Thủy hử @

Lượt đọc: 200 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
từ bánh bao thịt người đến bánh bao hoa đào

Được sự giúp đỡ của Võ Tòng, Tôn Nhị Nương đã chuyển đổi thành công từ bánh bao thịt người sang bánh bao hoa đào, liền một lúc mở ra chuỗi hơn 20 cửa hàng, còn định tiến quân đến Đông Kinh và Hàng Châu. Tinh thần “phục vụ như kỹ nữ” chính là một bài học quan trọng cần huấn luyện cho nhân viên.

Trương Thanh nói: “Sở dĩ chúng ta chia khách hàng thành năm cấp là để chọn ra khách hàng mục tiêu, giành được cơ hội kinh doanh có khả năng sinh lời.”

Đến nhanh, đi cũng nhanh, chẳng thấy được dấu chân

Lão hòa thượng truyền thụ phương pháp tu dưỡng cho Võ Tòng, Phật giáo gọi đó là “thiện hộ niệm” (11) . Làm tốt “thiện hộ niệm” thì tâm sẽ không bị hỗn loạn. Tâm không loạn là có thể hiểu thấu thế sự. Phật giáo còn nói, một suy nghĩ có đến tám vạn bốn nghìn nỗi phiền não quấy rối, có thể thấy “thiện hộ niệm” nói thì dễ chứ để làm được là rất khó.

Thời gian dần trôi, Võ Tòng kìm chế bản thân kiên nhẫn ở trong rừng gần một năm. Hàng ngày, anh gánh nước, bổ củi, quét dọn thiền viện, trồng rau ở mảnh vườn phía sau thiền viện, có lúc cũng ra ngoài đi hóa duyên. Anh vốn là một anh hùng đánh hổ, làm sao quen được với cuộc sống khổ hạnh thế này? Thấy ở đây cũng khá lâu rồi, anh quyết định cáo biệt lão hòa thượng.

Lão hòa thượng nói: “Tráng sĩ đến nhanh, đi cũng nhanh, lướt qua như đám mây, chẳng thấy được dấu chân. Đi đi! Đi đi!”

Võ Tòng dường như hiểu nhưng cũng dường như không hiểu lời của lão hòa thượng. Anh rời khỏi thiền viện, lang thang khắp nơi. Ngày hôm đó đi đến Mạnh Châu, bỗng có người đứng ra trước mặt quan sát anh từ đầu xuống chân, kêu lên kinh ngạc: “Đúng là Võ Tòng rồi! Thật là lạ, sao anh lại thành ra thế này?” Võ Tòng nhìn người đó, thì ra là “anh chàng trồng rau” Trương Thanh.

Bạn cũ gặp lại đương nhiên rất vui mừng, hai người cùng đến quán rượu, thuê một phòng riêng sạch sẽ để hàn huyên.

Trong phòng ngập tràn hương rượu thơm, Võ Tòng đã cai rượu khá lâu, lúc này cũng lên cơn thèm. Trương Thanh nhấc vò rượu lên rót đầy hai bát lớn, định cùng cạn với Võ Tòng, Võ Tòng nói với vẻ khó xử: “Em đã là người xuất gia, pháp danh Ngũ Giới, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không cuồng ngôn, không uống rượu. Tuy rượu rất hấp dẫn, nhưng sao có thể uống chứ?”

Trương Thanh cầm bát rượu lên, trịnh trọng nói: “Tôi không cần biết cậu là hòa thượng hay đạo sĩ, tôi chỉ biết cậu là người anh em của tôi. Nếu còn nể tình thì hãy cùng uống với tôi bát rượu này!”

Võ Tòng tự cười mình: “Chỉ sợ uống một bát thì em lại thành hòa thượng rượu thịt rồi.”

Trương Thanh nói: “Chỉ cần có lòng thành, rượu thịt có là gì?” Thế là anh ta uống trước một ngụm. Võ Tòng lưỡng lự một chút rồi cũng uống. Lúc này hai người họ mới ngồi xuống cùng kể về những gì mình đã trải qua.

Đây là lần đầu tiên từ khi chạy trốn Võ Tòng nói về mối tình oan nghiệt giữa chị dâu và Tây Môn Khánh, tâm trạng anh rối bời. Anh từng nghĩ mình đã vô cùng chính nghĩa khi ép chết chị dâu và giết chết Tây Môn Khánh, nhưng giờ nhìn lại thì thấy dường như đó là một sai lầm. Thậm chí anh còn thường nằm mơ thấy chị dâu và Tây Môn Khánh đến báo thù. Nghĩ cho cùng thì tuy chị dâu lẳng lơ nhưng rốt cuộc cũng là một người phụ nữ đáng yêu; Tây Môn Khánh tuy đáng ghét nhưng cũng có rất nhiều ưu điểm đáng được thừa nhận. Trên thực tế, nếu hồi đó anh không bị kích động như vậy thì có lẽ sẽ tìm được cách giải quyết tốt hơn.

Trương Thanh nghe xong bỗng trào dâng cảm xúc, viết ra một đôi câu đối. Vế trên: “Tảo luyến, nhiệt luyến, hôn ngoại luyến, luyến luyến nan xá.” Vế dưới: “Nam sinh, nữ sinh, tiểu súc sinh, sinh sinh bất tức.” Anh ta giải thích: “Giữa nam và nữ có rất nhiều điều đúng sai không thể lý giải nổi, nếu đứng bên ngoài nhìn thì không phải như vậy đó sao?”

Võ Tòng đau khổ cười: “Nhưng đáng tiếc là em không thể như anh đứng ngoài bàng quan với sự việc được. Trong lúc tức giận đã gây ra huyết án ở Sư Tử Lầu, thân chịu tội thế này không biết bao giờ mới được giải thoát?”

Trương Thanh nói: “Sự việc đã rồi. Sao cậu lại trở nên yếu đuối như phụ nữ vậy?”

Võ Tòng nói: “Anh chưa gặp sư phụ của em, ông giống một người phụ nữ nhân từ!”

Hai người cùng bật cười ha hả: “Uống rượu! Uống rượu!” Uống được vài bát Võ Tòng đã tìm lại được dòng máu anh hùng hồi đánh hổ.

Võ Tòng quay lại hỏi chuyện của Trương Thanh. Thì ra sau khi đóng cửa quán “Mì nước Mạnh Châu”, Trương Thanh định về quê, nhưng trước khi lên đường lại quen biết được với một kỳ nữ ở “câu lan”, quan hệ của hai người cũng rất tốt. Tính ra cô gái đó cũng là đồng hương của Trương Thanh, hai người hẹn nhau cùng về Mạnh Châu làm ăn.

“Câu lan” ở đời nhà Tống tương đương với nhà hát kịch bây giờ, ở đây có rất nhiều kỹ nữ bán nghệ, bán thân xuất hiện, là nơi tràn ngập xuân sắc. Võ Tòng thấy lạ hỏi: “Ở đó cũng có kỳ nữ sao?”

Trương Thanh đáp: “Anh hùng không hỏi xuất thân, phụ nữ không phải cũng thế sao? Cậu đừng coi thường chị dâu cậu nhé, về sự nóng bỏng, đanh đá, không thua kém ai đâu.”

Võ Tòng lại hỏi: “Tại sao anh chị lại đến Mạnh Châu làm ăn?”

Trương Thanh trả lời: “Quê của anh và chị dâu cậu đều ở Mạnh Châu. Anh đang thừa lệnh chị dâu đi mua một ít phấn trang điểm đây. Nếu cậu đi về phía nam, đi qua một ngọn đồi thì đến gò Thập Từ. Ở đó có một tòa Ô Hồng Viện. Sự nghiệp của anh và chị dâu cậu nằm ở đó. Khi đến đó cậu sẽ được thấy phong thái của chị dâu.

Võ Tòng cười ha hả: “Hiện giờ em đang ăn nhờ ngủ đợ ở Quan Âm Viện bên ngoài thành Mạnh Châu. Anh cứ đi mua sắm đi, mấy ngày sau là em sẽ đến gò Thập Tự thăm anh chị.”

Hai anh em ngà ngà say tạm biệt nhau. Võ Tòng lại lóe lên ý nghĩ, cuộc đời đã bước sang trang mới.

Hai lớp nghĩa của bánh bao thịt người

Võ Tòng chọn một ngày đẹp trời rời khỏi Quan Âm Viện, đi về phía gò Thập Tự. Đi trên đường hỏi thăm thì mọi người đều cười, có người còn cố ý hỏi: “Đại hòa thượng, anh cũng muốn ăn bánh bao thịt người sao?”

“Bánh bao thịt người gì cơ?”

Mọi người càng cười dữ hơn, có người nói: “Đúng là hòa thượng, đến bánh bao thịt người cũng không biết!” Cũng có người thích thú hỏi Võ Tòng: “Hòa thượng thật sự không gần nữ sắc sao? Anh nhìn xem phía trước ngực của người phụ nữ nào là không có hai cái bánh bao? Bánh bao Thập Tự đó vừa to vừa trắng, đừng nói là ăn, ngay nhìn thôi cũng thấy ngứa ngáy, nghĩ thôi cũng bứt rứt. Đại hòa thượng nếu thật sự không hiểu bánh bao thịt người thì đến đó làm gì?” người đó vừa hỏi vừa cùng người khác cười sằng sặc.

Võ Tòng bị người ta cười đến ngượng đỏ mặt, vội tách khỏi nhóm người đó đi về phía trước.

Một trưởng giả trong số đó gọi anh lại: “Đại sư phụ đừng giận, người phụ nữ ở gò Thập Tự đó thật sự vô cùng quyến rũ, đại sư phụ đã là người xuất gia thì đừng đến đó. Tiểu tử vừa rồi nói đến bánh bao thịt người còn một lớp nghĩa nữa, đại sư phụ cũng nên nghe xem.”

Võ Tòng dừng bước, nghe trưởng giả đó giải thích: “Phụ nữ ở gò Thập Tự tuy xinh đẹp, quyến rũ nhưng chặt chém người thì vô cùng mạnh tay, uống một cốc nước hoa quả cũng mất bảy, tám trăm xu, một cốc rượu cũng bốn năm lượng bạc, đã vào đó có bao nhiêu tiền cũng bị cô ta chém cho bằng hết. Cô ta đâu có làm ăn, rõ ràng là ăn thịt người. Như thế thì khách nào chẳng phải là bánh bao thịt người? Vì thế mà cô ta cũng được gọi là “mẫu đại trùng”, hoặc “mẫu Dạ Xoa”, vô cùng hung dữ, cũng rất lợi hại. Không biết đại sư phụ đến đó làm gì, nhưng vẫn nên cẩn thận là hơn.”

Cảm ơn vị trưởng giả đó, Võ Tòng tiếp tục đi về phía trước, nhưng bất giác bước chân anh chậm lại, anh nghĩ bụng: “Ta đang muốn xem vợ của Trương Thanh là người thế nào, không ngờ lại là kỹ nữ. Dù chị ta có xinh đẹp thế nào thì ta đến gặp để làm gì chứ?” Nghĩ rồi anh quay đầu toan định trở về Quan Âm Viện. Nhưng bụng lại nghĩ: “Ta đã hứa với Trương Thanh, đương nhiên phải đi chứ. Hơn nữa, tin đồn chưa chắc là thật, vẫn nên nhìn thấy tận mắt thì tốt hơn. Cho dù là thật đi nữa, mình là anh hùng đánh hổ, lẽ nào lại sợ con sâu to như chị ta?”

Địa thế ngày một cao hơn, vượt qua một ngọn đồi là nhìn thấy một ngọn cây ô liu xanh rì. Bên dưới tán cây là một ngôi nhà có tường vây màu trắng, mái ngói đen. Trên cao treo một lá cờ quảng cáo với dòng chữ lớn “Ô Hồng Viện”. Trên tường ở hai bên cửa đều có đèn lồng đỏ rất to, kết hợp với những gam màu xanh, trắng, đen ở xung quanh trở nên rất đẹp. Võ Tòng nghĩ bụng: “Trước ta chỉ biết Đào Hồng Viện, ở đây lại là Ô Hồng Viện. Đào Hồng Viện có ý chỉ vẻ đẹp của mỹ nữ, ý nói kỹ viện. Không biết Ô Hồng Viện là có ý gì?”

Đến gần thì có một chiếc kiệu vượt qua Võ Tòng, dừng trước cửa Ô Hồng Viện, rồi một người to béo đội mũ ô sa bước xuống, một nhân viên phục vụ chạy ra dẫn người kia vào trong. Võ Tòng đến trước cửa, định vào nhưng lại bị một nhân viên khác chặn lại.

Võ Tòng hỏi: “Ông béo kia vào được sao ta không được?”

Nhân viên phục vụ cười khảy, hếch mặt sang một bên, Võ Tòng nhìn thấy một đôi câu đối treo ở cửa. Vế trên: “Phi ô mão bất đắc nhập nội”, vế dưới: “Hữu hồng quần dao duệ sinh xuân”. Tuy đối chưa thật chuẩn nhưng cũng rất ý nhị.

Võ Tòng nghĩ: “Chắc đôi câu đối này là tác phẩm của anh Trương Thanh. Cửa hàng mì có câu đối, giờ mở kỹ viện cũng có câu đối.” Rồi anh hỏi: “Viết thế là có ý gì?”

Người kia giáo huấn Võ Tòng: “Anh nhìn đi, cái gọi là ‘ô mão’ chính là những người đàn ông có tiền có quyền, còn ‘hồng quần’ chính là những người phụ nữ xinh đẹp. Ô Hồng Viện chính là nơi gặp mặt của những người đàn ông quyền thế và những người phụ nữ xinh đẹp. Anh là đại hòa thượng vào làm gì?”

Võ Tòng cười ha hả: “Hòa thượng đến đây không phải vì mỹ nữ, chỉ vì mỹ tửu. Chỉ cần một vò rượu ngon là hòa thượng tôi mãn nguyện rồi.”

Anh ta bán tín bán nghi dẫn Võ Tòng vào trong, cho anh ngồi vào bàn. Võ Tòng nhìn quanh nhưng không thấy người béo kia đâu. Phục vụ hỏi Võ Tòng cần bao nhiêu rượu, anh nói: “Cứ mang lên đi, có bao nhiêu, tôi uống bấy nhiêu, thêm ba cân thịt bò nữa. Nghe nói bánh bao ở đây rất ngon, thêm mười mấy cái làm điểm tâm.”

Một lát sau phục vụ bưng lên một vò rượu, rồi một đĩa thịt bò, một đĩa bánh bao lên. Võ Tòng đi đường nửa ngày trời nên rất đói, xé thịt bò, uống liền ba bát rượu rồi cầm bánh bao lên hỏi: “Này cậu, bánh bao chỗ các cậu là thịt người hay thịt chó?”

Phục vụ hỏi ngược lại: “Ở thời đại thái bình thế này, giữa thanh thiên bạch nhật, lấy đâu ra bánh bao thịt người?”

Võ Tòng nói: “Tôi nghe nói bánh bao thịt người chỗ các cậu rất ngon. Tại sao cậu chỉ cho người khác ăn mà lại giấu tôi?”

Cậu phục vụ nổi giận: “Cái loại hòa thượng ăn mặn nhà anh, cho ăn cho uống rồi lại còn gây sự vô cớ. Mặc kệ anh!”

Võ Tòng cũng không để bụng, vui vẻ ăn uống, hết vò rượu này lại đến vò rượu khác, anh uống liền ba vò, cảm giác lâng lâng thật tuyệt. Xong xuôi, Võ Tòng đứng dậy đi ra ngoài, nhưng phục vụ đã đuổi theo đòi tiền. Võ Tòng bị cậu ta kéo một cái ngã lăn ra đất. Tiếng kêu như lợn bị chọc tiết của cậu phục vụ kia làm náo loạn đại sảnh, còn Võ Tòng thì nằm đè lên cậu phục vụ mà thở phì phò.

Mọi người luống cuống gọi bà chủ ra. Võ Tòng nheo mắt nhìn trộm, đúng là một người phụ nữ khỏe mạnh: Bên trong bộ quần áo đẹp đẽ kia là thân hình to lớn, bên dưới lớp trang điểm kia là một làn da ngăm đen; nhưng đôi mắt lại đẹp vô cùng, vừa to vừa đen, hàng lông mi dày rất quyến rũ. Chỉ thấy người phụ nữ đó quát lên: “Hòa thượng ngông cuồng ở đâu ra đây?” vừa nói vừa xắn tay áo định nhấc Võ Tòng lên. Võ Tòng vừa ngáy vừa thuận thế ôm đầu cô ta, tay phải nắm chắc lấy hai tay cô ta, chân phải hơi thò ra phía trước, khiến cô ta ngã quay. Chỉ nghe “bịch” một tiếng, người phụ nữ đó lăn ra đất, Võ Tòng thuận thế lật người lấy cái bụng mềm mại của cô ta làm gối, tiếp tục làm vẻ như đang ngủ say.

Đến lượt người phụ nữ kia kêu lên, một người từ phía hậu viện chạy ra, nhìn thấy Võ Tòng thì nói: “Thì ra là cậu em Võ Tòng! Rốt cuộc xảy ra chuyện gì vậy? Đứng dậy rồi nói!” Võ Tòng mở mắt, trước mặt là “anh chàng trồng rau” Trương Thanh, anh liền ngạc nhiên kêu lên: “Thì ra anh ở đây à!” rồi nhảy lên hành lễ với Trương Thanh.

Người phụ nữ kia bò dậy, Trương Thanh giới thiệu: “Đây là chị dâu của cậu, Tôn Nhị Nương.” Võ Tòng vội quay lại hành lễ: “Võ Tòng vô lễ với chị rồi. Chỉ trách mấy người phục vụ chỉ biết nịnh nọt mấy người có quyền thế, cố ý phục vụ không tốt những người như em, em uống hơi nhiều, nên đầu óc không tỉnh táo. Anh ra em mới tỉnh lại. Mong chị lượng thứ cho Võ Tòng!”

Tôn Nhị Nương phủi bụi trên quần áo, nở nụ cười quyến rũ, nói: “Người nhà cả, có gì đâu!” Thế là ba người cùng bật cười ha hả, trở vào trong bày lại tiệc rượu.

Phân loại khách hàng để quản lý và tinh thần kinh doanh của kỹ nữ

Lại nói về Ô Hồng Viện, trước đây vốn là khách sạn Tôn Ký, là sản nghiệp của Tôn Đạo Nguyên, cha của Tôn Nhị Nương. Khách sạn Tôn Ký nằm bên đường cái quan của Mạnh Châu, bánh bao ở đây rất ngon nên kinh doanh rất phát đạt. Chú ruột của Tôn Nhị Nương là Tôn Trung Nguyên vì thế mà sinh lòng ganh ghét, câu kết với bổ khoái Lã Hoài Thành vu oan cho Tôn Đạo Nguyên buôn lậu muối, trong khi truy đuổi đã giết hại ông, rồi bán Tôn Nhị Nương sang Đông Kinh làm kỹ nữ. Sau đó, Tôn Nhị Nương gặp được “anh chàng trồng rau” Trương Thanh và có ý kết giao. Hai người hẹn cùng về Mạnh Châu, lập mưu giết ông chú Tôn Trung Nguyên, lấy lại tài sản năm xưa của phụ thân. Họ đưa đến đây một vài cô gái có nhan sắc và đổi tên khách sạn Tôn Ký thành Ô Hồng Viện, vừa kinh doanh bánh bao truyền thống vừa kinh doanh vốn tự có, rất phát đạt.

Võ Tòng hỏi: “Em thấy quán chỉ lèo tèo vài khách sao có thể làm ăn có lãi?”

Trương Thanh trả lời: “Cậu em không biết đấy thôi. Ô Hồng Viện khai trương gặp ngày đại cát, khách hàng đông nghịt khiến đám em út và nhân viên phục vụ vô cùng mệt mỏi. Sau khi suy nghĩ, bọn anh quyết định chia loại khách hàng để quản lý. Kết quả phát hiện khách hàng cao cấp chỉ chiếm 20% lượng khách nhưng đem lại 80% lợi nhuận, nên bọn anh gọi đó là khách hàng có khả năng sinh lời. Anh đây tuy chỉ xuất thân từ nhà nông nhưng cũng từng đọc sách, thế là anh điều chỉnh, coi “ô mão” (chỉ đàn ông có tiền, có quyền) là khách hàng mục tiêu, coi “hồng quần” (gái đẹp) là đặc sắc trong kinh doanh, chỉ nhằm vào đối tượng khách hàng có tiền. Như thế có thể dùng lượng vốn nhất định mà đem lại lợi nhuận nhiều nhất. Lập tức danh tiếng Ô Hồng Viện truyền đi rất xa, khách hàng là quan lại, thương nhân từ những phủ huyện gần xa đều là khách quý của bọn anh. Ai ngờ chuyện tốt không kéo dài được lâu, mấy tháng nay làm ăn ngày một kém, không biết là vì sao?”

Võ Tòng hiếu kỳ hỏi: “Làm thế nào để phân loại khách hàng?”

Trương Thanh vào phòng làm việc lấy ra một tập tài liệu đưa cho Võ Tòng. Thì ra cái gọi là phân loại khách hàng là chia khách hàng thành năm cấp 1, 2, 3, 4, 5. Trong đó khách hàng cấp 1 thuộc tầng lớp trên cùng của xã hội, tức quan lại, quý nhân. Họ có thói quen sống riêng, không ham hư vinh, nhưng nhất cử nhất động của họ đều tác động đến xã hội. Quyết sách tiêu dùng của họ luôn luôn là tin tức trong nội bộ ngành, được người khác lan truyền và mô phỏng theo. Đương nhiên rồi, tỉ lệ khách hàng cấp 1 là thấp nhất, chỉ 0,2%.

Khách hàng cấp 2 tuy không so sánh được với khách hàng cấp 1 nhưng họ cũng là những người có khả năng hơn người, họ có gia tài lớn, thu nhập cao. Họ là người tiêu dùng chủ yếu các mặt hàng xa xỉ. Họ sẽ ra vào những nơi mang tính riêng tư bí mật, họ sẽ tiêu tiền hoặc thầm lập kế hoạch ở những nơi đó. Họ muốn leo lên đỉnh của ngọn tháp, nhưng con cháu họ lại có khả năng đạt mục tiêu đó hơn. Tỉ lệ loại khách hàng cấp này là 12,56%.

Khách hàng cấp 3 là lực lượng quan trọng của xã hội, họ không phải thuộc hàng danh gia vọng tộc, cũng không có gia sản hùng hậu, nhưng họ lại là nhân vật có sức mạnh trên quan trường, những nhà doanh nghiệp. Họ coi trọng thời thượng, theo đuổi những nhãn hiệu nổi tiếng. Họ rất năng động, thích tham dự các buổi tiệc. Họ hy vọng con cái mình được tiếp nhận nền giáo dục tốt và chấp nhận bỏ tiền bạc cho điều đó. Tỷ lệ của khách hàng cấp này là 26,15%.

Khách hàng cấp 4 là tầng lớp nhân dân lao động đông đảo nhất trong xã hội. Họ cần việc làm và thu nhập ổn định, có lúc cũng muốn có những cơ hội lập nghiệp với số vốn nhỏ. Họ phải dựa vào sự ủng hộ của người thân và bạn bè về phương diện kinh tế và tình cảm, khi gặp khó khăn họ cần mọi người cho ý kiến và giúp đỡ. Phạm vi hoạt động của họ chỉ dừng lại ở gia đình và nơi làm việc, thỉnh thoảng cũng ra ngoài chơi. Tỷ lệ của họ là 38,62%.

Thu nhập của khách hàng cấp 5 vô cùng ít ỏi, chỉ đủ duy trì cuộc sống bình thường. Trong chi tiêu, họ cần tính toán chi li, số thu nhập có được chủ yếu là dùng để mua thức ăn và đồ dùng hàng ngày. Nếu chẳng may bị ốm, tai nạn, trộm cướp, thiên tai hay bất cứ tai họa nào khác, họ sẽ rơi vào tình cảnh vô cùng quẫn bách. Tỷ lệ của họ là 15,54%.

Còn có những người sống dưới mức nghèo khó, thường xuyên thất nghiệp, thậm chí duy trì cuộc sống nhờ vào sự tiếp tế của người khác. Khả năng tiêu dùng của họ ở vào mức kém, hơn nữa chỉ hạn chế ở hàng thực phẩm, có thể loại bỏ không cần tính trong việc phân loại khách hàng. Tỷ lệ của họ là 7,02%.

Khách hàng cao cấp của Ô Hồng Viện chủ yếu bao gồm khách hạng cấp 2 và một bộ phận khách hàng cấp 3. Còn khách hàng cấp 1 thì thường đến tiêu tiền cho những danh kỹ như Lý Sư Sư, Cố Phán Phán, Triệu Oanh Oanh ở trung tâm giải trí Đông Kinh, chứ sao lại đến cái gò Thập Tự ở nơi quê mùa Mạnh Châu này? Khách hàng từ cấp 4 trở xuống thì đều bị Ô Hồng Viện chặn ngay ngoài cửa.

Võ Tòng lại hỏi: “Anh chia khách hàng thành năm cấp như thế không phải phân biệt đối xử hay sao?”

Trương Thanh đáp: “Đúng là có phân biệt thật, nhưng anh và chị cậu đành phải làm vậy. Vì có sự khác biệt về địa vị xã hội, thu nhập và cách sống mà các cấp khách hàng khác nhau sẽ có đặc điểm tiêu dùng khác nhau. Bọn anh chia khách hàng thành năm cấp cũng là để chọn ra khách hàng mục tiêu, nắm bắt cơ hội có khả năng sinh lời nhất.”

“Vậy…” Võ Tòng hỏi tiếp: “Anh đánh giá cơ hội kinh doanh thế nào?”

Trương Thanh trả lời: “Cơ hội kinh doanh của bọn anh nằm ở cảm giác cô đơn của con người. Cho dù chúng ta đang sống trong một xã hội phồn vinh nhưng thực ra ai cũng thấy cô đơn. Trong đó, có một số khách hàng cấp cao chịu chi tiền đến đây tìm sự an ủi từ kỹ nữ để xua đi cảm giác cô đơn trong họ.”

“Đúng vậy, cô đơn. Em luôn cảm thấy một sự cô đơn đáng sợ giữa mọi người.” Võ Tòng gật đầu, rồi hỏi tiếp, “Điều em thắc mắc là, tại sao lại là kỹ nữ chứ không phải là vợ?”

Trương Thanh cho rằng, so với vợ, kỹ nữ có năm ưu điểm sau:

Thứ nhất , vợ thích than vãn, còn kỹ nữ lại rất dịu dàng. Vợ lúc nào cũng lèm bèm, chỉ trích chồng chỗ này không đúng, chỗ kia chưa được. Còn kỹ nữ lại biết dùng tình cảm và sự nhẫn nại bao dung cho tất cả.

Thứ hai , kỹ nữ luôn khiến khách hàng có cảm giác được yêu. Vợ thường không chú ý đến hình tượng trước mặt chồng, khi ngủ dậy mắt nhập nhèm đầy gỉ mắt, còn kỹ nữ thì luôn thể hiện mặt xinh đẹp nhất, dịu dàng nhất, đáng yêu nhất.

Thứ ba , kỹ nữ biết làm thỏa mãn yêu cầu của khách. Khi một người đàn ông có tật xấu gì đó, vợ sẽ coi thường, chế giễu hoặc lạnh nhạt với anh ta, còn kỹ nữ thì biết cách tôn trọng, thấu hiểu, an ủi và phối hợp.

Thứ tư , khi đàn ông đưa tiền, vợ lúc nào cũng chê ít, còn kỹ nữ sẽ vô cùng cảm kích mà hôn lấy hôn để.

Thứ năm , vợ quen coi chồng là vật sở hữu của mình, không quan tâm niềm vui, nỗi buồn của chồng. Còn kỹ nữ lại trân trọng tất cả nhưng cơ hội gặp gỡ ngắn ngủi, chủ đề chính của mọi cuộc gặp là khiến khách hàng vui vẻ.

“Á!” Võ Tòng kinh ngạc kêu lên: “Nói vậy thì kỹ nữ có tinh thần kinh doanh đáng quý nhất của thời đại chúng ta rồi! Làm việc như kỹ nữ, phục vụ như kỹ nữ, nhân viên của chúng ta nên có quan niệm làm việc như của kỹ nữ. Nhưng mà vừa rồi anh nói gì nhỉ? Làm ăn ngày một kém? Tại sao? Phục vụ tốt như thế sao lại không có khách chứ?”

Trương Thanh nói: “Anh cũng đang đau đầu đây! Không biết rốt cuộc là xảy ra chuyện gì?”

“Để tôi trả lời giúp anh câu hỏi này.” Giọng nói của một người đàn ông vọng lại từ trên cầu thang. Khi mọi người quay lại thì thấy đó là người đàn ông to béo mà Võ Tòng nhìn thấy ở ngoài cửa lúc mới đến. “Vấn đề mọi người gặp phải, trong kinh tế người ta gọi là hiệu quả giảm dần.” Người đàn ông to béo nói, vừa chỉnh lại quần áo vừa xuống cầu thang tiến lại chỗ bàn.

Thế nào là hiệu quả giảm dần? Người đàn ông béo lấy ví dụ, khi có mối tình đầu, lần đầu tiên cầm tay con gái sẽ cảm thấy vô cùng phấn khích, nhưng khi số lần nắm tay nhiều dần, cảm giác phấn khích kia sẽ giảm dần, đến cuối cùng sẽ là sự chai lì “cầm tay vợ như tay trái cầm tay phải”. Vợ chồng bất mãn với nhau, thật ra đó là triệu chứng tổng hợp của sự mệt mỏi do hiệu quả giảm dần gây ra. Thế là cánh đàn ông khó tránh khỏi có mới nới cũ, còn cánh phụ nữ thì khó tránh việc “hồng hạnh vượt tường” (12) . Hoạt động kinh doanh của Ô Hồng Viện ngày một sa sút có liên quan đến hiệu quả giảm dần của các cô kỹ nữ.

“Có đối sách gì không?” Trương Thanh vội hỏi.

Người đàn ông béo nói: “Gò Thập Tự nằm ở khu vực nông thôn Mạnh Châu, số lượng khách hàng mục tiêu quá ít, không đủ để duy trì sự phát triển bền vững cho Ô Hồng Viện. Kế sách hiện nay chỉ có là chuyển địa điểm đến những thành phố lớn như Đông Kinh hay Dương Châu, để có đủ lượng khách hoặc thu hút thêm nhiều người đẹp và hạng mục giải trí hơn, để thỏa mãn hơn nữa sở thích có mới nới cũ của khách hàng.”

Bánh bao này với bánh bao kia

Theo quan sát của Võ Tòng, người đàn ông kia có làn da ngăm đen, người hơi lùn, nếu chiểu theo thuật xem tướng của Trung Quốc thì đây là người túc trí đa mưu. Trương Thanh giới thiệu anh ta là Áp Ty của huyện Vận Thành, mọi người gọi là Cập Thời Vũ Tống Giang.

“Quả nhiên là Tống Giang đại ca!” Võ Tòng vội gập người cúi chào. Thì ra Tống Giang nổi tiếng về sự rộng rãi, trượng nghĩa cứu người, rất được mọi người kính trọng. Trong hai lần chạy trốn, Võ Tòng cũng đã được nghe những câu chuyện về Tống Giang, không ngờ nay lại được gặp ở Ô Hồng Viện.

Tống Giang vội vàng đỡ anh dậy, hỏi: “Cậu là ai? Mạo muội xin hỏi quý danh của cậu?” Khi biết là Võ Tòng, Tống Giang kinh ngạc: “Thì ra là anh hùng đánh hổ, sao lại trở thành một cao tăng thế này?”

“Có phải cao tăng gì đâu?” Võ Tòng ngượng ngùng nói, “Chỉ vì gặp rất nhiều điều khó xử trong cuộc sống nên mới có bộ dạng như thế này đây.” Rồi anh hỏi “Đại ca đã có sự nghiệp ở Vận Thành, sao lại đến sống ở Mạnh Châu?”

Tống Giang đáp: “Quy định pháp luật của Mạnh Châu rất tốt, vì thế phủ doãn đại nhân của bọn ta đã sắp xếp một lớp bồi dưỡng cho Áp Ty ở các huyện đến học. Cũng không có nhiều bài tập, khi đến Ô Hồng Viện thì quen biết người anh em Trương Thanh đây.”

Ba người bọn họ cùng với Tôn Nhị Nương nâng ly rượu đầy, tiếp tục hàn huyên. Tống Giang kiến thức rộng, nói chuyện từ nam chí bắc khiến vợ chồng Trương Thanh và Võ Tòng vô cùng khâm phục. Họ ở lại Ô Hồng Viện hàn huyên mấy ngày liền. Trước khi chia tay, thấy Võ Tòng đang gặp khó khăn, Tống Giang biếu anh một đĩnh vàng 10 lượng và một ít tiền tiêu vặt.

Sau khi tiễn Tống Giang, Võ Tòng quay lại nói với Trương Thanh: “Những lời Tống Giang nói thật sâu sắc và đầy triết lý, không biết anh định thế nào?”

Trương Thanh nói: “Kế hoạch chuyển địa điểm sang Đông Kinh là một lựa chọn không tồi, nhưng sẽ nảy sinh ra hai vấn đề. Một là phải từ bỏ cơ sở hiện có đã kinh doanh nhiều năm, hai là tốn rất nhiều vốn. Nếu không chuyển địa điểm mà mở ra hạng mục kinh doanh mới thì phải suy nghĩ về tính khả thi và chiến lược kinh doanh. Cách nào cũng có cái khó của nó.”

Võ Tòng nghĩ bụng: “Ông anh Trương Thanh này là người không quyết đoán. Chuyện gì cũng phải để nữ chủ nhân quyết định.” Anh đi tìm Tôn Nhị Nương, Tôn Nhị Nương nói: “Chú nhiệt tình như vậy thật hiếm có, chú cứ nói suy nghĩ của mình để chị nghe xem sao!”

Võ Tòng liền hỏi Tôn Nhị Nương đã bao giờ nghe nói đến bánh của Võ Đại Lang? Tôn Nhị Nương gật đầu lia lịa, món bánh của Võ Đại Lang là đặc sản của huyện Dương Cốc, nổi tiếng gần xa, lẽ nào cô lại không biết? Võ Tòng tiếp: “Hiện giờ Ô Hồng Viện đang gặp phải khó khăn, dù là chuyển đến Đông Kinh hay mở hạng mục kinh doanh mới, e rằng đều không phải lựa chọn tốt nhất. Em thấy bánh bao của chị rất ngon, có hương vị riêng so với bánh của Võ Đại Lang. Em đã từng lên chiến lược kinh doanh cho Võ Đại Lang, em nghĩ có lẽ nó cũng thích hợp với bánh bao của nhà chị.”

Tôn Nhị Nương nói: “Món bánh bao này được ông tổ truyền lại, tuy không phải thương hiệu nổi tiếng, nhưng cũng đã có mặt ở Mạnh Châu này mười mấy năm, chỉ vì từ khi mở Ô Hồng Viện thì lại toàn bán “bánh bao thịt người”. Bánh bao này với bánh bao kia, nói mãi khiến chính chị cũng không phân biệt được nữa. Chú bảo chị từ bỏ Ô Hồng Viện, mở lại sản nghiệp xưa của ông tổ, không biết là chú có luận chứng gì không?”

Võ Tòng giải thích: “Về lý thuyết, vấn đề mà chị cần giải quyết là làm thế nào để đưa ra quyết định. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là chuyện lớn, nó có nghĩa là chị sẽ phải từ bỏ thị trường hiện có, tìm lại những khách hàng mục tiêu khác. Chị cần phải thận trọng, nhưng cũng cần phải quyết đoán.”

Tôn Nhị Nương thở dài: “Đàn ông lo tiền, đàn bà lo tuổi. Ô Hồng Viện kinh doanh dựa vào phụ nữ, nhưng hiệu quả tác dụng mà phụ nữ đem lại cũng giảm nhanh quá thể! Ngay như chị đây cũng lo lắng càng có tuổi, sắc đẹp càng tàn phai!” Đoạn cô ngẫm nghĩ một lúc rồi nói, “Thế này đi, kinh doanh cả hai loại bánh bao. Chị vẫn bán bánh bao thịt người. Ngoài ra mở thêm một bộ phận chuyên xúc tiến bán loại bánh bao kia.”

“Sao mà kinh doanh được cả hai loại chứ?” Võ Tòng nói, “Bánh bao này, bánh bao kia đến chính chị còn không phân biệt được thì người khác làm sao mà phân biệt rõ được? Bắt buộc phải sáng tạo ra thương hiệu mới mà mọi người nghe là hiểu.”

Tôn Nhị Nương nói: “Chú hãy viết ra bản kế hoạch trước, nếu được tôi sẽ làm theo ý chú. Chú là nhất thế anh hùng, cũng cần có cơ hội lập nghiệp. Chú không cần phải làm nhân viên, mà hãy làm đối tác của tôi. Trong doanh nghiệp mới, tôi có thể cho chú một tỷ lệ cổ phần nhất định, cổ phần đó được đổi bằng sự thông minh, tài trí của chú, chú thấy thế nào?”

Võ Tòng nghe vậy vô cùng mừng rỡ, nghĩ bụng: “Bà chị này tuy bị mang danh hổ cái, quỷ Dạ Xoa nhưng thực sự là chơi quá đẹp! Không ngờ tiền đồ của mình lại nằm trong tay của chị ấy!”

Chuyển đổi thành công từ bánh bao thịt người sang bánh bao hoa đào

Võ Tòng mất đúng một tháng để lập bản kế hoạch. Anh đã phát hiện ra rất nhiều thông tin có giá trị: Phụ thân của Tôn Nhị Nương là Tôn Đạo Nguyên năm đó sáng tạo ra bánh bao thích thêm một chút mật hoa vào bột làm bánh; mùa xuân có lúc cũng dùng hoa đào thay cho mật hoa. Thế là Võ Tòng đặt tên luôn cho loại bánh bao với công thức đặc biệt này là “bánh bao hoa đào”. Anh còn lên kế hoạch lập ra một doanh nghiệp chuyên kinh doanh sản phẩm này, đặt tên là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Bánh bao Hoa đào. Khi Võ Tòng đưa bản kế hoạch cho hai vợ chồng Tôn Nhị Nương, Trương Thanh, họ mừng như bắt được vàng.

Bánh bao hoa đào là một sáng kiến rất có giá trị thị trường. Thôi Hộ đời nhà Đường có viết: “ Ngày này năm ngoái tại cửa này/ Người đẹp hoa đào ửng đỏ lây/ Người đẹp biết về đâu chẳng thấy/ Gió xuân đào cũ vẫn cười đây! ” (13) Mỗi khi nhìn thấy hoa đào là mọi người lại liên tưởng đến tình yêu, đến tuổi thanh xuân, đến vẻ đẹp trường sinh bất lão. Y học cổ truyền Trung Quốc đã chứng minh, trong hoa đào có rất nhiều loại vitamin và nguyên tố vi lượng, có thể đả thông kinh mạch, giãn nở mao mạch, cải thiện tuần hoàn máu, ăn vào có tác dụng đẩy mạnh tiêu hóa, làm đẹp.

Võ Tòng còn có kế hoạch xây dựng chuỗi cửa hàng ăn, không chỉ kinh doanh bánh bao hoa đào, mà còn có cháo hoa đào, trà hoa đào, rượu hoa đào. Cháo hoa đào có công hiệu hoạt huyết, dưỡng da, ích khí, làm đẹp, thông sữa, đặc biệt thích hợp cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú. Trà hoa đào có tác dụng loại bỏ sắc tố, các vết chàm, nám, cải thiện làn da. Rượu hoa đào thích hợp cho thanh niên, uống có thể phòng bệnh, làm đẹp, cải thiện tâm trạng. Cũng có thể dùng hoa đào làm thành thuốc viên, rất có tác dụng điều trị sắc mặt đen sạm hay mụn trứng cá do gan không điều hòa, khí huyết không thông, cũng có tác dụng thông kinh, điều trị chứng đau nửa đầu.

Không còn gì phải nghi ngờ, sáng kiến về bánh bao hoa đào vừa đưa ra đã thể hiện được đặc điểm riêng của thương hiệu: Đánh đúng vào tâm lý khách hàng. Tôn Nhị Nương cuối cùng quyết định đóng cửa Ô Hồng Viện, giải tán hết các em út, toàn tâm toàn ý vào sự nghiệp bánh bao hoa đào. Võ Tòng còn lấy Tôn Nhị Nương làm người đại diện hình ảnh cho thương hiệu bánh bao hoa đào, với tên gọi là “Đào hoa tẩu”. Tuy làn da Tôn Nhị Nương hơi ngăm đen, nhưng đánh son phấn lên cũng trở nên rất xinh đẹp. Từ đó ngoài biệt hiệu “mẫu Dạ Xoa”, Tôn Nhị Nương còn có một biệt hiệu nho nhã khác là “Đào hoa tẩu”.

Bánh bao thịt người lưu truyền trong dân gian đến nay trở thành thông tin có giá trị sử dụng. Võ Tòng đã sáng tác ra một loạt quảng cáo với chủ đề “Bản chất của bánh bao thịt người” để giải thích cho mọi người hiểu rằng: Bánh bao thịt người nói đến ở đây không phải là chỉ ngực của người phụ nữ mà dùng để nói về vị ngon và giá trị dinh dưỡng của bánh bao hoa đào. Những đoạn quảng cáo được thiết kế tỉ mỉ đó trở thành sự kiện thời sự chấn động cả xã hội, tạo nên một sức mạnh truyền bá gây sốc cho tất cả mọi người.

Vẫn còn một vấn đề đó là chiến lược giá cả. Giá của bánh bao hoa đào chỉ đắt hơn bánh bao bình thường một chút, vừa thể hiện được sự khác biệt của nó vừa thích hợp với túi tiền của người bình dân. Như vậy, sản phẩm có sức hấp dẫn - Product, địa điểm tiện cho khách hàng mua - Place, cách thức xúc tiến thương mại thu hút khách hàng - Promotion, giá cá mang tính cạnh tranh - Price, 4P đều đã hội tụ đủ. Lập tức, danh tiếng của bánh bao hoa đào vang dội khắp chốn, lượng tiêu thụ tăng mạnh.

Tôn Nhị Nương cũng đã chuyển đổi thành công từ bánh bao thịt người sang bánh bao hoa đào, liền một lúc mở ra chuỗi hơn 20 cửa hàng ở Mạnh Châu và một vài châu huyện gần đó, cô còn định tiến quân đến Đông Kinh, Hàng Châu. “Anh chàng trồng rau” Trương Thanh từng mở quán mì, giờ cũng đã có cơ hội thể hiện kinh nghiệm quản lý. Còn “tinh thần phục vụ như kỹ nữ” cũng là chủ đề quan trọng dùng để huấn luyện nhân viên ở hệ thống các nhà hàng bánh bao hoa đào.

Chương này dựa theo tư liệu của Hồi thứ 27 “Đường Mạnh Châu, Mẫu Dạ Xoa bán thịt người, Bờ Thập Tự Võ Đô Đầu gặp hảo hán” để viết về hai loại bánh bao.

Bên trên tôi có đề cập đến một vài nghĩa của từ “xuống biển”. Bỏ làm nhà nước để làm tư nhân gọi là “xuống biển”, bỏ con đường lương thiện làm kỹ nữ gọi là “xuống biển”, lẽ nào đó là trùng hợp? Thế nhưng sự phong tình và dã tâm cầu tài, cầu lợi của thương nhân có gì khác với kỹ nữ đây?

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của thành quân ức