Chủ tịch hội đồng quản trị Tống Giang liên tiếp nhiều năm liền được nhận các danh hiệu cao quý như “Nhân vật kinh tế nổi bật trong năm của Đại Tống”, “Top 10 doanh nhân cao quý của Đại Tống”. Song trong lòng Tống Giang vẫn luôn đau đáu hai vấn đề: Thứ nhất là tội lỗi của doanh nghiệp và doanh nhân, thứ hai là nỗi niềm về thân phận con người.

Đánh bài phải dựa vào vận may, lập nghiệp phải dựa vào tố chất. 108 vị anh hùng Lương Sơn tập hợp lại, vừa đủ một bàn cờ mạt chược, chỉ còn xem Tống Giang điều khiển thế nào mà thôi.
Ba phần làm việc, bảy phần làm người
Lư Tuấn Nghĩa lao tâm khổ tứ làm cải cách, cuối cùng cũng hoàn thành kế hoạch năm đúng hạn và còn vượt định mức đặt ra, cả công ty ai cũng được lĩnh tiền thưởng hậu hĩnh. Tuy nhiên, ngay trong lúc người ta không ngớt lời ca ngợi anh thì cũng có những người cười khẩy. Những lời oán thán và đồn đại như dự báo điềm chẳng lành sắp xảy đến với Lư Tuấn Nghĩa. Có lẽ, đây chính là số mệnh mà tất cả những người làm cải cách đều không tránh khỏi, Ngọc Kỳ Lân Lư Tuấn Nghĩa cũng nằm trong số đó.
Một hôm nhàn rỗi thảnh thơi, Nhập Vân Long Công Tôn Thắng hẹn Lư Tuấn Nghĩa đi câu cá, mới tâm sự rằng: “Giám đốc Lư làm việc thật có khí phách, đúng là bậc đại anh hùng làm việc lớn, đáng tiếc thay lại không hiểu chính trị.”
Lư Tuấn Nghĩa hỏi: “Tôi không hiểu chính trị như thế nào?”
Công Tôn Thắng nói: “Bí quyết của người lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp là, dành ba phần để làm việc, còn bảy phần để làm người. Nếu xét về làm việc, thì tôi không bằng giám đốc. Còn nói về làm người, thì cái này ‘thú vị’ đây. Nói giám đốc không hiểu chính trị, là bởi vì giám đốc không hiểu được cái ‘ý tứ’ bên trong nó.”
Lư Tuấn Nghĩa ngẩn người ra, hỏi: “Ý cậu là gì?”
Công Tôn Thắng cười tủm tỉm, đọc lên một đoạn vè như sau: “Không làm việc - vô dụng, làm chút việc - vô tư, làm quá nhiều - vô nghĩa, làm quá tốt - vô…? Giám đốc ấy à, chính là làm tốt quá, người ta mới đặt câu hỏi rằng ông có ý gì!”
Lư Tuấn Nghĩa ngơ ngác chẳng hiểu gì: “Người nào đặt câu hỏi? Muốn hỏi ý gì?”
Công Tôn Thắng buột miệng cười thành tiếng, nhưng nhất quyết không chịu nói “ý gì” kia cho rõ ràng. Bất luận Lư Tuấn Nghĩa truy hỏi thế nào, anh ta cũng chỉ chăm chú theo dõi cá trên mặt hồ, không nói thêm một lời nào nữa.
Về phần Lư Tuấn Nghĩa, đầu óc anh như bị bao phủ một màn sương mờ mịt, khó hiểu bất an. Lư Tuấn Nghĩa thở dài nghĩ bụng: “Chẳng hiểu gì cả, ở đâu ra bài vè ấy không biết?”
Nguồn gốc của 108 vị anh hùng Lương Sơn
Giờ đã sang xuân, tiết trời ấm áp, dễ chịu. Tống Giang cho trang hoàng lại Tụ Nghĩa Đường, đổi tên thành Trung Nghĩa Đường. Lại cho dựng cờ vàng ở đỉnh núi, trên thêu bốn chữ “Thay trời hành đạo”. Trong ngoài công ty cờ hoa sặc sỡ, pháo nổ đì đùng, náo nhiệt như ngày Tết. Cuộc họp hội đồng quản trị để chọn ra vị lãnh đạo mới sẽ được diễn ra tại Trung Nghĩa Đường vừa mới tu sửa lại này.
Bên trong Trung Nghĩa Đường kê 108 chiếc ghế. Tống Giang kiểm tra một lượt danh sách nhân viên, hóa ra anh tài đông đảo, tổng cộng là 108 vị anh hùng hảo hán, vừa khớp với số 108 vị La hán. Lần đại hội này có hai sự kiện lớn: Thứ nhất là bầu ra chủ tịch mới; thứ hai là tổ chức lễ xếp thứ bậc anh hùng, và thông qua nghi thức này hoàn thiện bộ máy tổ chức và cơ cấu vận hành của công ty.
Mở đầu đại hội, Tống Giang đọc một bài diễn văn, tưởng niệm công lao to lớn của Tiều Thiên Vương, toàn thể hội trường đứng dậy mặc niệm người quá cố. Cả không gian chìm trong yên lặng, đâu đó vẳng lên tiếng người thút thít. Tiếp theo, Tống Giang đề cử đưa Ngọc Kỳ Lân Lư Tuấn Nghĩa lên làm chủ tịch mới. Trước đó Lư Tuấn Nghĩa đã được Công Tôn Thắng “nhắc nhở”, nay lại thấy Hắc Toàn Phong Lý Quỳ, Hành Giả Võ Tòng… nhìn mình bằng ánh mắt lạnh lùng, biết là không thể tranh giành quyền lực với Tống Giang, chẳng dám ngấp nghé đến cái ghế chủ tịch hội đồng quản trị nữa, bèn vội vàng từ chối.
Tống Giang nói: “Tiều Thiên Vương trước khi ra đi đã để lại lời trăn trối, nếu ai bắt được Sử Văn Cung trả thù cho anh ấy, thì người đó được làm ông chủ của Lương Sơn. Hôm nay chiếc ghế còn trống này, không còn ai xứng đáng hơn giám đốc Lư.”
Lư Tuấn Nghĩa bình thường tự nhận mình là người có tài ăn nói, lúc này lại không biết phải nói gì, dứt khoát quỳ rạp xuống đất, thưa: “Anh đức cao vọng trọng, mời anh ngồi vào chiếc ghế này. Lư mỗ em nguyện chết chứ khó lòng mà tuân mệnh được.”
Trí Đa Tinh Ngô Dụng đúng lúc này ở bên cạnh cũng lên tiếng khuyên can: “Anh hãy làm theo lời giám đốc Lư đi! Nguyện vọng của đông đảo anh em, cũng là muốn tôn anh làm chủ tịch, kế đến là giám đốc Lư, các anh em còn lại xếp theo thứ tự, cùng nhau phò trợ đại nghiệp của Lương Sơn.” Lý Quỳ, Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm… nghe giáo sư Ngô nói vậy, cả bọn bàn tán râm ran. Tống Giang bèn lên tiếng: “Nếu các anh em đã nói như vậy, thì tôi tạm thời giữ chức chủ tịch này. Nếu như Tống Giang tôi có bất kì chỗ nào không làm tròn chức trách hoặc tổn hại về mặt đạo đức, thì vị trí này sẽ do giám đốc Lư thay thế.” Lý Quỳ nhanh nhảu đứng lên đỡ Tống Giang ngồi vào chiếc ghế số 1.
“Tên tiểu tử mặt đen này, chỉ được cái láu táu!” Tống Giang lại đứng dậy, dõng dạc nói: “Được sự cất nhắc của anh em, đề bạt Tống Giang tôi giữ chức chủ tịch này. Vậy Tống Giang với tư cách là Chủ tịch hội đồng quản trị, xin được đọc một văn kiện quan trọng của công ty - ‘Đề án kế hoạch chia cổ phần cho các thành viên trong công ty’, để anh em cùng thảo luận.”
Đợt đầu tổng cộng có 108 người được nhận cổ phần, tiến hành đánh giá dựa vào các tiêu chuẩn như tài năng, sự cống hiến và mức độ trung thành, xét theo thứ tự sẽ được hưởng mức cổ phần khác nhau. Những nhân viên có thâm niên như Trí Đa Tinh Ngô Dụng, Báo Tử Đầu Lâm Xung, Hành Giả Võ Tòng, Tiểu Lý Quảng Hoa Vinh… từ ngày đầu đã có vốn đóng góp, nay được liệt vào hàng cống hiến, là một trong những tiêu chuẩn bình xét, được chia cổ phần theo tỷ lệ nhất định. Phanh Mệnh Tam Lang Thạch Tú, Thánh Thủ Thư Sinh Tiêu Nhượng,… tuy không có đóng góp cổ phần, nhưng do có đóng góp về mặt trí tuệ chất xám nên cũng sẽ được hưởng mức cổ phần khả quan.
Chế độ khích lệ bằng chia cổ phần này thực sự là một sáng kiến vĩ đại của công ty. Trong đó những mặt đáng khen ngợi của nó có thể dễ dàng nhìn thấy. Cụ thể, thể hiện ở bốn mặt sau:
Cho nhân viên có được cảm giác gắn bó với nơi làm việc của mình ở mức độ lớn nhất có thể. Như chúng ta đều biết, theo thông lệ từ trước tới nay, quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê. Doanh nghiệp coi nhân viên là công cụ kiếm tiền cho mình, làm tốt thì tăng lương, làm không tốt thì trừ tiền. Nhân viên cũng tự coi mình là người đi bán sức lao động, thường thiếu trách nhiệm đối với công việc và không có được cảm giác gắn bó. Vậy nên theo như bản đề án mà chủ tịch mới Tống Giang đề ra, thì toàn thể nhân viên công ty đều có thể được chia cổ phần của công ty theo quy tắc trò chơi định sẵn. Như thế cũng có nghĩa là, mỗi nhân viên đều được quyền làm chủ, có quyền quyết định vận mệnh của công ty. Như vậy vừa có thể làm cho nhân viên cảm thấy gắn bó với công ty, đồng thời cũng khích lệ được nhiệt tình làm việc trong họ.
Nhân viên có thể cống hiến cho công ty bằng rất nhiều hình thức, và từ đó có được cổ phần tương đương với sự cống hiến của mình. Như thế đã chuyển hóa được nguồn lực con người thành tiền bạc, thể hiện giá trị cần có của nguồn nhân lực, có lợi cho việc thúc đẩy khai thác và sử dụng nguồn nhân lực.
Đặt nền tảng và củng cố nguồn nhân lực của công ty, rất có ích trong việc ngăn chặn chảy máu chất xám và quy hoạch nguồn nhân lực một cách hợp lý, thậm chí đây còn là biện pháp hữu hiệu trong việc quản lý nguồn nhân lực.
108 nhân viên đợt đầu nhận được cổ phần, cũng đồng nghĩa với việc cơ chế đánh giá được xây dựng. Về sau mỗi lần họp đại hội cổ đông đều sẽ tiến hành bình xét và xếp thứ tự theo trình tự như lần này, nguồn nhân lực của công ty sẽ tràn đầy năng lượng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Cả hội trường nín lặng nghe Tống Giang đọc bản đề án, lòng người phấn khởi cuộn trào như nước triều dâng. Khi Tống Giang đọc xong, cả Trung Nghĩa Đường phút chốc nhốn nháo lên như sóng lớn vỗ bờ. Hắc Toàn Phong Lý Quỳ thậm chí còn xúi Thiết Khiếu Tử Nhạc Hòa nhảy ra giữa hội trường, vừa múa vừa hát, cất cao giọng ca bài Cảm ơn: “Cảm ơn anh, em thực lòng cảm ơn anh, anh Tống Giang kính yêu của em. Cảm ơn anh, em chân thành cảm ơn anh, cảm ơn anh đã cho em công việc và niềm vui. Tấm lòng biết ơn này phun trào như dòng suối, cảm ơn anh, cảm ơn cuộc đời mới đầy tươi đẹp, như bài hát cảm động lòng người…”
Khi không khí náo nhiệt đã lắng xuống, Tống Giang bèn trưng cầu ý kiến của mọi người, xác nhận đề án đã được đa số thông qua. Sau đó, theo như sự xếp hạng thứ tự nắm giữ cổ phần, Hô Bảo Nghĩa Tống Giang đứng thứ nhất, Ngọc Kỳ Lân Lư Tuấn Nghĩa đứng thứ hai, Trí Đa Tinh Ngô Dụng đứng thứ ba, Nhập Vân Long Công Tôn Thắng đứng thứ tư, Đại Đao Quan Thắng đứng thứ năm, Báo Tử Đầu Lâm Xung đứng thứ sáu, Tích Lịch Hỏa Tần Minh đứng thứ bảy, Song Tiên Hô Duyên Chước đứng thứ tám, Tiểu Lý Quảng Hoa Vinh đứng thứ chín… chín người lần lượt ngồi vào chín chiếc ghế của mình. 108 vị cổ đông, chia thành Thiên Cang Tinh 36 vị, Địa Sát Tinh 72 vị, trong đó 36 vị Thiên Cang Tinh là cổ đông thuộc lớp lãnh đạo cao cấp, 72 vị Địa Sát Tinh là cổ đông thuộc lớp lãnh đạo trung cấp. Như vậy hình thành nên 108 vị anh hùng Thủy Hử như trong truyền thuyết.
Cũng có một vài người không phục như Mô Trước Thiên Đỗ Thiên, Vân Lý Kim Cương Tống Vạn có thể coi là những “khai sơn nguyên lão” gắn bó với công ty từ ngày đầu, vậy mà nay cho dù họ có cố gắng tìm cách lấy lòng Tống Giang thế nào đi nữa, thì cũng do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà địa vị của họ ngày càng sa sút. Bị xếp ở vị trí cuối cùng, Kim Mao Khuyển Đoàn Cảnh Trụ ở phía sau cười nhạt: “Nhìn bộ dạng nhe nhởn của bọn họ kìa, nào có giống 108 vị La Hán? Rõ là giống 108 tên thổ phỉ.”
Cảm giác tội lỗi khó hiểu
Công ty Lương Sơn với 108 vị anh hùng uy chấn thiên hạ, nổi tiếng gần xa. Chủ tịch hội đồng quản trị Tống Giang cũng liên tiếp nhiều năm liền được nhận các danh hiệu cao quý như “Nhân vật kinh tế nổi bật trong năm của Đại Tống”, “Lãnh đạo giới thương gia xuất sắc của Đại Tống”, “Top 10 doanh nhân cao quý của Đại Tống”. Song không ai biết được rằng, trong lòng Tống Giang vẫn luôn đau đáu hai vấn đề: Thứ nhất là tội lỗi của doanh nghiệp và doanh nhân, thứ hai là nỗi niềm về thân phận con người.
Có người nói, tội lỗi của doanh nghiệp và doanh nhân có thể chia làm hai loại sau: Loại thứ nhất là tội hủ bại, tức là thông qua việc hối lộ quan phủ và giao dịch tiền - quyền để kiếm chác lời lớn; loại thứ hai là tội bạo lực, tức là bằng các hình thức phạm tội bạo lực, lũng đoạn cường quyền, tổ chức xã hội đen nhằm chiếm đoạt tài sản trong xã hội. Cũng có người phân tích rằng, có những loại tội lỗi có thể tha thứ được, ví dụ, vì kinh doanh khó khăn mà không thể nộp thuế đúng hạn, vì thiếu hụt vốn lưu động nên không thể trả lương kịp thời cho nhân viên…; có những loại tội không thể tha thứ được, như làm ô nhiễm môi trường, lừa đảo nhân công, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng… Còn trên thực tế, bất luận là tội có thể tha thứ được hay không, thì trong lòng Tống Giang trước sau vẫn là một sự ám ảnh đen tối.
Không chỉ mình Tống Giang có cảm giác tội lỗi này. Có nhiều doanh nhân thừa nhận mình đã từng quỵt nợ, buôn lậu. Có những doanh nhân khác thừa nhận mình lợi dụng hàng kém chất lượng để kiếm những đồng tiền trái với lương tâm. Cũng có những doanh nhân thẳng thắn nói rằng họ đối xử hà khắc với nhân công, khiến họ luôn mang trong lòng cảm giác tội lỗi nặng nề, như có lửa đốt. Cho dù cả xã hội vẫn tranh luận không ngớt về vấn đề tội lỗi này của doanh nhân, thì đối với chính bản thân họ, những việc làm trái lương tâm mà họ từng làm đã thực sự trở thành mầm bệnh trong lòng và làm họ nhức nhối.
Rất nhiều người cho rằng, tội lỗi của những doanh nhân thuộc vào vấn đề pháp luật. Văn hóa truyền thống Trung Hoa có câu cách ngôn “Làm chuyện mờ ám, thần thánh nhìn thấu”, “thần” ở đây thực chất là lương tri trong mỗi con người. Mà theo cách nói của nhà Phật, bất luận là thiện hay là ác, đều có quả báo như cái bóng theo sau mỗi người. Ngay cả trong thế giới xã hội đen ngày nay, cũng có một câu nói kinh điển vẫn thịnh hành: “Gây ra tội ác, sớm muộn cũng phải trả!”
Cho dù Tống Giang có mạnh vì gạo, bạo vì tiền đến thế nào, thì cũng thường bị cảm giác tội lỗi khó hiểu kia ám ảnh, tinh thần bất an. Anh thậm chí còn tin vào việc thiện ác quả báo, thường xuyên đi chùa thắp hương niệm Phật, cầu thần phù hộ. Một hôm khi ngồi nói chuyện với Trí Đa Tinh Ngô Dụng, Tống Giang nói: “Có lẽ cần phải đi một chuyến lên Đông Kinh, tìm Hoàng thượng để thưa chuyện thôi.”
Ngô Dụng hỏi: “Không biết anh định tìm gặp Hoàng thượng bằng con đường nào?”
Tống Giang đáp: “Tiểu Lý Quảng Hoa Vinh năm đó có quen biết Lục Ngu Hầu của Điện Soái phủ. Điện Soái phủ lại có Cao Thái Úy, là người thân cận được Hoàng thượng sủng ái, nếu có sự tiến cử của ông ấy, ắt sẽ có cơ hội yết kiến Long nhan.”
Ngô Dụng nghĩ một lát rồi nói: “Nếu em nhớ không nhầm, thì Cao Thái Úy đã từng bày kế hiểm, hãm hại Lâm Giáo Đầu ở Bạch Hổ Đường. Nghĩ đến năm đó Lâm Giáo Đầu đội trời mưa tuyết lên Lương Sơn, trên đường cô độc lẻ loi, nghĩ thật đáng thương! Nay anh lại kết giao với Cao Thái Úy, chẳng hóa ra chạm vào vết thương lòng của Lâm Giáo Đầu hay sao?”
Tống Giang cười đáp: “Vậy chẳng nhẽ lấy thù riêng của Lâm Giáo Đầu để làm hại đại nghiệp của công ty à?”
Trận tỷ thí giữa Cao Thái Úy và Tống Giang
Có lẽ độc giả đều muốn hỏi: Vị Cao Thái Úy quyền cao chức trọng kia, làm sao có thể coi trọng giám đốc của một công ty sơn trại được? Hóa ra, Điện Soái phủ từ trước tới nay vẫn luôn có nhu cầu thu mua quân trang, mà Tiểu Lý Quảng Hoa Vinh ngày còn lập nghiệp ở trên núi Thanh Phong cũng từng là một trong những nhà cung cấp của Điện Soái phủ. Sau này đầu quân cho công ty Lương Sơn, Hoa Vinh vẫn tiếp tục duy trì thị trường tiềm năng này. Tống Giang bèn dắt theo Hoa Vinh, Sài Tiến, Lý Quỳ lên đường đến Đông Kinh, do biết đường đi nước bước nên cũng không mấy khó khăn để tìm được Lục Ngu Hầu của Điện Soái phủ. Sợ Lý Quỳ gây chuyện, Tống Giang còn đặc biệt vời cả Lãng Tử Yến Thanh đi theo. Là người hiểu lẽ đời, Tống Giang bỏ ra khá nhiều vàng bạc châu báu hối lộ Lục Ngu Hầu và những kẻ thân cận khác, sau sáu bảy ngày nằm chờ trong quán trọ cuối cùng cũng được tiếp kiến Cao Thái Úy.
Cao Thái Úy gặp Tống Giang, thấy Tống Giang cười hiền, trong lòng khá là vừa ý, bèn thân mật hỏi: “Nghe nói ông chủ Tống Giang đây có cả một công ty lớn ở trên Lương Sơn, sao lại có nhã hứng xuống thăm thú Đông Kinh thế này?”
Tống Giang cười đáp: “Kẻ hèn mọn Tống Giang tôi từ bé đã là một fan của môn đá cầu. Nghe nói Cao Thái Úy đây là quán quân của môn ấy, cho nên trong lòng đã ngưỡng mộ từ lâu. Hôm nay đến bái kiến Cao Thái Úy chứ không có mục đích nào khác.”
Cao Thái Úy cười ha ha đáp: “Bản quan thời trẻ đúng là ham mê đá cầu lắm, chỉ tiếc rằng công việc Điện Soái phủ bận bịu, nhiều năm nay không động đến quả cầu rồi. Hôm nay nhân cuộc gặp gỡ hiếm có này, nếu anh có hứng, ta với anh thi đấu một trận, anh thấy sao?”
Tống Giang mừng thầm trong bụng. Trước đó, Tống Giang đã bỏ ra hơn nửa tháng khổ luyện đá cầu, nay vừa hay có đất dụng võ, thế là hai người hào hứng thử tài cao thấp trong sân Điện Soái phủ. Hai người vậy mà ngang sức ngang tài, bất phân thắng bại. Sau cùng Cao Thái Úy nhờ hơn một quả may mắn mà giành thắng lợi. Cao Thái Úy vui vẻ ra mặt, cao hứng lại mời Tống Giang uống trà. Tống Giang giả vờ nói chuyện phiếm hỏi: “Từ trước tới nay năm nào triều đình cũng lập đàn tế trời đất, sao mấy năm nay chẳng thấy động tĩnh gì vậy?”
Cao Thái Úy nói: “Hoàng thượng đang mê mải với thư họa cổ vật, nào còn tâm trạng mà để tâm đến chuyện đó? Ông chủ Tống Giang đã hỏi đến, chẳng hay có kiến nghị gì chăng?”
Tống Giang cười khì khì đáp: “Tôi còn đang đợi lệnh đại xá thiên hạ đây!”
Vốn theo thông lệ thời Đại Tống, hàng năm trong lễ tế trời đất của triều đình đều tổ chức nghi lễ đại xá thiên hạ. Theo Hán thi ngoại truyện , gà là con vật có năm đức tính: Trên đầu có mào, tượng trưng cho Văn; chân có vuốt, tượng trưng cho Võ; đứng trước kẻ địch dám chọi lại, tượng trưng cho Dũng; thấy thức ăn biết gọi bầy đàn, tượng trưng cho Nhân; canh đêm đúng giờ giấc, tượng trưng cho Tín. Còn theo Ngũ hành, trong năm hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, gà tương ứng với hành Kim, Kim là chủ hình sát, nên Kim Kê được tôn xưng là loài gia cầm có đạo đức và đã trở thành biểu tượng của Pháp luật. Lễ đại xá thiên hạ cũng vì thế mà trở thành đại lễ thể hiện sự ân đức và khoan hồng của Hoàng đế. Những phạm nhân mang tội luôn ngóng chờ đến giờ phút tiến hành đại lễ này, để mong được trả tự do.
Theo Đông Kinh mộng hoa lục ghi chép lại, lễ đại xá thiên hạ được diễn ra theo một trình tự nghiêm ngặt, từ “quất roi”, “tấu nhạc”, “kéo mành”, “gõ chuông”… theo thứ tự đến “cướp Kim Kê”. Lúc này, cùng với tiếng trống rền vang, bốn tráng sĩ đầu buộc lụa đỏ thi nhau trèo lên chiếc cột gỗ có tên gọi là “Cột Kim Kê”. Trên đỉnh cột gỗ đặt chiếc ván gỗ, trên ván có Kim Kê, mỏ ngậm bức phú màu đỏ trên viết bốn chữ “Hoàng đế vạn tuế”, người nào cướp được bức phú đầu tiên là người thắng cuộc. Khi dân chúng đồng thanh hô “Tạ ân”, từ trên lầu Tuyên Đức, Hoàng đế cho đọc Chiếu thư, đại xá thiên hạ. Sau đó đến màn trình tấu đại nhạc hội cung đình, múa hát tưng bừng, nghi lễ kéo dài cho đến chiều tối.
Cao Cầu nghe Tống Giang nhắc đến lễ đại xá, bèn hỏi: “Lẽ nào ông chủ Tống cũng từng có việc làm phạm vào kỉ cương phép nước sao?”
Tống Giang thở dài nói: “Từ trong lương tâm mỗi người mà nói, có ông chủ nào lại muốn vi phạm pháp luật, kinh doanh bất hợp pháp đâu? Không làm chuyện trái với lương tâm thì đêm ngủ mới yên giấc! Nhưng lập nghiệp gian nan, có những lúc vẫn phải làm những việc trái lương tâm mà bản thân không hề muốn, day dứt lắm!”
Cao Cầu cười, nói: “Tôi có thể hiểu được nỗi khổ của ông chủ Tống. Nhưng, việc này vượt quá khả năng của tôi. Tôi với anh hôm nay mới biết mặt mà như gặp lại cố nhân, nên tôi cũng muốn bày cho anh một cách.”
Tống Giang liền ghé tai lại gần, Cao Cầu hạ thấp giọng thì thầm: “Việc này anh có thể đi nhờ cậy Lý Sư Sư, để cô ấy giúp anh đánh tiếng bên tai Hoàng thượng. Phải lúc Người vui vẻ thì việc ban cho anh một bức chiếu đại xá có khó khăn gì?”
Lời nói của Cao Cầu không khỏi làm Tống Giang sửng sốt. Mặc dù chuyện tình giữa Hoàng thượng và Lý Sư Sư lâu nay đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, song lần đầu tiên Tống Giang chính tai được nghe một vị quan lớn trong triều chứng thực. Hóa ra Hoàng đế cũng không phải bậc thánh nhân như trong thần thoại, mà cũng là một người đàn ông với đủ những cung bậc cảm xúc đời thường. Chỉ khác duy nhất ở chỗ, cánh đàn ông thích cặp với gái đẹp, còn người mà Hoàng đế cặp là cô gái đẹp nhất thiên hạ.
Người tôi cần tìm không phải là ca kỹ Lý Sư Sư, mà là nữ doanh nhân Lý Sư Sư
Theo lời Cao Thái Úy chỉ dẫn, Tống Giang đến tìm Lý Sư Sư. Vì sợ Lý Quỳ tướng mạo hung tợn, làm kinh động đến người đẹp, nên Tống Giang bèn bảo Hoa Vinh, Sài Tiến cùng với Lý Quỳ ba người ra phố dạo chơi. Lãng Tử Yến Thanh dung mạo khôi ngô tuấn tú, được đi theo hộ tống cho Tống Giang.
Ngày hôm đó, trăng sáng mọc lên từ đằng đông. Tống Giang đem theo Yến Thanh, với tâm trạng thấp thỏm, bước chân hai người thoăn thoắt băng qua Ngự Nhai (52) dưới ánh trăng mờ ảo. Tống Giang dụi mắt, chỉ thấy hai bên đường toàn lầu xanh. Tống Giang đếm qua từng nhà một, cuối cùng cũng tìm ra Tân Tranh Viện mà người ta vẫn đồn đại.
Trong truyền thuyết, tên Tân Tranh Viện có xuất xứ từ tác phẩm nổi tiếng Thiếu niên du của nhà thơ Từ đời đầu Chu Bang Ngạn (53) . Bài Từ miêu tả, khuê nữ đã ngắt một quả cam ngọt, bóc đưa cho người thổi khèn, vừa khẽ hỏi: “Hôm nay chàng ngủ ở đâu? Bây giờ đã qua canh ba rồi, đường mịt mù sương, vó ngựa còn sợ trơn, chẳng bằng đêm nay đừng về nữa. Trời lạnh giá thế này, thiếp làm sao nỡ để chàng một mình cô đơn lẻ bóng trên đường về?” Lời thơ ấm áp, mê đắm, thậm chí mang màu sắc “tiểu tư sản”, có phần sách vở, duy mỹ.
Nhìn từ ngoài vào, Tân Tranh Viện được trang trí theo phong cách cổ điển. Bên ngoài phủ màn gấm xanh, bên trong treo mành trúc hoa, hai bên cửa sổ màu ngọc bích. Hai tấm áp phích quảng cáo to đùng treo hai bên cánh cửa, một tấm viết “Ca vũ thần tiên nữ”, tấm còn lại viết “Phong lưu hoa nguyệt khôi”. Tống Giang nghĩ bụng: “Đúng là ba trăm sáu mươi nghề, nghề nào cũng có chuyên gia. Tuy chưa gặp mặt cô Lý Sư Sư này, nhưng ngay đến kỹ viện của cô nàng cũng được trang hoàng một cách có học thức thế này, đáng được tôn xưng là chuyên gia trong nghề kỹ nữ. Vừa có gu thẩm mỹ, lại biết cách kinh doanh, chả trách từ Hoàng thượng cho đến các vị văn nhân, học sỹ đều lần lượt bị cô ấy làm cho mê mẩn.”
Yến Thanh vén màn gấm, gạt mành trúc, dẫn Tống Giang vào trong. Giữa nhà treo một chiếc đèn lồng trổ hình uyên ương, bên dưới là hương án bọc da tê giác, trên đặt chiếc lư hương Bác Sơn bằng đồng cổ, khói thơm tỏa hay nhè nhẹ. Bốn bức tranh sơn thủy của danh nhân được treo hai bên tường nhà, bên dưới đặt bốn chiếc ghế tựa phủ da tê giác. Qua giếng trời đi vào bên trong là một phòng khách lớn, đặt ba chiếc sập gụ điêu khắc tinh xảo bằng gỗ lim, trên trải nệm gấm màu tím hình nước chảy hoa trôi, giữa phòng treo một chiếc đèn chùm mặt ngọc, khắp phòng được trang trí bằng đồ cổ với các hình thù lạ mắt. Yến Thanh khẽ ho một tiếng, từ sau tấm bình phong, một nha hoàn bước ra, cúi chào lễ phép. Tống Giang bước lại, nói: “Chúng tôi từ Sơn Đông đến đây, mong được cầu kiến bà chủ Lý.”
Nha hoàn ngơ ngác hỏi: “Dạ thưa ông muốn tìm bà chủ Lý nào ạ?”
Tống Giang nói: “Chính là bà chủ Lý mà người ta vẫn gọi bằng tên Lý Sư Sư đó.”
Nha hoàn tủm tỉm lấy tay che miệng cười, đoạn quay lưng đi vào trong báo cáo. Một lúc sau, dẫn ra một vị cô nương vô cùng xinh đẹp và giới thiệu: “Đây chính là bà chủ Lý mà các ông vừa nhắc đến.” Tống Giang thấy trước mắt mình là một người con gái dung mạo quý phái, phong thái đoan trang, một vẻ đẹp chói sáng như tiên nữ giáng trần, làm Tống Giang hoa cả mắt. Lý Sư Sư xưa nay tiếp xúc đàn ông không ít, thấy bộ dạng ngơ ngẩn kia của Tống Giang, nàng chỉ ý nhị đáp lại bằng nụ cười dễ thương.
Lúc đó Tống Giang đem đến một trăm lạng vàng, làm quà gặp mặt. Lý Sư Sư cảm tạ, bảo nha hoàn nhận lấy rồi dẫn hai người lên lầu. Lý Sư Sư cho bày một bàn tiệc thịnh soạn, lại khéo lời ăn nói, lúc thì chuốc rượu, lúc lại ngẫu hứng ca một vài câu. Cả không gian tràn ngập hương sắc mùa xuân, say đắm lòng người.
Sau vài tuần rượu, Tống Giang bắt đầu phê phê, hết xắn ống tay áo rồi lại khua chân múa tay, lộ nguyên hình là một ông chủ doanh nghiệp sơn trại. Nhớ ngày trước Tống Giang cũng đã từng va chạm với phụ nữ, ngay cả đến Diêm Bà Tích trẻ trung xinh đẹp cũng chưa làm khó được Tống Giang, vậy mà nay Lý Sư Sư chỉ mới có chút ân cần khoản đãi, đã làm cho Tống Giang điên điên khùng khùng thế này.
“Không phải loài hoa nào cũng được tượng trưng cho tình yêu, nhưng hoa hồng đã làm được. Không phải loài cây nào cũng thu hút được phượng hoàng, nhưng cây ngô đồng đã thu hút được. Không phải người đàn ông nào cũng gặp được nương tử, nhưng ta đây đã gặp được.” Tống Giang lúc này đã say đến độ nói không nên lời, lại còn cất cao giọng ngâm đôi câu thơ nổi tiếng của Thi tiên Lý Bạch “ Nhân sinh đắc ý tu tận hoan/ Mạc sử kim tôn không đối nguyệt (54) . Nương tử như vầng trăng sáng, chiếu rọi xuống đời tôi.”
Yến Thanh chỉ còn cách cười trừ tỏ ý cáo lỗi với Lý Sư Sư: “Ông chủ nhà chúng tôi rượu vào có phần thất lễ, mong nương tử bỏ quá cho.”
Lý Sư Sư đang định đáp lời, thì Tống Giang đột nhiên quay đầu nhằm thẳng Yến Thanh mà quở trách: “Không được gọi là nương tử, phải gọi là bà chủ Lý! Nương tử là để cho cậu gọi được à?” Hóa ra, trong phút chốc tỉnh táo trở lại và nhớ đến sứ mệnh của chuyến đi lần này, Tống Giang nhanh chóng lấy lại thần thái, đoạn quay sang bộc bạch với Lý Sư Sư: “Tống Giang tôi tuy là một ông chủ doanh nghiệp chân đất, nhưng cũng có đức tin và hoài bão của mình. Chuyến này đến Tân Tranh Viện bái kiến bà chủ Lý, hoàn toàn không phải vì chuyện ham hố sắc đẹp, mà là vì một việc lớn của giới doanh nhân hiện nay.”
Số mệnh của doanh nhân cũng khổ như đời kỹ nữ
Tống Giang tuy say mèm nhưng đầu óc vẫn còn đủ tỉnh táo, tâm sự với Lý Sư Sư bằng vẻ mặt hết sức chân thành: “Tống Giang hèn mọn này từ Sơn Đông đặc biệt tới đây, cũng chỉ vì có một số điều thắc mắc muốn thỉnh giáo bà chủ Lý. Tống Giang đã coi bà chủ Lý như người bạn tri kỷ tâm giao, cũng mong được bà chủ Lý chân thành giúp đỡ.”
Lý Sư Sư bị lời lẽ của Tống Giang làm cho ngơ ngẩn, chỉ còn biết nói: “Ông chủ Tống xin cứ tự nhiên.”
Tống Giang liền hỏi: “Nếu như tôi nhớ không nhầm, thì bà chủ Lý đã từng gây dựng một doanh nghiệp, có tên là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Mỹ phẩm Lý Sư Sư, có phải vậy không?”
Lý Sư Sư gật đầu.
Tống Giang lại nói: “Vậy thì đúng rồi. Người tôi cần tìm không phải ca kỹ Lý Sư Sư mà là nữ doanh nhân Lý Sư Sư. Bà chủ Lý không biết đấy thôi, Tống Giang đang muốn thành lập hiệp hội các nhà doanh nghiệp của Đại Tống và định mời bà chủ Lý làm chủ tịch. Không biết ý bà chủ Lý thế nào?”
Lý Sư Sư giật nảy mình, đáp: “Tôi chẳng qua chỉ là một cô kỹ nữ bạc phận, làm sao đủ tư cách lên làm chủ tịch? Hơn nữa, công ty mỹ phẩm ngày trước tôi sáng lập do kinh doanh không hiệu quả nên đã đóng cửa từ lâu rồi.”
Tống Giang thở dài: “Số mệnh của doanh nhân ấy mà, cũng khổ như đời kỹ nữ. Thứ nhất, đều phải có đầu óc kinh doanh. Thứ hai, đều cần phải lấy lòng khách hàng. Thứ ba, đều cần phải đánh bóng bản thân. Thứ tư, cuộc sống sinh hoạt đều không tuân theo quy luật nào cả, hoạt động về đêm là chính, thậm chí còn thường xuyên phải làm việc thâu đêm. Thứ năm, phải đáp ứng được nhu cầu thị trường. Thứ sáu, khi thị trường cạnh tranh ác liệt hoặc không còn thị trường thì cần phải chuyển đổi hình thức kinh doanh, để tìm ra thị trường mới. Thứ bảy, kỹ nữ kiếm tiền phải dựa vào ‘tam vi’ (ba khâu phục vụ), còn doanh nhân kiếm tiền dựa vào ‘tứ vi’ (55) (tư duy). Thứ tám, đều thích tụ tập đông vui, hội kỹ nữ tập trung ở Khu đèn đỏ, còn hội doanh nhân tập trung ở Câu lạc bộ. Thứ chín, đều phải luôn giả bộ tươi cười, ứng xử khôn khéo, gió chiều nào xuôi chiều ấy, để duy trì hoạt động thu về lợi nhuận, và phải tìm mọi cách tránh những rủi ro khôn lường. Thứ mười, doanh nhân và kỹ nữ đều thường phải hợp tác với giới thương mại dịch vụ, các hộp đêm nhờ đó mà trở thành nguồn kinh tế béo bở cho địa phương. Thứ mười một, kỹ nữ thành công và doanh nhân thành đạt đều trở thành tâm điểm chú ý của dư luận. Thứ mười hai, thứ chúng ta được hưởng thực chất chỉ là hư vinh, trên thực tế xã hội chẳng qua hâm mộ túi tiền của chúng ta, nhưng sau lưng lại chửi kỹ nữ là ‘đê tiện’, chửi doanh nhân là ‘gian thương’. Vì thế nên, khi bà chủ Lý nói đến số khổ này, chẳng bằng bảo số mệnh của chúng ta đều đáng thương như nhau.”
Nghe Tống Giang nói vậy, Lý Sư Sư bỗng có chút thiện cảm, máu hiệp nữ trong người nổi lên, chuyển sang gọi anh Tống Giang, một lúc kính liền ba chén rượu, cảm động đến độ mắt ướt nhòe.
Tống Giang nói: “Doanh nhân và kỹ nữ còn giống nhau ở một điểm, là đều từng quyên tiền làm từ thiện. Chắc Sư Sư cũng biết, dưới chân núi phía tây nam Phủ Yến Sơn (nay là thành phố Bắc Kinh) có một cây cầu tên là ‘Cầu Kỹ Nữ’, vốn năm xưa được các cô kỹ nữ ở địa phương quyên tiền xây dựng, trăm năm nay vẫn phục vụ cho toàn dân. Lịch sử Trung Quốc thực ra không thiếu những câu chuyện kỹ nữ xây cầu sửa đường làm từ thiện như thế này. Số mệnh của doanh nhân, có lẽ may mắn hơn kỹ nữ ở chỗ, sau khi góp công góp sức cho sự nghiệp từ thiện còn được danh được tiếng, không như kỹ nữ chẳng được người đời ghi công.”
Lý Sư Sư yên lặng lắng nghe, khuôn mặt thanh tú ướt đầm như cánh hoa nhài dưới mưa.
Tống Giang lại nói: “Học giả thời xưa đã từng nói, ‘Nho sinh giả chẳng bằng kỹ nữ thật’. Nay Tống Giang muốn nói, số mệnh của kỹ nữ cũng như số mệnh của doanh nhân, tinh thần của kỹ nữ cũng chính là tinh thần của doanh nhân. Đừng nói là Sư Sư trước đây từng sáng lập công ty mỹ phẩm, chỉ cần nhắc đến Tân Tranh Viện mà Sư Sư đang kinh doanh này thôi, trong mắt tôi đó chính là một doanh nghiệp tốt. Đại Tống nếu có thành lập hiệp hội doanh nhân, tôi chắc chắn phải hết lòng tiến cử Sư Sư làm chủ tịch. Mà tôi cũng tin chắc rằng, có một nữ chủ tịch xinh đẹp như Sư Sư sẽ càng làm cho hiệp hội doanh nhân của Đại Tống thêm phần sáng sủa.”
Lý Sư Sư lau khô nước mắt, ngẩng đầu lên nhìn Tống Giang nói không chút do dự: “Anh nói đi, anh cần Sư Sư tôi làm việc gì?”
Tống Giang đập bàn nói: “Tống Giang chỉ chờ có câu nói này của Sư Sư thôi. Nếu Sư Sư lên làm chủ tịch của hiệp hội, hy vọng Sư Sư có thể thông qua ảnh hưởng của mình khiến cho người đời nhìn nhận lại công trạng cũng như tội lỗi của doanh nhân chúng tôi. Chúng tôi lập nghiệp muôn vàn gian khó, luận về công thì có thể nói là công lao to lớn, mà luận đến tội thì về tình về lý có thể thứ tha. Trong đó có liên quan đến những vấn đề nóng về tội lỗi của doanh nghiệp vẫn tranh luận lâu nay, nếu như có thể nhận được sự cảm thông và đặc xá của Đương kim Hoàng thượng thì không còn gì quý hơn nữa.”
Nói đến đoạn hùng hồn dõng dạc này, Tống Giang liền bảo Lý Sư Sư mang lại giấy và bút, đoạn múa bút viết ra một bài từ Nhạc Phủ (56) , viết rằng:
“Trời Nam đất Bắc, hỏi nơi đâu là chốn dung thân cho kẻ sỹ này?
Gửi thân ở chốn rừng sâu nước thẳm, nay tới kinh thành mua gió xuân
Người con gái kiều diễm thướt tha, nụ cười đáng ngàn vàng
Thần thái tiên nữ, kẻ này phúc mỏng chẳng được sánh vai
Bờ lau bãi sậy, liễu đỏ ven hồ, trăng một vầng sáng vặc
Nhạn bay thành đàn, chỉ đợi tin tức Kim Kê báo về
Lòng nghĩa bao trời, dạ trung kín đất, bốn bể không người tri âm
Trăm cách giải sầu, mượn rượu một tối, bạc trắng đầu.”
Lý Sư Sư giơ tay đón lấy tờ hoa tiên, cẩn thận đọc từng câu. Đúng lúc đang định hỏi Tống Giang về câu chuyện “Bờ lau bãi sậy, liễu đỏ ven hồ” thì nha hoàn chạy vào bẩm báo: “Hoàng thượng đã đến cổng sau rồi!” Mọi người được phen hoảng hốt. Lý Sư Sư bèn nhét vội tờ hoa tiên vào bên trong quyển sách có tựa đề Tiến trà thủy kí , rồi nói vội: “Sư Sư không kịp tiễn biệt, mong Tống đại ca tùy cơ ứng biến.”
Tống Giang chắp tay vái chào và nói: “Việc vừa nãy nhờ cậy, mong Sư Sư ghi tạc trong lòng!”
Lối thoát cho số mệnh
Lý Sư Sư gật đầu đồng ý, rồi vội chạy ra cổng sau nghênh giá. Tống Giang và Yến Thanh chỉ kịp trốn vào một góc tối, mọi động tĩnh giữa Hoàng thượng và Lý Sư Sư đều biết hết.
Hoàng thượng hỏi: “Quả nhân nhiều ngày không lui tới, nàng dạo này đang bận việc gì vậy?”
Lý Sư Sư đáp: “Thiếp đang nghiên cứu đặc điểm tính cách của doanh nhân ạ.”
Hoàng thượng thuận mồm hỏi: “Doanh nhân nào? Chẳng qua là bọn gian thương dùng tiền trục lợi chứ gì?”
Lý Sư Sư đáp: “Hoàng thượng nói vậy e là có phần định kiến rồi. Theo như thần thiếp thấy, những vị doanh nhân này có trí tuệ chẳng thua kém gì tể tướng đương triều đâu ạ.”
Hoàng thượng cười ha hả nói: “Chà! Vậy nàng thử nói xem, họ có những trí tuệ nào?”
Lý Sư Sư lại đáp: “Trí tuệ của doanh nhân, thực ra là sức mạnh trí tuệ của nền kinh tế thị trường. Dù ở vào giai đoạn lịch sử khó khăn nào đi chăng nữa thì sức mạnh này vẫn tồn tại một cách ngoan cường như cỏ dại vẫn nảy mầm, sinh trưởng và phát triển khắp mọi nơi vậy. Mỗi khi quốc kế dân sinh gặp khó khăn, họ đều có cách tạo ra thị trường mới bằng tài trí thông minh của mình. Trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường, họ không chỉ thay đổi vận mệnh của bản thân họ, mà ở khía cạnh khách quan họ còn giúp cải thiện đời sống cho rất nhiều người, thậm chí là thúc đẩy bước tiến vượt bậc của khoa học kỹ thuật nữa.”
Hoàng thượng không khỏi kinh ngạc: “Nàng có tầm hiểu biết thật là sâu rộng, vậy những việc làm phi pháp của họ thì nên xử lý sao đây?”
Lý Sư Sư đáp: “Họ biết làm cho ‘xuân phong hóa vũ, hòa khí sinh tài’, nhưng trong lúc khó khăn cũng khó lòng tránh khỏi có việc làm khuất tất. Nhưng có thể khẳng định, tất cả đều xuất phát từ ngọn nguồn của trí tuệ, dù trong hoàn cảnh khó khăn đến thế nào thì sức mạnh trí tuệ cũng phải giải quyết vấn đề sống còn là tìm ra lối thoát. Hoàng thượng, Người vốn là minh quân cai quản cả thiên hạ, vậy Người có cảm thấy mình nên bớt đi phần định kiến với họ để cảm thông cũng như đánh giá họ một cách công bằng hơn không?”
Đột nhiên vang lên một tiếng “khậc”. Lý Sư Sư kêu lên: “Hoàng thượng cẩn thận trẹo chân!” Tiếp sau là tiếng hai người bước lên cầu thang. Lại nghe thấy Hoàng thượng nói: “Thật không ngờ nàng lại có tầm hiểu biết đến vậy. Phải sống đời ca kỹ tủi thân cho nàng rồi.” Lý Sư Sư dịu dàng đáp lại: “Đây là số mệnh, thiếp còn có thể làm gì được nữa?” Rồi lại nghe tiếng mở cửa, đóng cửa. Sau một tràng “sột sột soạt soạt”, chỉ còn thấy lầu gác rung rinh đều đều.
Tống Giang thở dài: “Xưa nay người con gái giỏi giang thường có khí chất từ nhỏ, người con gái nghĩa hiệp thường xuất thân từ chốn phong trần. Cô nàng Lý Sư Sư này tuy sống kiếp phong trần, nhưng lại có khí khái của một tuyệt thế giai nhân và hiệp nữ. Hôm nay tạm thời phải cáo biệt, một ngày nào đó nhất định sẽ trở lại hội ngộ.” Dưới bóng tối mịt mờ Tống Giang nắm lấy tay Yến Thanh, trong không gian ngập tràn mùi hương trầm thoang thoảng, hai người rón rén bước ra khỏi Tân Tranh Viện.
Tại quán trọ, Hoa Vinh, Sài Tiến và Lý Quỳ vẫn thức chong chong, sốt ruột chờ đợi. Vừa thấy Tống Giang, Lý Quỳ lắc lư bộ râu xồm xoàm sấn sổ lao đến kêu ca: “Anh, anh dỗ cho ba bọn em ra phố lang thang, còn anh lại một mình tìm đến chốn thần tiên phong lưu hưởng lạc với người đẹp, thật chẳng đáng mặt anh em gì cả!”
Chương này lấy cốt truyện từ Hồi thứ 71 “Lương Sơn Bạc anh hùng xếp cấp bậc” và Hồi thứ 72 “Lý Quỳ đêm hội náo Đông Kinh” trong truyện Thủy Hử .
Việc xếp thứ tự các anh hùng Lương Sơn, theo truyện Thủy Hử là dựa trên bản vẽ thiên văn khắc trên bia đá, Kinh Thánh Thán lại nghi ngờ cho đây là do Tống Giang ngụy tạo. Còn nay bàn về vấn đề này thông qua việc chia cổ phần trong công ty Lương Sơn, các tiêu chuẩn để bình xét mà tôi đặt ra là dựa trên năng lực, sự cống hiến, mức độ trung thành…, theo đó mà số cổ phần được hưởng không giống nhau. Đây là cách sắp xếp công bằng nhất mà tôi có thể nghĩ ra - mặc dù vậy, trong đó vẫn có những lỗ hổng có sự can thiệp của bàn tay con người - đây là vấn đề “chế độ đã bị lưu manh hóa”, tôi cũng chẳng có cách nào. Với tư cách là một học giả, tôi nguyện làm việc thiện, và cũng muốn khuyên răn mọi người làm việc thiện, nhưng nhiều lúc, chính tôi cũng phải đối mặt với thực tế “chế độ bị lưu manh hóa” này.
Tiếp theo nói đến nỗi niềm về thân phận con người. Trên thực tế, bất luận là tội lỗi của doanh nghiệp, hay chế độ bị lưu manh hóa, cùng với tất cả những yếu tố khác như hư vinh, lo sợ, bất chấp thủ đoạn, đều có mối liên hệ với nỗi lo lắng này. Từ góc độ triết học, mệnh đề “chúng ta là ai” là khởi nguồn của mọi vấn đề, từ đó sinh ra sự hỗn loạn và bận rộn. Bất luận chúng ta làm việc gì, chúng ta làm đúng những gì và làm sai những gì, thì mỗi người đều đang tìm kiếm cho mình cái Tôi trong sự bận rộn đó.
Trong lòng tôi vì thế mà thấy xót xa.