dậy. Hai người rời khỏi nhà lao, đến thuê một phòng ở quán rượu sát bên đường, không khí yên tĩnh hơn, dễ nói chuyện hơn.

Theo thông lệ thời nhà Tống, tiết cấp trông coi nhà lao được gọi là viện trưởng, Đới Tung vì thế mà có tên là Đới viện trưởng. Tống Giang rất biết xã giao, cứ một câu “Đới viện trưởng”, hai câu “Đới viện trưởng”, làm Đới Tung trước ngạo mạn sau thành ra cung kính, không ngừng kính rượu nhận lỗi với Tống Giang.

Sau khi đã rượu say tai nóng, Tống Giang bắt đầu quan tâm đến cuộc sống riêng tư của Đới Tung, liền hỏi: “Cậu làm viện trưởng một năm, bao gồm cả tiền lương và tiền thông lệ thì thu nhập là bao nhiêu?”

Đới Tung trả lời: “Tiền lương cả năm không quá ba mươi quan tiền, còn tiền thông lệ thì thu nhập cũng khá. Phàm là tội phạm áp giải đến đây đều phải nộp lên năm lạng bạc, một năm tính ra cũng phải được khoảng một nghìn năm trăm lạng bạc, cũng tương đối cao.”

Tống Giang cười nói: “Chức viện trưởng này cũng béo bở đó chứ! Hồi tôi làm việc ở nha môn, mỗi năm chỉ cần bỏ ra mười lạng bạc cũng đủ để nuôi tình nhân bên ngoài. Cậu một năm kiếm được từng đó ngân lượng có thể nuôi đủ một quân đoàn người đẹp rồi đó.”

Đới Tung nói: “Cần nhiều gái đẹp thế để làm gì chứ? Có nằm trên đống vàng cũng chưa chắc có phúc mà hưởng. Thân làm đại trượng phu sao phải chìm đắm trong lũ đàn bà đó?”

Tống Giang hỏi: “Thế cậu cần nhiều tiền vậy để làm gì?”

Đới Tung giãi bày: “Đồng ruộng phì nhiêu ngàn tấc, ngày ba bữa cơm no, đêm ngủ đủ giấc, tôi cần nhiều tiền thế để làm gì chứ? Thế nhưng, tiền thông lệ này vẫn phải nhận. Tiền thông lệ, không phải là vì tiền mà là vì thông lệ.”

Tiền là một thứ kì lạ cũng giống như tính người vậy

“Không phải vì tiền mà là vì thông lệ.” Câu nói này của Đới Tung phải được liệt vào hàng danh ngôn kinh điển. Thiết nghĩ, những nam thanh nữ tú trên đời này thường vì những thông lệ khó hiểu mà lao vào cuộc chơi chạy theo đồng tiền. Trong bảng danh sách “10 loại phụ nữ đáng bị ăn đòn”, phụ nữ hám tiền của được liệt vào hàng thứ tư. Thực ra ngay bản thân Tống Giang cũng là một người đàn ông tham tiền bạc. Khắp thiên hạ này liệu có được mấy người không thích tiền chứ?

“Không phải vì tiền mà là vì thông lệ, nhưng cái gọi là thông lệ, suy cho cùng thì vẫn là vì tiền.” Kiến giải của Tống Giang hiển nhiên là thâm thúy hơn cả Đới Tung.

Đới Tung bỗng ngẩn tò te nhìn Tống Giang.

“Tiền, là thứ con người sáng tạo ra, lại kì lạ giống như tính cách của con người vậy.” Tống Giang nhìn Đới Tung và nói: “Mặc dù anh em ta mới gặp gỡ lần đầu, nhưng tôi cảm thấy như là đã là anh em thân thiết từ lâu, vậy nhân đây chúng ta cùng bàn đến sự kì lạ của đồng tiền, cậu thấy có được không?” Đới Tung gật đầu. Tống Giang bèn bẻ ngón tay, bắt đầu nói đến cái lợi của đồng tiền trước.

Cái lợi đầu tiên của tiền là nó mang lại cho chúng tôi cảm giác an toàn. Trong thế giới động vật, bất kể là loài hổ hung ác, hay là loài chim nhạn bay trên cao, đều phải sống trong cảnh bữa đực bữa cái, vì thức ăn của chúng không thể cất giữ lâu được. Con người lại có thể bán đi nguồn lương thực dồi dào thu hoạch được để đổi lấy tiền, dành dụm cho ngày hôm sau. Như vậy, cuộc sống của con người ổn định hơn, đảm bảo hơn so với động vật. Một người mà tích lũy được càng nhiều tiền thì anh ta càng có cảm giác an toàn nhiều hơn. Một cô gái trẻ sở dĩ sẵn sàng lấy một người giầu có vì tài sản của anh ta làm cho cô gái cảm thấy an toàn. Còn một số người muốn làm quan là vì họ sẽ được nắm giữ quyền phân chia tài sản.

Cái lợi thứ hai của tiền là mang lại cho chúng ta cảm giác vinh dự. Ở thời cổ đại, dũng sĩ nào mà săn được nhiều thú thì sẽ nhận được sự kính trọng của mọi người. Còn thời nay thì con người thích khoe khoang tiền của, cũng giống như các dũng sĩ ngày xưa khoe chiến lợi phẩm săn được vậy. Những người ra ngoài lập nghiệp phấn đấu nhiều năm để có thể “áo gấm về làng” cũng là vì muốn được rạng danh với họ hàng, làng xóm. Trong xã hội công nghiệp ngày nay, mỗi đồng tiền làm ra đều như một tấm huy chương, chứng minh kết quả nỗ lực phấn đấu của mỗi người.

Cái lợi thứ ba của đồng tiền là có thể đem lại cho chúng ta cuộc sống tươi đẹp và nhàn nhã hơn. Chúng ta thường nói: “Lao động là vinh quang". Thế nhưng trên thực tế rất nhiều người đều có thói ham chơi lười làm. Trong truyện Thủy Hử có một bài thơ như sau: “Ngày ngày nắng đổ tựa lò than/ Xơ xác đồng khô mạ héo tàn/ Nông phu gan ruột sôi trong nước/ Vương tôn công tử phảy quạt nhàn.” Tại sao nông dân lòng lại như sôi trong nước? Là vì cuộc sống của họ tất cả trông chờ vào nghề nông. Trong khi đó vương tôn công tử với cuộc sống nhàn hạ và thoải mái thì lại trở thành điều đáng mơ ước đối với nông dân.

Cái lợi thứ tư của đồng tiền là chúng ta có thể sử dụng nó để giúp được nhiều người khác. Từ xưa đến nay, làm từ thiện là một đức tính tốt được người đời kính trọng, nhưng tiền đề là anh phải có tiền. Tống Giang sở dĩ được anh em trên giang hồ gọi là Cập Thời Vũ là bởi vì anh có tiền, và thứ nữa là anh coi nhẹ tiền tài, xem trọng nghĩa khí.

Cái lợi thứ năm của đồng tiền là chúng ta có thể dùng nó để điều khiển người khác. Mặc dù ngoài miệng ai ai cũng đề cao chính nghĩa, tự do, bình đẳng những trên thực tế thì trong bụng mỗi người lại mong muốn lời nói của mình quyết định tất cả. Tiền bạc có thể cho chúng ta cái quyền đó - quyết định mọi việc và chi phối người khác - có tiền, chúng ta có thể làm ông chủ điều khiển người khác bán sức lao động của mình để đổi lấy tiền lương. Đương nhiên, có lúc chúng ta cũng cần thêm vào trong đó sự tôn trọng và lịch sự cần thiết.

Lợi ích thứ sáu của đồng tiền, đó là chúng ta có thể dùng nó để thay đổi hình tượng của bản thân. Luôn luôn có một số người cho rằng bản thân mình chưa hoàn thiện cho lắm, nên muốn thay đổi bản thân. Cũng như cô nàng Lọ Lem xấu xí muốn biến thành một nàng công chúa xinh đẹp vậy, ai cũng thích những bộ quần áo mới và đẹp. Tiền bạc đủ đầy giúp chúng ta có điều kiện ăn diện, trang điểm cho mình ngày càng trở nên xinh đẹp hơn, sang trọng hơn và có khí chất hơn, từ đó có thể giữ gìn và làm mới ấn tượng của cả thế giới này về chúng ta. Còn về việc làm từ thiện, đó cũng là cách thức để thay đổi hình ảnh của bản thân.

Lợi ích thứ bảy của đồng tiền, đó là chiếm được cảm tình của những cô gái đẹp. Cô gái chui ra từ vỏ ốc chỉ là giấc mộng của những người nghèo, còn cuộc sống, tình yêu lãng mạn bao giờ cũng cần phải xây đắp lên bằng tiền bạc. Khi yêu, con gái thường thích đối phương tiêu tiền vì mình, họ không hẳn là tham tiền bạc, nhưng nếu các chàng trai hiểu được cách tôn trọng bạn gái của mình, thường xuyên mua quà để bày tỏ tình cảm thì chắc chắn sẽ làm cho cô gái vô cùng cảm động. Tiêu tiền vì người con gái mình yêu là một cách hiệu quả để chiếm được tình cảm của cô gái, cũng giống như chú chim công đực xòe cái đuôi lộng lẫy, rực rỡ sắc màu của mình để thu hút bạn tình vậy.

Lợi ích thứ tám của tiền bạc, đó là hiệu ứng Matthew (34) của đồng tiền. Cũng như một câu cổ ngữ của Trung Quốc: “Đã giàu lại càng giàu thêm.” Khi bạn có càng nhiều vốn, thì bạn càng dễ dàng nhanh chóng tích lũy được càng nhiều vốn cần thiết hơn, từ đó càng có nhiều cơ hội để đạt được thành công hơn. Trong lĩnh vực công nghiệp thương mại, những công ty lớn thường thông qua khâu sản xuất và tiêu thụ với quy mô lớn để hạ thấp chi phí, họ có thực lực để đầu tư cho khâu nghiên cứu cải tiến kĩ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mới và nhờ vậy giành được ưu thế cạnh tranh hơn. Trước cảnh thói đời thay đổi thất thường, người chạy theo đồng tiền thì nhiều, còn người sẵn sàng giúp đỡ người khác lúc hoạn nạn thì ít, khiến cho tình trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc, người giàu thì ngày càng giàu hơn, còn người nghèo thì ngày càng nghèo hơn.

Lợi ích thứ chín của tiền bạc, đó là nó có thể mang lại cho bạn một sức mạnh thần kì. Khi không có tiền bạn chỉ có thể làm một kẻ làm công ăn lương. Nhưng khi có tiền thì bạn có thể biến người khác trở thành kẻ làm công ăn lương. Tiền càng nhiều thì khả năng chi phối thế giới của bạn càng lớn. Điều thú vị ở đây là, sở dĩ người nghèo thích đánh bạc thực chất cũng là vì muốn kiếm được nhiều tiền hơn để thay đổi vận mệnh của mình. Con người vẫn luôn ảo tưởng rằng khi càng có nhiều tiền thì họ càng dễ có được một cuộc sống tốt đẹp như họ vẫn hằng mong muốn.

“Em thừa nhận rằng tiền bạc có rất nhiều ưu điểm khiến con người mê muội. Nhưng mà…” Đới Tung trong lòng vẫn có chút băn khoăn, khó hiểu: “Tại sao người ta vẫn cho rằng tham tiền háo sắc là điều tội lỗi?”

Tống Giang cười một cách giễu cợt và nói: “Nếu tham tiền háo sắc là điều tội lỗi thì tôi tình nguyện làm tên tội đồ lưu danh thiên sử. Đàn ông mà không tham tiền bạc thì sinh ra trên cõi đời này thật uổng phí. Đàn ông mà không háo sắc thì cuộc đời sẽ vô vị biết bao. Chỉ có tham tiền và háo sắc mới có thể viết lên áng văn rực rỡ tươi đẹp, đầy màu sắc của đời người, cậu có hiểu không?”

Đới Tung lần đầu tiên được nghe những lý lẽ thế này, làm sao có thể hiểu được!

Nhưng Tống Giang lại thở dài và nói, tiền bạc đúng là một thứ quái dị, nó có thể đưa con người ta một bước lên trời nhưng cũng dễ khiến cho con người ta thoái hóa biến chất. Tống Giang cho rằng, tham tiền thế nào và háo sắc ra sao thực sự là hai phạm trù cao siêu - biết cách tham tiền mới có thể trở thành một doanh nhân lớn như Đào Chu Công và biết cách háo sắc thì mới có thể trở thành một nhà văn lớn như Tư Mã Tương Như. Nếu nói tham tiền, háo sắc là tội lỗi thì chắc chắn tội lỗi nằm ở chỗ bạn không có hiểu biết.

Cuối cùng, bằng những kinh nghiệm và trải nghiệm đã khắc cốt ghi tâm của mình, Tống Giang đưa ra kết luận: Một là, phải học cách quản lý tiền bạc chứ không phải để tiền bạc làm cho mê muội. Hai là, phải học cách quản lý phụ nữ thay vì bị mê muội bởi phụ nữ. Ba là, một khi đã bị mê muội thì chúng sẽ giống như liều thuốc độc gặm nhấm tính mạng và tâm hồn của chúng ta.

Một bài diễn thuyết đầy triết lý đã làm cho Thần Hành Thái Bảo Đới Tung được sáng mắt sáng lòng. Trên thực tế, anh chàng lại bị mê muội một lần nữa. Nhưng lần này thứ làm anh mê muội không phải là tiền bạc hay sắc đẹp, mà chính là trí tuệ uyên bác của Tống Giang.

Hai người đang say sưa tâm sự, mới chỉ uống được hai ba chén rượu thì nghe thấy tiếng ồn ào từ dưới lầu vọng lên. Đới Tung thấy phiền phức, khó chịu liền gọi phục vụ đến hỏi chuyện. Người phục vụ nói: “Đó là Thiết Ngưu mà bình thường ngài hay dẫn đến, anh ta đến tìm gặp ông chủ để vay tiền. Trước đây, ông chủ cũng đã hai lần cho anh ta vay rồi, lần này không dám cho vay nữa. Hai bên đang giằng co đánh lộn.” Đới Tung tức giận nói: “Cái tên đầy tớ này thật vô lễ, cậu xuống gọi hắn lên đây cho tôi.”

Không lâu sau, người phục vụ dẫn lên một anh chàng đen xì vẻ mặt dữ tợn. Tống Giang vừa trông thấy không khỏi ngạc nhiên, hỏi: “Người anh em này là ai?” Đới Tung trả lời: “Đây là một chiến hữu của em, mọi người trên giang hồ gọi cậu ấy là Hắc Toàn Phong Lý Quỳ, hiện giờ đi theo em làm lính cai ngục trong lao thành.” Tống Giang nói: “Tôi thấy người anh em này rất có khí chất anh hùng, sao lại ra nông nỗi phải vay tiền để sống thế này?” Đới Tung đáp: “Cậu ta mượn tiền đâu phải để sống qua ngày, mà là để đánh bạc đấy chứ.” Hai người cùng nhìn Lý Quỳ bằng ánh mắt ái ngại.

Tống Giang lại hỏi tiếp: “Cậu cần mượn bao nhiêu tiền?” Lý Quỳ không trả lời. Tống Giang lấy trong người ra mười nén bạc, đặt vào tay Lý Quỳ nói: “Đây là tiền vốn tôi đưa cho cậu để đánh bạc. Nếu cậu thắng thì trả lại tiền cho tôi là được. Còn nếu như thua thì coi như tôi tặng cho cậu.” Lý Quỳ bần thần một lúc lâu, sau đó mới ôm đống bạc vào lòng, giọng ồm ồm nói: “Đa tạ ý tốt của đại ca, lần này tôi quyết thắng một trận cho đại ca xem.” Sau đó với dáng vẻ rất cương nghị, Lý Quỳ vén rèm mở cửa bước xuống lầu.

Tạm thời không nhắc đến chuyện Tống Giang và Đới Tung tiếp tục uống rượu ra sao. Mà nói đến Lý Quỳ, sau khi cầm được bạc, vừa đi anh chàng vừa nghĩ: “Hiếm có ai được như đại ca Tống Giang, dù không hề quen biết mà lại nhiệt tình với mình như vậy, còn cho mình mười nén bạc làm vốn, chẳng trách mọi người gọi ông ấy là ‘Cập Thời Vũ’, quả đúng là danh bất hư truyền. Trên đời lại có người tốt như vậy, sau này Thiết Ngưu tôi nhất định phải báo đáp ân tình này của anh ấy mới được.” Nào ngờ đến sòng bạc, không thắng nổi ván nào, trái lại chơi hai ván đã thua hết sạch. Hắn ta vì thế mà cảm thấy hổ thẹn trong lòng, mỗi lần gặp Tống Giang chỉ biết cúi đầu.

Tống Giang trong bụng đã có tính toán sẵn. Mặc dù phải mất một món tiền kha khá nhưng lại giành được sự tin tưởng và mến mộ của hai người anh em Đới Tung và Lý Quỳ. Từ đó, mặc dù thân là tù nhân ở lao thành Giang Châu nhưng Tống Giang lại được tự do ra vào như nhà của mình. Anh lại khéo kết bạn, chưa đầy hai tháng đã kết giao với một loạt các anh hùng hảo hán giang hồ như Hỗn Giang Long Lý Tuấn, Thôi Mệnh Phán Quan Lý Lập, Xuất Động Giao Đồng Uy, Phan Giang Thần Đồng Mãnh, Thuyền Đầu Hỏa Trương Hoành, Lãng Lý Bạch Điều Trương Thuận, Bệnh Đại Trùng Tiết Vĩnh, Một Già Lan Mục Hoằng và Tiểu Già Lan Mục Xuân.

Người thầy kinh doanh bên bờ sông Tầm Dương

Một hôm, các anh em tụ họp tại quán rượu Lầu Tầm Dương để bàn về triết lý kinh doanh.

Tống Giang nói: “Tôi sẽ đưa ra một câu hỏi để kiểm tra trí thông minh của các anh em, mọi người thấy thế nào?” Mọi người ai nấy đều đồng ý.

Câu hỏi là: “Người ta phát hiện ra một mỏ vàng, mọi người nô nức kéo nhau đi đào vàng như ong vỡ tổ. Không ngờ, giữa đường bị chặn bởi một con sông. Vậy thì nếu như là các bạn, các bạn sẽ làm như thế nào?”

Lãng Lý Bạch Điều Trương Thuận nói: “Bơi lội là sở trường của em, em chỉ cần bơi qua sông là được.”

Bệnh Đại Trùng Tiết Vĩnh đáp: “Em chưa biết bơi nên phải chờ người anh em Trương Thuận dạy bơi cho đã.”

Tống Giang cười đầy ẩn ý, nói: “Tại sao mọi người lại cứ phải đi đãi vàng? Sao không có ai nghĩ đến việc mua một vài con thuyền để kinh doanh vận chuyển người qua sông?” Tất cả mọi người đều lấy làm kinh ngạc. Tống Giang giải thích, cũng bởi vì phía trước có mỏ vàng, nên cho dù có bị chặt chém đến mức chỉ còn lại chiếc quần đùi thì khách qua sông cũng đi cho bằng được, đây chẳng phải là một phi vụ làm ăn tốt hay sao?”

Hỗn Giang Long Lý Tuấn nghe xong liền nảy ra một ý, anh cho người đi loan tin rằng dãy núi Yết Dương bên kia sông Tầm Dương phát hiện có mỏ vàng. Đồng thời cùng với Xuất Động Giao Đồng Uy, Phan Giang Thần Đồng Mãnh, Thuyền Đầu Hỏa Trương Hoành, Lãng Lý Bạch Điều Trương Thuận nhân cơ hội đó thành lập một công ty vận tải đường thủy. Chỉ trong thời gian ngắn, thành Giang Châu xuất hiện rất nhiều người đi đãi vàng, tấp nập thuê thuyền qua sông. Đợi đến khi đám người đi đãi vàng kia thất vọng quay về cũng vẫn phải thuê thuyền để sang sông. Quả nhiên giống như lời của Tống Giang, việc làm ăn của công ty vận tải vô cùng phát đạt. Sau này, một đồn mười, mười đồn trăm, tin tức có mỏ vàng lan truyền đi khắp nơi, phong trào qua sông đãi vàng vẫn kéo dài trong nhiều năm, công ty vận tải nhờ đó cũng kiếm được món lợi kếch xù.

Hai anh em Một Già Lan Mục Hoằng và Tiểu Già Lan Mục Xuân vốn xuất thân trong một gia đình thương gia. Quán rượu Lầu Tầm Dương là sản nghiệp mà cha của họ - Mục Thái Công đã kinh doanh trong nhiều năm. Một hôm, Mục Thái Công đến gặp Tống Giang để thỉnh giáo.

Tống Giang nói: “Mục tiêu của kinh doanh nhà hàng là phải lôi kéo được khách quay lại. Tôi có một cách này có thể giúp cho việc làm ăn của Lầu Tầm Dương phát đạt.”

Tống Giang đưa ra những kiến nghị như sau: Thứ nhất, đến trấn Cảnh Đức đặt làm một loạt bình rượu kiểu dáng nghệ thuật. Thứ hai, đem những bình rượu đó tặng cho khách hàng. Thứ ba, trên bình rượu hãy dán tên tuổi của khách hàng được nhận. Thứ tư, khi khách hàng đến quán ăn uống, họ sẽ được phục vụ bằng chính bình rượu riêng của mình. Thứ năm, trong tiền sảnh của quán cho đặt một tủ rượu thật lộng lẫy sang trọng, để trước khi ra về khách hàng có thể đặt bình rượu của mình ở đó. Như vậy, vừa thỏa mãn được nhu cầu thể hiện cái Tôi của khách hàng, còn rượu họ uống không hết có thể cất trong bình rượu riêng của họ, lần sau đến lại tiếp tục thưởng thức; hơn nữa đại sảnh được trang trí bằng các loại bình rượu rực rỡ muôn màu như vậy vừa làm cho người ta được mãn nhãn vừa tạo được khí thế.

Mục Thái Công làm theo cách của Tống Giang, quả nhiên đã thu được kết quả đáng kinh ngạc. Tuy chỉ là tặng một bình rượu đẹp mắt mà lại có thể khiến cho khách quay lại quán rượu lần nữa, rồi dần trở thành khách quen. Công việc kinh doanh của Lầu Tầm Dương rất phát đạt, Mục Thái Công tất nhiên trong lòng vô cùng phấn khởi.

Từ đó, các anh em đều coi Tống Giang là bậc thầy kinh doanh của mình, mỗi khi có khó khăn, khúc mắc gì đều đến nhờ anh tư vấn giúp. Tống Giang cũng dốc sức để giúp đỡ họ, vì thế mà được các anh em vô cùng yêu quí kính trọng. Danh tiếng của Tống Giang trên giang hồ cũng mỗi ngày một lớn. Các anh hùng lập nghiệp khắp thiên hạ ai cũng coi việc kết giao với Tống Giang là vinh dự lớn.

Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ, thấm thoát đã hơn một năm, giờ đang vào thu, tiết trời trong lành mát mẻ. Buổi sáng ngủ dậy, Tống Giang đến phòng văn thư ngồi một lát, nhưng không có việc gì làm, lại ra khỏi lao thành, đi vào trong phố. Đột nhiên, Tống Giang lại nhớ ra mình vẫn còn một nửa bình rượu ngon ở quán rượu Lầu Tầm Dương, chi bằng đến đó để giết thời gian buổi sáng này đã. Đến quán rượu, anh hỏi người phục vụ xem Một Già Lan Mục Hoằng và Tiểu Già Lan Mục Xuân có ở quán không thì được biết hai anh em họ tối qua đã bị Hắc Toàn Phong Lý Quỳ kéo đi đánh bạc đến giờ vẫn chưa về. Tống Giang đành lên lầu một mình, tìm một chỗ gần cửa sổ, gọi một vài món tủ của quán, rồi sai phục vụ đem bình rượu của mình lại, từ từ thưởng thức. Nửa bình rượu uống hết rồi mà vẫn chưa đã, Tống Giang liền gọi thêm một bình nữa. Càng uống, trong lòng anh lại trào dâng bao nỗi niềm tủi nhục, xót xa. Tống Giang thầm nghĩ: “Ta sinh ra ở Sơn Đông, lớn lên ở Vận Thành, xuất thân từ chốn quan trường, năm nay đã 36 tuổi đầu vậy mà chưa gây dựng được chút công danh sự nghiệp gì, trái lại còn bị hai người phụ nữ hãm hại, phải lưu đày đến nơi đất khách quê người, ngồi trong lao tù. Thiết nghĩ, Tống Giang ta không phải kẻ vô dụng, lại lôi kéo được bao nhiêu anh hùng hào kiệt, vậy mà chẳng biết bao giờ mới có ngày được thấy ánh mặt trời, để Tống Giang ta được mở mày mở mặt, cười ngạo với trời xanh.”

Một cơn gió từ phía sông thổi lại, Tống Giang lúc này đã ngà ngà say. Ngước mắt lên nhìn thấy bức tường màu hồng nhạt, trên đó biết bao nhiêu tao nhân mặc khách đã đề thơ, Tống Giang nghĩ:

“Ta cũng làm một bài đề lên đây. Nếu sau này có ngày công thành danh toại nhất định sẽ quay lại thăm nơi này, há chẳng phải là một việc tốt hay sao!” Sau đó cho gọi phục vụ mang bút và nghiên mực đến hầu, trên bức tường trắng, Tống Giang viết một bài thơ tựa đề Tây Giang Nguyệt :

Thuở nhỏ theo đòi kinh sử

Lớn lên thông thạo quyền mưu

Khác nào hổ mạnh lấp hang sâu,

Kín nanh dấu vuốt ai biết đâu?

Chẳng may thời vận cơ cầu.

Bỗng dưng chạm mặt đầy Giang Châu

Một mai may báo được oan cừu

Viết xong, Tống Giang tự thưởng thức lại bài thơ của mình hai lần nữa rồi cất tiếng cười ha hả. Đoạn lại hỏi người phục vụ, mặc dù còn trẻ tuổi nhưng cũng khá trải đời, anh ta lập tức tâng bốc Tống Giang mấy câu.

Tống Giang nghe xong lại càng hăng máu, uống cạn thêm chén rượu, rồi cầm bút lên đề thêm bốn câu tiếp vào sau bài Tây Giang Nguyệt kia:

Tâm ở Giang Đông thân ở Ngô

Mấy phen than thở mấy giang hồ

Ngày sau như thỏa lòng mong ước

Mới biết Hoàng Sào (35) cũng trượng phu.

Dưới bài thơ đề đại danh của mình: “Tác phẩm của Tống Giang ở Vận Thành”.

Viết xong, Tống Giang lại lắc la lắc lư cất giọng hát. Mục Thái Công lên lầu thấy anh đã say bí tỉ, liền gọi người đỡ Tống Giang xuống phòng khách bên dưới nằm nghỉ. Tống Giang thấy mình nhẹ lâng lâng như đang cưỡi mây đạp gió, trong cảm giác tuyệt vời khó tả ấy anh say sưa chìm vào giấc ngủ.

Tục ngữ nói rất hay: “Để vợ vui, làm cơm. Để bồ vui, làm tình. Để bạn vui, làm chủ (đứng ra tổ chức hoạt động). Để mình vui, làm giấc (nằm mơ)”. Tống Giang bắt đầu nằm mơ, anh mơ được cùng với Ngọc Hoàng đại đế du ngoạn khắp Thiên đình, chỉ cho nhau xem cảnh non nước tuyệt đẹp dưới nhân gian.

Chương này lấy cốt truyện từ Hồi thứ 39 “Gác Tầm Dương đề thơ tâm huyết” trong truyện Thủy Hử .

Kim Thánh Thán nói: “Người trong thiên hạ, không ai lại không muốn được gần gũi Tống Giang.” Vì sao vậy? Thứ nhất, Tống Giang giỏi thể hiện sự quan tâm, thứ hai là lại giỏi dùng tiền trong việc giao lưu kết bạn, đây chính là đạo lý giao thiệp ngoài xã hội. Doanh nhân biết giao thiệp thì đi đến đâu cũng có thị trường. Nhà quản lí biết giao thiệp thì không bao giờ thiếu nguồn nhân lực. Xưa có Tống Giang mặc dù chỉ là một tù nhân, nhưng lại thu phục được anh hùng hảo hán khắp thiên hạ. Ông không có cái danh của ông chủ nhưng lại có thực tài của ông chủ, biến nhân tài khắp thiên hạ trở thành nguồn nhân lực trong tay mình. Thiết nghĩ Tống Giang mặc dù bề ngoài khiêm tốn nhưng bên trong lại tự phụ, vì thế mới gây ra chuyện rắc rối là uống rượu say ngâm thơ phản ở lầu Tầm Dương.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của thành quân ức