Thủy hử @

Lượt đọc: 199 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
tri thức về quản lý nhân tâm

Điều Trương Thanh gặp phải thật ra là vấn đề khó khăn nhất trong quản lý học. Bạn có thể dùng rất nhiều phương pháp quản lý, nhưng làm thế nào để quản lý nhân tâm?

Bạn có thể dùng rất nhiều phương pháp quản lý, nhưng làm thế nào để quản lý nhân tâm?

Vấn đề quản lý của bát mì bò

Lại nói đến Võ Tòng, được lệnh của tri huyện đại nhân đi áp tải một chuyến hàng đến Đông Kinh. Sở dĩ Võ Tòng phải đích thân đi là vì chuyến hàng này rất quan trọng, đều là lễ vật dùng để kết giao những vị quan cao quý trong triều. Thì ra triều Tống có tiền lệ dùng tiền mua quan mua chức, thậm chí có cả “văn phòng đại diện tại kinh thành”. Tri huyện đại nhân đã dặn dò Võ Tòng giao những thùng lễ vật này cho người thân ở kinh thành, người này tương đương với “trưởng văn phòng đại diện”.

Làm thế nào để kết giao với quan chức trong triều, đó là việc của “trưởng văn phòng đại diện”. Giao hàng xong là Võ Tòng hoàn thành nhiệm vụ. Anh đi trên đường, bụng bắt đầu sôi ùng ục, nhìn từ xa thấy một tấm biển của tiệm mì, trên đó là mấy chữ nạm vàng “Mì nước Mạnh Châu”. Bước vào trong, bức tường trước mặt treo một tác phẩm của một nhà thư pháp nổi tiếng thời đó, viết hai chữ rắn rỏi “Quá ngon”. Thế nhưng nhìn quanh thì không thấy một vị khách nào. Võ Tòng cũng không để ý nhiều, ngồi xuống gọi: “Ông chủ, cho một bát mì bò, nhiều nước một chút, nóng vào nhé!”

Một bát mì to đùng nhưng Võ Tòng ăn như rồng cuốn, loáng một cái đã sạch bách. Quay lại gọi người vừa bưng mì lên, hỏi: “Anh là ông chủ à?” Người đó gật đầu bảo đúng. Võ Tòng lại hỏi: “Mì này rất ngon, giờ lại đúng là giờ ăn trưa, sao cửa hàng lại không có khách vậy?” Một câu hỏi đã gợi lại biết bao chuyện đau lòng cho người đàn ông kia.

Thì ra người nọ tên Trương Thanh, dân Mạnh Châu, Sơn Đông. Vài năm nay đến Đông Kinh mưu sinh, hồi đầu là trồng rau ngoài ngoại thành, mọi người gọi là “anh chàng trồng rau”. Sau đó tiết kiệm được chút tiền, mở quán “mì nước Mạnh Châu”. Hồi mới đầu làm ăn rất phát đạt, nhưng không ngờ một thời gian sau lại thành sắp phải đóng cửa thế này.

Võ Tòng hỏi tiếp: “Tại sao lại vậy?”

Trương Thanh cười buồn: “Anh thấy đấy, quán của tôi vị trí đẹp, bài trí đẹp, mì cũng rất ngon, chẳng có lý do gì lại không làm ăn được. Thế nhưng, tuy làm ăn dễ nhưng lại khó đề phòng lòng người. Cơ nghiệp này lại mất trong tay người của mình.”

Người của mình mà Trương Thanh nói là tay đầu bếp kéo mì. Anh ta có tay nghề tốt nên đòi đãi ngộ cao, Trương Thanh giao ước sẽ ăn chia theo lượng tiêu thụ, mỗi bát mì sẽ cho nửa đồng tiền hoa hồng. Như vậy lương của anh ta sẽ liên quan đến thành tích bán hàng, càng nhiều khách thì thu nhập càng cao. Kiểu tính lương thế này quả nhiên rất có hiệu quả, đầu bếp nhiệt tình làm việc, khách hàng cũng tấp nập lui tới. Nhưng điều tra kỹ thì phát hiện thịt bò mỗi bát đều vượt qua mức hạn định, mà anh đầu bếp đã dùng cách đó để thu hút khách hàng cho lương mình cao hơn. Trương Thanh kể: “Một bát mì chỉ năm đồng, lợi nhuận vô cùng ít. Mỗi bát cho thêm vài miếng thịt là vốn đã vượt quá lợi nhuận, bán càng nhiều thì tổn thất càng lớn. Thế nhưng ngược lại thu nhập của đầu bếp lại rất cao.”

Chẳng còn cách nào khác, Trương Thanh thay đổi chế độ, trả lương cố định cho đầu bếp. Trương Thanh tưởng lương cao sẽ khiến người ta liêm khiết, khách nhiều hay ít cũng không ảnh hưởng gì đến thu nhập của đầu bếp, có thể khống chế lượng vốn. Ai ngờ tay đầu bếp lại giở tiểu xảo khác, anh ta không cho nhiều thịt bò như trước nữa mà cố ý bớt đi. Lượng thịt ít thì khách hàng không hài lòng, việc làm ăn càng ngày càng kém. Còn tay đầu bếp thì sao? Đương nhiên là vui vẻ, tiền lương vẫn nhận đều không thiếu cắc nào. Đến khi không thể duy trì được nữa, ông chủ đành tuyên bố phá sản, thế là đầu bếp có thể nhảy việc rồi.

“Lẽ nào không có cách nào khác sao?” Võ Tòng lo lắng hỏi.

“Còn có cách gì được nữa đây?” Trương Thanh cười buồn.

Võ Tòng sau khi ngẫm nghĩ một hồi, đưa ra một vài ý kiến. Thứ nhất, có thể kết hợp hai cách trên lại, vừa có lương cứng, vừa có tiền thưởng, có nghĩa là: tiền thưởng sẽ được tính theo lợi nhuận của mỗi bát mì. Thứ hai, tài nguyên quan trọng phải nằm trong tay người quan trọng. Với một bát mì bò mà nói thì thịt bò chính là tài nguyên quan trọng, có thể để đầu bếp phụ trách kéo mì, còn bà chủ phụ trách chia thịt bò. Thứ ba, chú ý bồi dưỡng tình cảm giữa ông chủ và nhân viên, làm bạn với người đầu bếp, xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau.

Trương Thanh đau khổ đáp: “Điều thứ ba anh nói chính là mấu chốt vấn đề. Nếu thật sự có được sự tin tưởng thì đã không có nhiều phiền phức như vậy. Còn về bà chủ, hiện tại tôi chưa có vợ. Cho dù có đi nữa thì phải bỏ nhiều vốn hơn. Vả lại, có thể cô ấy lại câu kết gian tình với tay đầu bếp, khiến mọi tâm huyết của tôi biến thành bọt xà phòng hết. Nói chung những lời anh nói nghe thì có vẻ có lý nhưng chưa chắc đã mang lại hiệu quả.”

Võ Tòng sững sờ. Thật ra vấn đề Trương Thanh gặp phải chính là vấn đề khó khăn nhất trong quản lý học. Bạn có thể dùng rất nhiều phương pháp quản lý, nhưng làm sao có thể quản lý nhân tâm đây? Có người nói: “Trên có chính sách, dưới có đối sách.” Dù là phương pháp quản lý tiên tiến nhất thế giới cũng chỉ có thể gây nên một trò chơi vây bắt mới mà thôi. Võ Tòng nhớ đến cửa hàng bánh của Đại Lang, anh bắt đầu hiểu được nỗi khổ của anh trai. Rồi lại nhớ đến Tây Môn đại quan nhân, anh ta có thể kinh doanh lớn như vậy thật sự không dễ dàng gì.

“Anh định đóng cửa hàng, vậy tiếp theo anh định làm gì?”

“Tôi cũng không biết phải làm gì nữa.” Trương Thanh thở dài: “Đông Kinh là một nơi khiến người ta lưu luyến, không chỉ vì sự phồn hoa đô hội mà còn vì sự phong lưu ở đây. Tôi định ở lại một thời gian rồi nghĩ xem nên làm gì tiếp.”

Võ Tòng trầm ngâm hỏi: “Anh đã thích sự phong lưu sao đến nay vẫn không thành thân? Nếu lấy được một người phụ nữ tốt, không phải là hoàn thành được tâm nguyện thành gia lập nghiệp của nam nhi sao?”

Trương Thanh đáp: “Anh không biết đấy thôi. Người ta vẫn nói đàn ông phải có tiền, phụ nữ phải lẳng lơ. Với đàn ông, phụ nữ đẹp là ở chữ lẳng lơ này. Nếu lấy một người phụ nữ tốt, vẻ mặt lúc nào cũng nghiêm nghị thì còn gì là thú vui nam nữ nữa? Nếu lấy một người phụ nữ lẳng lơ, vui thì có vui, nhưng lại sợ cô ta làm bậy với người khác. Chi bằng đem tiền đi chơi bời, vừa vui lại bớt được rất nhiều rắc rối. Nghe nói kỹ nữ Lý Sư Sư nổi tiếng một thời là vô cùng lẳng lơ, ngay Hoàng đế đương triều cũng bị cô ta hút mất hồn.”

Võ Tòng lại nhớ đến người chị dâu lẳng lơ, trong lòng lại trào dâng rất nhiều cảm xúc.

Có thể động lòng, nhưng đừng động tình

Khi “anh chàng trồng rau” Trương Thanh đang bàn luận về vấn đề tình cảm giữa ông chủ và nhân viên thì Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên đã có tình cảm với nhau. Có người nói, tình cảm giữa nam và nữ nảy sinh khi ngủ cùng nhau, ngủ mãi rồi hai bên vui sướng trong tình cảm đó, không nỡ buông tay.

Hai người họ đã đến mức bàn bạc làm sao để thành vợ chồng lâu dài. Phan Kim Liên thì chẳng có lo lắng gì, có thể dứt khoát ly hôn với Võ Đại Lang, đến với Tây Môn Khánh mãi mãi. Nhưng Tây Môn Khánh lại phải lo rất nhiều điều, đành phải hành động từng bước. Cuối cùng họ nhất trí kế hoạch hành động như sau: Bước đầu tiên, Phan Kim Liên ly hôn với Võ Đại Lang, rồi làm “vợ bé” của Tây Môn Khánh; bước thứ hai, Phan Kim Liên và Tây Môn Khánh ký kết hợp đồng nuôi dưỡng, thiết lập mối quan hệ giữa hai người qua hình thức giao ước. Cái gọi là “vợ bé” đời nhà Tống đã trở thành hiện tượng xã hội phổ biến rồi.

Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên lần lượt là bên A và B của hợp đồng. Hợp đồng quy định, bên A cung cấp chỗ ở cho bên B, có đủ đồ dùng gia đình và một số ngân lượng làm sinh hoạt phí mỗi tháng. Bên B hứa chuyên tâm phục vụ bên A, không được yêu người đàn ông nào khác, càng không được lên giường với bất cứ người nào ngoài bên A. Nếu bên B có thai, bên A phải tận tâm chăm sóc, chịu trách nhiệm mọi phí tổn trong quá trình trước, trong và sau khi sinh. Con cái bên B sinh phải được hưởng quyền lợi như con của vợ chính thức. Hợp đồng này có hiệu lực suốt đời, thề non hẹn biển không bao giờ thay lòng đổi dạ. Hai bên ký tên đóng dấu.

Tay nghề thủ công của Phan Kim Liên rất giỏi, cũng là một nguồn tài nguyên có thể khai thác. Tây Môn Khánh nói: “Em có thể làm bà chủ rồi thuê nhân công, chỉ cần việc sản xuất đi vào ổn định là có thể giảm bớt tiền vốn, có ưu thế giá cả cạnh tranh.” Thế là hai bên bổ sung một điều trong hợp đồng: Bên A bỏ một lượng vốn giúp bên B khởi nghiệp, xây dựng xưởng may, lợi nhuận có được sẽ chia thế nào,...

Hai người cứ thế ôm đầy mộng tưởng lập ra kế hoạch, định dùng phương thức hoạt động thương nghiệp hóa này để giải quyết vấn đề hôn nhân khó khăn đang bày ra trước mắt. Bỗng một hôm, Võ Đại Lang ốm một trận thừa sống thiếu chết. Khi mới bị bệnh chỉ cảm thấy đau bụng, váng đầu, hoa mắt, một ngày không biết Tào Tháo đuổi bao nhiêu lần, khiến toàn thân mệt mỏi vô cùng. Phan Kim Liên tưởng anh ăn phải thứ gì không sạch sẽ, gọi bác sỹ đến khám thì ông nói là bị thương hàn, bèn kê đơn, đến Bảo Xuân Đường bốc thuốc. Uống được hai thang thì hết tiêu chảy, nhưng nửa đêm lại ho dữ dội, còn ho ra rất nhiều đờm lẫn máu. Phan Kim Liên mệt mỏi cả ngày, ra phòng khách ngủ, không để tâm đến anh. Sáng hôm sau thì phát hiện Võ Đại Lang đang hấp hối, vội vàng gọi bác sỹ nhưng chẳng có tác dụng gì. Cầm cự đến chiều thì Võ Đại Lang chết.

Võ Đại Lang chết một cách khó hiểu, Bảo Xuân Đường lại thuộc chuỗi hiệu thuốc của Tây Môn Khánh. Thế là bà con bắt đầu bàn tán xôn xao, nghĩ ra một vài câu chuyện đáng sợ, tình tiết như sau: (1) Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên ngoại tình, bị Võ Đại Lang bắt tại giường; (2) Hai người đàn ông lao vào đánh nhau, trong lúc hỗn loạn Võ Đại Lang bị Tây Môn Khánh đá trúng ngực, đổ bệnh không dậy nổi; (3) Vương Bà ở Phong Vận Các đưa ra một ý nghĩ ác độc, bảo Tây Môn Khánh không làm thì thôi, đã làm phải làm đến cùng, dùng một bao thuốc độc kết liễu Võ Đại Lang để có thể thành vợ chồng với Phan Kim Liên.

Khi Võ Tòng trở lại huyện Dương Cốc, câu chuyện “Vương Bà hiến kế cho Tây Môn Khánh, Phan nương hạ độc hại chồng” đã lan truyền khắp huyện. Võ Tòng đến huyện nha báo cáo trước rồi mặt mày tối sầm sải bước về con đường Tử Thạch. Hàng xóm xung quanh đều nói: “Anh hùng đánh hổ về rồi, muốn báo thù cho anh trai đấy!”

Tây Môn đại quan nhân mà cô yêu say đắm, nói cho cùng vẫn là người làm ăn

Phan Kim Liên đang ngẩn ngơ ngồi trước linh đường của Võ Đại Lang, bỗng ở ngoài cửa xuất hiện một bóng đen, chính là anh hùng đánh hổ Võ Tòng. Hai người sững người nhìn nhau một hồi lâu. Ở cửa có rất nhiều người xúm lại xem, rất náo nhiệt, Võ Tòng quay người đóng cửa lại, cũng ngồi xuống trước linh đường, nói chuyện với chị dâu.

“Những điều họ nói có thật không?” Võ Tòng hỏi Phan Kim Liên.

“Chú tin sao?” Phan Kim Liên hỏi lại.

Võ Tòng nghĩ một lúc rồi nói: “Tôi không thể không tin.”

Phan Kim Liên nói: “Tôi cũng không thể tin được, sao sự việc lại thành ra thế này?”

Võ Tòng tối sầm mặt, hỏi: “Vậy, sự việc vốn là thế nào?”

Phan Kim Liên kể lại một lượt, thì ra chuyện ngoại tình là có thật, nhưng việc mưu hại chồng thì chỉ là tin đồn. Mặt Võ Tòng càng tối hơn, hỏi tiếp: “Nếu việc ngoại tình đã là thật thì sao chuyện hại chồng lại là giả? Đó chính là nguyên nhân gây ra chuyện này… Tại sao chị không thể kiềm chế được mình, cứ phải ngoại tình mới được sao?”

Phan Kim Liên cắn môi không nói gì, bị hỏi dồn, cuối cùng mới khẽ thốt ra mấy chữ: “Vì tôi yêu anh ấy.”

“Chị yêu hắn ta?” Võ Tòng kêu lên: “Chị là đồ gái lẳng lơ, đàn ông nào cũng yêu, chỉ mỗi anh tôi là không, đúng không?”

“Đúng vậy, tôi không yêu anh chú, vì anh ấy không phải là người đàn ông chân chính.” Phan Kim Liên cũng kích động: “Tôi cũng từng yêu chú, nhưng chú lại cự tuyệt tôi. Tôi là một người phụ nữ, một người phụ nữ có đầy đủ những cung bậc cảm xúc đời thường, chú bảo tôi phải làm sao?”

“Chỉ vì điều này mà chị hãm hại chồng sao?” Võ Tòng sắp rơi cả nước mắt, anh đang gắng hết sức để kiềm chế mình: “Chị muốn ngoại tình thì ngoại tình, muốn cải giá thì cải giá, tại sao lại mưu hại anh tôi?”

“Tôi không làm điều đó!” Phan Kim Liên cũng kêu lên.

“Chị đừng có giảo biện!” Một tia sáng lóe lên, rồi “phập” một tiếng, Võ Tòng cắm một con dao xuống mặt bàn trước mặt Phan Kim Liên: “Nếu chị thẳng thắn thừa nhận tôi còn nghĩ chị là nữ trung hào kiệt dám làm dám chịu, nhưng nếu chị cứ ngoan cố lấp liếm, chuyện gì tôi cũng có thể làm được đấy!”

Lưỡi dao đó khiến Phan Kim Liên mặt cắt không còn hột máu. Rồi Võ Tòng tiến tới túm tóc Phan Kim Liên kéo lại gần, nhìn thẳng vào mắt cô, hầm hầm nói: “Đồ đàn bà lẳng lơ, chị nói xem, có đúng chị câu kết với Tây Môn Khánh hãm hại anh tôi không?”

Phan Kim Liên lắc đầu, rồi lại cuống cuồng gật đầu.

“Vậy là đúng rồi! Người ta vẫn nói lòng người khó lường, huống hồ là một người phụ nữ dâm đãng!” Vẻ mặt Võ Tòng đau đớn đến biến dạng, tay dùng lực hất mạnh Phan Kim Liên ngã ra đất, rồi anh ngồi sững ra đó rất lâu. Sau đó anh đứng dậy, nhìn Phan Kim Liên mà quát: “Cho chị sống thêm một chút, giờ tôi đi tìm Tây Môn Khánh, để đôi chó nam nữ các ngươi chết cũng có đôi!” Dứt lời, anh mở cửa, xông qua đám người đang tụ tập trước nhà.

Trời dần tối, mọi người cũng dần tản đi. Võ Tòng tìm khắp huyện thành mà không thấy Tây Môn Khánh, còn Tây Môn Khánh thì đã nhân lúc trời tối lẻn vào nhà Võ Đại Lang. “Baby của ta!” Anh ta ôm chặt lấy Phan Kim Liên như ôm chú cún con đang sợ hãi.

“Em đau!” Bị Võ Tòng kéo tóc, da đầu cô dường như đang sưng tấy cả lên.

“Em đói!” Cô đã quỳ dưới đất hơn hai tiếng rồi, chưa có gì vào bụng cả.

Tây Môn Khánh lại lén đi cửa sau, mang về mấy miếng sườn và vài quả trứng vịt. Phan Kim Liên mắt vẫn rưng rưng, chầm chậm ăn hết chỗ đồ ăn đó. Tây Môn Khánh nhìn mà thấy xót, liên tục lau mặt cho cô, khăn tay đã ướt đẫm nước mắt.”

“Anh không tưởng tượng được cảnh vừa rồi đâu, thứ sát khí ấy thật đáng sợ!”

“Đừng sợ, có anh đây!” Tây Môn Khánh ôm lấy cô an ủi.

Cả đêm kể lể đầy thê lương mà chỉ như trong chốc lát, đã đến lúc gà cất tiếng gáy.

“Chúng ta đi trốn đi!” Phan Kim Liên nói.

“Cũng được!” Tây Môn Khánh gật đầu: “Hảo hán không chịu thiệt thòi trước mắt, đi trốn một thời gian cũng tốt!”

Thế là hai ngươi cuống cuồng thu dọn hành lý, đi ra từ cửa sau. Ngựa của Tây Môn Khánh buộc ở cây liễu sau nhà, Phan Kim Liên tiến lại tháo dây đưa cho Tây Môn Khánh, Tây Môn Khánh đặt hành lý lên ngựa, kéo Phan Kim Liên lên rồi đi về phía đông thành. Trời đã tảng sáng, cổng thành cũng đã mở, hai người như đôi dã thú thoát khỏi lồng, nhanh chóng biến mất trong màn sương sớm mờ ảo.

Khi sắc trời đã sáng hơn, Tây Môn Khánh bỗng dừng lại bên cạnh một cây liễu. Anh ta đứng đó, chặt gãy một cái cành rồi quật lên thân cây, dáng vẻ dường như mang rất nhiều điều u uất. Từ xưa đến nay, cây liễu vẫn thường đi vào thơ ca với cùng những cảm xúc buồn thương. Còn bây giờ, nó lại phải chứng kiến một biến cố tình yêu thế nào đây?

“Anh sao vậy?” Phan Kim Liên hỏi.

“Anh không thể đi được.” Tây Môn Khánh đáp: “Anh không chỉ có mình em. Anh còn có sản nghiệp rất lớn nữa. Anh không thể vì em mà bỏ hết mọi thứ vất vả gây dựng nên.”

Phan Kim Liên giờ đã hiểu. Tây Môn đại lang mà cô yêu say đắm rốt cuộc vẫn là một người làm ăn kinh doanh. Vì thói quen nghề nghiệp mà anh ta sẽ biến mọi lợi ích thành một thứ giá trị mang ý nghĩa kinh tế học. Dù là một cuộc tình trời long đất lở thì cũng chỉ là một trong rất nhiều thứ lợi ích đó mà thôi.

Tình yêu là một vụ giao dịch hai bên cùng có lợi sao?

“Chúng ta khó lòng có được những giây phút như thế này nữa, hãy để em hát một bài cho anh nghe!” Phan Kim Liên nói.

Tây Môn Khánh ngồi xuống chiếc ghế đá, Phan Kim Liên nắm lấy tay anh, vừa khóc vừa cất tiếng hát đầy cảm xúc, khiến người nghe phải nhói lòng.

Khi bài hát kết thúc, vạn vận xung quanh dường như trở nên tĩnh lặng, đến những chú chim trên cành cây cũng như rơi vào trạng thái trầm mặc. Thế nhưng lý trí của Tây Môn Khánh vẫn chiến thắng tình cảm, dù Phan Kim Liên có gọi hàng nghìn tiếng thì anh ta cũng không đi cùng cô.

“Về đi!” Tây Môn Khánh đứng dậy, nhìn con đường vừa đi qua, nói.

“Anh định phụ lòng em sao?” Phan Kim Liên không cam tâm, hỏi.

“Đừng nói phụ lòng hay không phụ lòng.” Tây Môn Khánh lạnh nhạt nói: “Tình yêu chẳng qua là một cuộc giao dịch hai bên cùng có lợi mà thôi. Cuộc giao dịch này có người dùng cả đời, có người chỉ một đêm. Với em, anh đã bỏ hết vốn của mình rồi, kết thúc ở đây thôi!”

Phan Kim Liên không thể nói được gì, cô cảm thấy anh nói rất có lý, nhưng cũng cảm thấy có vấn đề ở đâu đó. Cô không nói lời nào đi theo Tây Môn Khánh, lại đi qua cổng huyện Dương Cốc, lại đi qua con ngõ nhỏ phía sau đường Tử Thạch, lại đối mặt với linh vị của Võ Đại Lang. Cô lặng lẽ ngồi rất lâu, rồi đứng dậy thắp cho Võ Đại Lang ba nén hương, trong phòng bắt đầu lan tỏa mùi hương rất dễ chịu.

Tây Môn Khánh đã đi rất lâu rồi, mặt trời cũng đã lên cao. Phan Kim Liên ngồi trong phòng dường như nghe được tiếng bước chân quen thuộc. Đó là tiếng bước chân của Võ Đại Lang trở về nhà sau khi bán hết bánh sao? Ồ không, hình như là tiếng bước chân Võ Tòng từ huyện nha về! Phan Kim Liên bỗng rút con dao Võ Tòng cắm trên bàn ra, đâm mạnh vào ngực mình.

Chiều tối, Võ Tòng xuất hiện trước mặt Tây Môn Khánh, đưa ra một cây trâm có hình bướm. Đây là một món trang sức quý giá, bên trên còn khảm đá quý, Võ Tòng từng thấy nó cắm trên tóc Tây Môn Khánh. Vừa rồi Võ Tòng thấy nó ở gài trên tóc Phan Kim Liên.

“Nhận ra nó chứ?”

“Không phải chỉ là một cây trâm sao?” Tây Môn Khánh làm ra vẻ không hiểu, hỏi lại: “Làm sao?”

“Chị ta chết rồi!”

“Anh nói ai?”

“Giả vờ, mày còn giả vờ với tao?” Võ Tòng xông tới túm lấy cổ áo Tây Môn Khánh, quát lên: “Nói, tại sao mày quyến rũ chị dâu của tao?”

Võ Tòng dùng lực quá mạnh, Tây Môn Khánh cảm giác như cổ họng nghẹn lại không thở nổi, anh ta muốn nới ra nhưng vô ích. Anh ta cũng định lấy móng tay cứa đau Võ Tòng nhưng lại sợ chọc giận Võ Tòng hơn. Mãi đến khi cánh tay đó đẩy mạnh một cái, Tây Môn Khánh ngồi phịch ra ghế thở hổn hển.

“Võ đô đầu, ban đầu tôi không biết cô ấy là chị dâu của anh.” Tây Môn Khánh cố gắng ngồi thẳng dậy, rồi nhìn Võ Tòng với vẻ chân thành nhất: “Tôi biết anh rất yêu quý anh trai anh, nhưng chị dâu của anh sống cũng không dễ dàng gì. Tôi quyến rũ Phan Kim Liên cũng có ý thương hoa tiếc ngọc.” Tây Môn Khánh trước nay luôn tự tin vào tài ăn nói của bản thân, lần này cũng muốn dùng những lời nói khéo léo để hóa giải nguy cơ trước mặt.

“Mẹ kiếp!” Không ngờ Võ Tòng lại bị chọc giận hơn, trong người lại nổi lên nhiệt huyết của anh hùng đánh hổ, chẳng nói chẳng rằng xông tới đấm một cú trời giáng khiến Tây Môn Khánh cùng ghế ngã lăn ra đất. Tây Môn Khánh “á” một tiếng, bò dậy rồi bỏ chạy. Võ Tòng đuổi theo, lại một cú đấm khác khiến Tây Môn Khánh bay khỏi cửa sổ ngã ra đường. Ở đây là Sư Tử Lầu, đường được lát đá xanh, chỉ nghe “phụt” một tiếng, Tây Môn Khánh ngã lăn ra đất, máu tươi bắn tung tóe, nằm im tại đó.

Đáng tiếc cho một công tử phong lưu đã chết như vậy. Không biết trên đường xuống suối vàng anh ta có gặp lại Phan Kim Liên để tiếp tục trò chơi tình ái mang đặc điểm của kinh doanh đó không?

Làm thế nào để quản lý nhân tâm?

Võ Tòng may mắn chạy thoát khỏi huyện thành, lại một lần nữa dấn bước vào con đường trốn chạy. Anh không kịp định hướng, cứ thế chạy về phía trước. Mấy ngày sau thì thấy trong khu rừng trước mặt có một ngôi chùa, tiến lại gần thì thấy tấm biển đề tên là Khai Nguyên Tự (chùa Khai Nguyên). Võ Tòng bụng đói, suy đi tính lại mãi cuối cùng mạo hiểm tới xin ăn.

Lót dạ được mấy cái bánh bao, tâm trạng Võ Tòng cũng ổn định lại, rồi hỏi thăm lão hòa thượng xem đây là nơi nào? Thì ra đây là Bộc Dương thời Tam Quốc, Thiền Châu thời nhà Tống, năm xưa Tào Tháo và Lã Bố đã đại chiến tại đây. Chân Tông Hoàng đế cũng đã ngự giá thân chinh đến đây ký “Hòa ước Thiền Uyên” với người Liêu.

“Hòa ước Thiền Uyên chính là nỗi sỉ nhục quốc gia.” Võ Tòng thở dài.

Lão hòa thượng hỏi: “Tại sao tráng sĩ lại thở dài?”

Võ Tòng đáp: “Nhớ lại Dương gia tướng năm xưa, oanh liệt biết bao! Dương Lệnh Công và Dương Lục Lang, có thể gọi là phụ tử anh hùng! Còn Chân Tông Hoàng đế thì sao? Tuy là danh quân một đời, nhưng nhu nhược vô năng, với Hòa ước Thiền Uyên mỗi năm phải cống cho Bắc Phiên mười vạn lượng, hai mươi vạn súc lụa, như vậy không phải là sỉ nhục nước nhà sao?”

Lão hòa thượng cười, nói: “Tráng sĩ cũng có phong cách của dũng sĩ oanh liệt, đáng kính, đáng phục! Nhưng theo lão nạp thấy, tráng sĩ chỉ biết một khía cạnh về ‘Hòa ước Thiền Uyên’, chứ chưa biết đến những khía cạnh thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu.”

Thì ra Tống Liêu giao chiến đến hơn hai mươi năm, tuy cũng có Dương gia tướng trung quân báo quốc, nhưng cuối cùng vẫn là cuộc chiến giằng co không có hồi kết. Dân chúng ở vùng biên cương hai nước vì thế mà chịu đủ tai họa từ chiến tranh, huống hồ mỗi lần tham chiến, nhà Tống lại phải mất quân phí đến hàng nghìn vạn lượng bạc trắng. “Hòa ước Thiền Uyên” dùng tiền bạc để đổi lấy hòa bình, chỉ phải bỏ ra có mười vạn lượng, nói thế nào cũng là vụ làm ăn một vốn bốn lời. Đó là điều thứ hai Võ Tòng chưa biết.

Sau “Hòa ước Thiền Uyên”, chiến trường trở thành đặc khu kinh tế, hai nước Tống - Liêu bắt đầu tiến hành tự do thương mại. Liêu Quốc ở Bắc Phiên thiếu thốn hàng hóa, chỉ ngựa và dê là nhiều. Hàng hóa Đại Tống lại phong phú, thức ăn, đồ dùng hàng ngày thứ gì cũng có. Thế là Liêu Quốc xuất khẩu ngựa và dê, nhập khẩu đồ dùng hàng ngày. Ngay từ thời gian đầu thông thương, Đại Tống đã có được mức xuất siêu cực lớn, chỗ bạc tiến cống cho Liêu Quốc đến cuối năm là thu về được, lại còn có lượng doanh thu khả quan. Đó là điều thứ ba Võ Tòng chưa biết.

Thông qua tự do thương mại, Đại Tống có được rất nhiều ngựa tốt, từ đó ưu thế về kỵ binh của Liêu Quốc không còn nữa, còn kỵ binh của Đại Tống lại có trang bị tốt nhất. Do đó hiểm họa nơi biên cương trước đây khiến người ta kinh hãi đã hoàn toàn biến mất. Tiêu Thái hậu của Liêu Quốc nhận ra tình hình không hay, hạ lệnh cấm bán ngựa, kết quả càng nâng cao mức nhập siêu từ Tống Quốc. Đó là điều thứ tư Võ Tòng chưa biết.

Đại Tống càng ngày càng có cơ sở kinh tế hùng hậu, điều này khiến đồng tiền của họ trở thành đồng tiền chung tiêu chuẩn trên thế giới. Kết quả tiền của Liêu Quốc ngày càng mất giá, còn tiền Đại Tống lại được lưu thông khắp nơi. Khi Liêu Quốc đang hưởng thụ những thứ tiện nghi họ mua về thì trên thực tế Đại Tống đã nắm quyền tài chính của Liêu Quốc rồi. Đó là điều thứ năm Võ Tòng chưa biết.

Do vậy, năm đó đúng là Dương gia tướng vô cùng oanh liệt, nhưng chiến sự nơi biên cương vẫn diễn biến phức tạp. Nay có từ điều thứ nhất đến thứ năm, hai nước an hưởng thái bình, mà Đại Tống từ đó cũng bước vào thời kỳ kinh tế văn hóa phát triển phồn vinh. Đó là điều thứ sáu mà Võ Tòng chưa biết.

Võ Tòng há hốc mồm lắng nghe, anh từng sững sờ trước sự thông minh tài trí của Tây Môn Khánh, nhưng không ngờ ngoài Tây Môn Khánh ra còn có những người tài cao học rộng hơn rất nhiều. “Ông lão,” Anh nói với vẻ đầy kính phục, “ông có trí tuệ như vậy sao không gây dựng nên đại nghiệp mà lại ẩn cư sống lặng lẽ nơi rừng sâu nước thẳm thế này?”

Lão hòa thượng cười: “Tráng sĩ không biết đó thôi, thế giới này ngoài kinh tế ra còn có đạo nghĩa; ngoài lợi ích còn có nhân tính; ngoài chi phí hàng ngày còn có nhân quả. Lão nạp không phải ẩn sĩ mà là hòa thượng, bổn phận của lão nạp chính là khuyên nhủ người đời điều thiện qua việc nói đạo nghĩa, nhân tính, nhân quả.”

Võ Tòng lại kính phục lão hòa thượng thêm vài phần, nghĩ một lát rồi hỏi: “Đạo nghĩa, nhân tính và nhân quả mà thầy nói, vãn bối có nghe nói nhiều nhưng vẫn chưa hiểu thấu đáo. Xin hỏi thầy, người ta vẫn nói lòng người khó đoán, vậy làm thế nào để hiểu được sự kỳ diệu trong đó?”

Lão hòa thượng đáp: “Cái gọi là lòng người chẳng qua là một suy nghĩ. Trong sự hỗn loạn, có rất nhiều thiện ý, cũng có nhiều ác ý. Chỉ một suy nghĩ, có thể hướng thiện, cũng có thể làm điều ác. Cái gọi là lòng người khó lường chính là ác niệm.”

Võ Tòng gật gù, rồi hỏi tiếp: “Bất luận là làm người hay làm việc gì điều khó là quản lý được nhân tâm. Chúng ta có thể dùng rất nhiều phương pháp quản lý, nhưng làm thế nào để quản lý được nhân tâm đây? Ví dụ như sự tham lam, tính dâm đãng, hoặc cơn phẫn nộ?”

Lão hòa thượng cười: “Nhân gian có chùa miếu, đó chính là cơ cấu huấn luyện quản lý nhân tâm. Tráng sĩ hỏi làm thế nào để quản lý nhân tâm? Chỉ cần quan tâm, chú ý đến mọi suy nghĩ là được. ‘Hòa ước Thiền Uyên’ chính là ví dụ chứng minh, suy nghĩ trước là chiến tranh, sau là hòa bình. Nếu mọi suy nghĩ đều có thể như vậy thì đâu phải lo cuộc đời và sự nghiệp không có cơ hội thay đổi?”

Võ Tòng bỗng như sực tỉnh, cảm thấy tình cảnh mang tội mà trốn chạy bây giờ chính là hậu quả của việc phẫn nộ mà làm điều ác. Nay sao lại không nương nhờ cửa Phật? Một là có thể thoát tội, hai cũng có thể theo lão hòa thượng tu tâm dưỡng tính, nuôi dưỡng tuệ căn sinh mệnh.

Được sự đồng ý của lão hòa thượng, Võ Tòng đã trở thành đồ đệ môn hạ của ông, pháp hiệu Ngũ Giới, còn gọi là Nhất Niệm Hành Giả. Người trong giang hồ cũng gọi là Hành Giả Võ Tòng.

Chương này viết dựa trên Hồi thứ 25 “Vương Bà hiến kế Tây Môn Khánh, Phan Kim Liên hạ độc chết Võ Đại Lang”. Với mưu kế của Vương Bà, thuốc độc của Phan nương, chúng ta có thể thấy được sự tham lam và hiểm ác của lòng người. Điều khó khăn trong quản lý nhân tâm chính là ở lòng tham và sự hiểm ác của con người.

Quản lý học hiện đại định nghĩa con người là người làm kinh tế. Nếu coi cả thiên hạ này đều làm kinh tế, và sự tồn tại của lòng tham và sự hiểm ác là hợp lý, thì quản lý học sẽ không bao giờ tìm được đáp án thật sự. Tam Quốc diễn nghĩa viết về âm mưu và quyền lực, nhưng phảng phất lại có sự chế giễu quyền mưu. Kim Bình Mai viết về tình sắc, nhưng trong khi nói về tình yêu cũng lại có ý châm chọc điều đó. Nay tôi viết về kinh doanh, lẽ nào cũng nên thấp thoáng thêm vào ý châm chọc quản lý học hiện đại? Bút pháp này quan trọng không phải tình tiết câu chuyện mà là những đạo lý phi thường ẩn sau những tình tiết ấy. Tôi cho rằng, đạo lý phi thường ở đây chính là đạo lý về quản lý mà những học giả đang kiếm tìm.

Tôi đã viết lại câu chuyện tình yêu của Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên mang đặc điểm của thời đại hơn, mang tính chất kinh doanh hơn. Về tình tiết, tôi viết Võ Tòng đánh hổ trước rồi viết mỹ nữ Phan Kim Liên; viết Võ Tòng bái Lưu Ly Sư Tử Tây Môn Khánh làm thầy rồi viết vụ án đẫm máu ở Sư Tử Lầu, cũng có khá nhiều bước ngoặt. Cần chú ý là lý trí trong kinh doanh của Tây Môn Khánh khiến anh ta vào lúc quan trọng nhất đã phản bội lại tình yêu của mình. Đó chính là điểm đáng khinh của thương nhân, cũng là điểm đáng khinh của việc kinh doanh.

Tôi muốn nói là: Kinh tế học không tồn tại tình yêu, tình yêu chân chính nằm ở ngoài kinh tế, sự kỳ diệu của kinh tế học cũng nằm ngoài kinh tế học.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của thành quân ức