Thủy hử @

Lượt đọc: 201 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
nguyên tội(14) của doanh nghiệp

Họ dùng một tấm chứng minh thư giả đi đăng ký thành lập Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Bắc Đẩu Tinh; thuê một tòa nhà lớn sang trọng, hào nhoáng làm văn phòng công ty, rồi buông lưới đợi cá tự chui đầu vào.

Hắn ta được gọi là Tưởng Môn Thần, thì ra có hai tầng ý nghĩa: (1) Đừng thấy hắn ta vẻ ngoài như hung thần, thật ra chỉ như bức họa Môn Thần dán trên cánh cổng, chỉ để dọa người mà thôi; (2) Đẩy cánh cổng đó ra thì bên trong có chủ nhà.

Gặp cường quyền không khuất phục, nhưng khi có tiền có thể dâm dật

Lại nói đến Võ Tòng ở Mạnh Châu. Có người nhận ra Võ Tòng liền báo lại tin cho huyện Dương Cốc. Tri huyện Dương Cốc gửi công văn nhờ Mạnh Châu hỗ trợ bắt Võ Tòng. Võ Tòng đang trong giờ làm việc bỗng nhiên có mười mấy tay bổ khoái xông vào vây chặt cứng lấy anh. Nếu Võ Tòng dùng hết sức chống lại thì từng này bổ khoái cũng chẳng làm được gì, nhưng anh lại không nhẫn tâm làm liên lụy đến công ty và hai vợ chồng Tôn Nhị Nương, Trương Thanh, nên đành bó tay chịu trói.

Phán quan châu nha kiểm chứng danh tính, quê quán Võ Tòng, quả nhiên là tội phạm cần bắt về quy án, nên nhốt anh vào khu lao thành An Bình Trại. Vào lao thành là phải chịu dạy bảo. Cái gọi là dạy bảo này thật ra là một loại nghi thức có tên là “sát uy bổng”, hoặc là bất cứ kiểu đánh đập ngược đãi nào. Phàm là phạm nhân mới vào đều phải chịu sự dạy bảo tàn khốc này, từ đó phải phục tùng những tay anh chị trong ngục. Thế nhưng, Võ Tòng đâu phải phạm nhân dễ chịu khuất phục? Anh không sợ đánh, cũng chẳng ai đánh lại được anh, bất cứ tên tù lợi hại nào cũng phải quỳ xuống dưới chân anh, ngoan ngoãn thành khẩn mời anh nằm giường tốt nhất, ân cần rửa chân, giặt quần áo cho anh. Võ Tòng lập lại trật tự ở An Bình Trại và anh đã trở thành người nổi tiếng nhất trong lịch sử An Bình Trại.

Quản Doanh lão gia (tương đương trưởng giám ngục hiện nay) cũng thầm thấy lạ. Vì quý trọng Võ Tòng, không muốn anh ăn thứ cơm tù nhão nhoét đó, ngày nào cũng chuẩn bị cơm ngon cho anh. Điều khiến mọi người kinh ngạc là bữa nào cũng có một vò rượu ngon, mở nút ra là cả nhà lao thơm nức mùi rượu. Tù nhân nịnh nọt anh: “Hảo hán, anh gặp quý nhân rồi đấy!” Võ Tòng cũng thấy khó hiểu, không biết vị quý nhân đó là ai?

Chỉ vài ngày sau là có lính vào bảo Võ Tòng chuyển phòng. Anh rời khỏi cái chốn hôi hám ngửi mãi cũng quen chuyển tới một căn phòng vô cùng sạch sẽ. Võ Tòng nghĩ bụng: “Đây đâu phải nhà lao, rõ ràng là khách sạn. Không biết quý nhân phương nào lại khoản đãi mình như vậy?” Sau khi tắm, tinh thần sảng khoái, anh đánh một giấc ngon lành. Đến chiều tối, lại có người như thường lệ mang mâm cơm lớn đến, vẫn là một đĩa thịt bò, một đĩa cá rán, một đĩa rau và một vò rượu. Cuối cùng Võ Tòng không kìm được, kéo người đó lại hỏi: “Anh là ai? Tại sao lại đem cơm cho tôi?”

Người đó trả lời: “Hảo hán, tiểu nhân chỉ là nô bộc trong nhà của Quản Doanh Thi lão gia. Tất cả là do công tử nhà tiểu nhân dặn dò.”

Võ Tòng nói: “Mau mời công tử nhà anh đến đây. Người ta vẫn nói không có công không hưởng lộc. Công tử đối đãi tốt như vậy sao tôi có thể nhận?”

Người đó liền đi mời Thi công tử. Đó là một thanh niên trẻ đẹp trai, vừa tới đã hành lễ với Võ Tòng. Anh vội cúi người đáp lễ, nói: “Võ Tòng chẳng qua là một tù nhân, sao có thể nhận ân tình của công tử? Không biết làm thế nào mới báo đáp được?” Thi công tử trầm ngâm một chút, mời Võ Tòng ngồi xuống, rồi nói rất nhiều về sự ngưỡng mộ của mình với Võ Tòng. Qua đó anh biết người này tên là Thi Ân, thích thương giáo, gậy gộc, giang hồ gọi là Kim Nhãn Bưu (15) .

Mấy ngày nữa trôi qua, Võ Tòng nghĩ: “Mình ở trong ngục, người khác toàn ăn thứ cơm chẳng ra gì, còn mình ngày nào cũng có cơm no rượu say, người khác toàn phải đeo cùm để làm việc, còn mình lại nhàn hạ thế này. Dù thế nào thì mình cũng phải làm gì đó để báo đáp mới được.” Rồi anh lại mời Thi Ân đến, để bày tỏ suy nghĩ.

Thi Ân lại trầm ngâm hồi lâu mới nói: “Quả thực em có một nguyện vọng, muốn nhờ đại ca.” Thì ra ở cửa phía đông thành Mạnh Châu là khu Khoái Hoạt Lâm, kinh doanh nhà nghỉ, quán ăn, sòng bạc. Thi Ân cũng có một khách sạn lớn ở đó, mỗi tháng cũng kiếm được vài trăm lượng bạc.

Không ngờ có một tên ác bá từ Đông Lộ Châu đến, tự xưng Tưởng Môn Thần, vì thích khách sạn này nên đòi Thi Ân chuyển nhượng. Thi Ân không đồng ý, thế là Tưởng Môn Thần đến gây sự, đánh cho Thi Ân hai tháng không lết ra khỏi giường, và chiếm không Khoái Hoạt Lâm. Thi Ấn làm lễ với Võ Tòng, nói: “Nếu được đại ca giúp đỡ, dạy cho tên ác bá kia một bài học, như vậy thì em được hả lòng hả dạ!”

“Chuyện đó dễ thôi! Thật hiếm có công tử lại coi tôi là đại ca, việc đó cứ để tôi!” Trong lòng Võ Tòng tràn đầy nhiệt huyết, anh lập tức hứa hẹn.

Nhớ năm xưa Mạnh Phu Tử từng nói: “Giàu sang không dâm dật, nghèo hèn không đổi lòng, gặp cường quyền không khuất phục, đó chính là đại trượng phu”. Thế giới bây giờ, tôn sùng chủ nghĩa anh hùng, chỉ coi trọng việc gặp cường quyền không khuất phục, cũng tôn sùng kinh tế học, trong mắt chỉ có lợi ích, nếu nghèo khó chắc chắn có thể thay đổi lòng dạ, nếu giàu có là chắc chắn có thể dâm dật. Tuy Võ Tòng là tù nhân nhưng cũng là một hảo hán gặp cường quyền không khuất phục, lẽ nào chỉ cần vài bữa ăn ngon, vài câu nịnh nọt là bị tiểu công tử của quản doanh lão gia mua chuộc?

Uống say đánh Tưởng Môn Thần

Lại nói Võ Tòng nhận sự phó thác của Thi Ân, nghĩ bụng: “Thật hiếm có công tử nào lại coi trọng mình như vậy. Đã nhận lời rồi thì không thể phụ lòng cậu ta được.” Lật người một cái lại nghĩ: “Cậu ta muốn mình làm việc, cũng tốn không ít công sức. Trước tiên là ra uy khiến mình rơi vào tình cảnh thê thảm rồi phải thần phục. Sau đó là ban hậu ân để mình phải cảm kích. Võ Tòng ta đường đường là một anh hùng, phải báo đáp cậu ta cho tử tế mới được, không thể mang danh vong ân phụ nghĩa.” Trở mình cái nữa lại nghĩ: “Cậu ta đã tốn rất nhiều công sức, mình cũng phải vạch kế hoạch, một để báo đáp ân tình của cậu ta, hai là nhân cơ hội này đánh bóng tên tuổi của Võ Tòng mình.” Cứ thế trằn trọc suốt đêm, đến gần sáng mới chìm vào giấc ngủ.

Ngày hôm sau anh liền nói với Thi Ân: “Hôm qua công tử nói đến sự hung hăng của Tưởng Môn Thần khiến ai cũng phải khiếp sợ. Hôm nay tôi sẽ đi gặp hắn, dù hắn có ba đầu sáu tay thì tôi cũng sẽ cho hắn nếm mùi nắm đấm của tôi. Nhưng tôi cần có rượu ngon để khích lệ tinh thần.”

Thi Ân nói: “Rượu ngon có ở Mạnh Châu này, loại nào em cũng có và sẽ chuyển hết về cho đại ca. Dù là rượu ở Đông Kinh em cũng sẽ cho ngựa cấp tốc đi lấy về. Không biết đại ca muốn loại rượu nào?”

Võ Tòng khảng khái: “Võ Tòng tôi không cần rượu ngon ở vùng khác. Ra khỏi thành, cứ gặp quán rượu nào, công tử hãy mời tôi uống ba bát.”

Thi Ân nghĩ một lát rồi nói: “Từ cửa phía đông Mạnh Châu đến Khoái Hoạt Lâm, ít cũng phải mười bốn, mười lăm dặm đường, mười hai, mười ba quán rượu. Nếu mỗi quán đều uống ba bát thì cũng phải ba bốn chục bát. Chỉ sợ đại ca sẽ say bí tỉ, như vậy làm sao đánh được Tưởng Môn Thần?”

Võ Tòng nói: “Công tử không biết đấy thôi, cứ uống một phần rượu là bản lĩnh của tôi lại tăng thêm, nếu có mười phần rượu thì thành anh hùng dời núi. Khi ở đồi Cảnh Dương, tôi cũng uống mười tám bát rượu mới đánh chết được một con hổ to. Công tử cứ làm theo lời tôi, uống suốt dọc đường đi, công tử sẽ được chứng kiến cảnh tượng uống say đánh Tưởng Môn Thần.”

Thi Ân nghĩ bụng, anh ta nói cũng có lý. Nếu rượu có thể khiến anh hùng thêm gan dạ thì mình cứ cho anh ta uống. Ngầm sắp xếp thêm một hai chục tên cao to đi theo từ xa, chẳng may có bất trắc gì còn kịp tiếp ứng.”

Ngày hôm sau, Võ Tòng cùng Thi Ân rời khỏi An Bình Trại, đi về cửa phía đông. Ra khỏi cổng thành, không quá ba trăm bước là thấy bên đường có một quán rượu treo biển “Tề Đông Các”. Ở đó đã có ông chủ chờ sẵn và một ban nhạc biểu diễn trợ hứng. Ông chủ kính một bát rượu, Võ Tòng uống một bát, ban nhạc lại biểu diễn một bài. Ba bát rượu là ba bài nhạc. Uống hết rượu, tiếp tục lên đường, lại một bài nhạc vang lên. Đi không lâu lại gặp một quán rượu, lại ba bát rượu, lại ba bài nhạc. Chỉ một đoạn đường mười bốn mười lăm dặm quả nhiên có hơn một chục quán rượu, Võ Tòng uống vô cùng hưng phấn, ca hát nhảy múa ngay trên đường.

Đến giữa trưa, trời nắng nóng, có gió nhẹ thổi qua. Võ Tòng chỉ sáu bảy phần say nhưng lại giả vờ say bí tỉ, bước chân loạng choạng như không thể đứng vững được nữa. Những người quanh đó đều vừa cười vừa bàn tán. Thi Ân chặn mọi người lại, nói với Võ Tòng: “Quán rượu ở ngã ba trước mặt là chỗ của Tưởng Môn Thần rồi. Đại ca say thế này hay là để hôm khác đến.”

Võ Tòng gạt đi: “Đã đến đây rồi, vừa hay tôi có thể thi triển quyền cước. Mọi người cứ đợi ở đây, để tôi đánh gục hắn ta rồi mọi người đến thu dọn hiện trường.” Nói rồi, Võ Tòng chân nam đá chân chiêu lao về phía trước. Xuyên qua một khu rừng quả nhiên nhìn thấy một quán rượu, ở cửa treo tấm biển quảng cáo viết bốn chữ “Hải Dương Phong Nguyệt”. Đến gần lại thấy một đôi câu đối: “Túy lí càn khôn đại, hồ trung nhật nguyệt trường” (Dịch nghĩa: Trong cơn say thấy càn khôn to lớn, bên bình rượu thấy ngày tháng rộng dài). Võ Tòng nghĩ bụng: “Càn khôn của mình đúng là lớn, còn nhật nguyệt của hắn ta thì lại ngắn.”

Bước vào cửa, chỉ thấy bên cạnh tường là ba chum rượu to xếp thành hàng ngang. Đằng sau quầy là một người phụ nữ trẻ tuổi xinh đẹp, đó chính là người vợ bé mà Tưởng Môn Thần mới cưới về. Võ Tòng lảo đảo vịn vào ghế ngồi xuống, trong đầu đã lên sẵn kế hoạch.

“Ông chủ!” Võ Tòng đập bàn: “Cho hai vò rượu ngon!”

Cậu bồi bàn lập tức ra chum múc hai vò rượu. Võ Tòng uống một ngụm rồi lập tức phun hết ra ngoài, gắt lên: “Như nước đái ngựa, ai mà uống được? Đổi cho ta!” Cậu ta lại đi lấy vò khác, Võ Tòng dùng cách cũ, phun hết lên người cậu ta, quát: “Đây mà là rượu ngon à? Ngươi ức hiếp ta đấy hả?”

Vợ bé của Tưởng Môn Thần ngồi trong quầy thấy vậy định nổi điên lên, thì cậu bồi bàn vuốt mặt tiến lại gần khuyên: “Khách hàng say rồi, đổi cho anh ta vò khác cho yên ổn.” Cô vợ bé cố nhịn, múc một vò rượu ngon đưa cho cậu bồi bàn.

Võ Tòng ở bên cạnh nghe thấy, nghĩ bụng: “Cậu bồi bàn ở đây là người tốt, mình không thể làm khó cậu ta.” Thế là chỉ vào bà chủ: “Cô thật xinh đẹp, lại đây uống rượu với ta!” Cậu bồi bàn cười trừ, nói: “Không được đâu ạ, đây là bà chủ của chúng tôi.” Võ Tòng lại đập bàn, quát lên: “Bà chủ thì làm sao? Vào đây đều là khách hàng, đều là thượng đế, uống cùng ta một bát rượu thì làm sao?”

Cô vợ bé của Tưởng Môn Thần không nhịn được nữa, ngoác mồm mắng: “Tên khốn kiếp ở đâu đến, muốn bị đánh đấy phải không?!” rồi cô ta cầm một cây chổi chạy ra. Võ Tòng vung tay tóm chặt vạt áo phía trước của cô ta, tay kia đoạt mất cây chổi. Cô ta muốn giãy ra nhưng nào có được? Chỉ thấy Võ Tòng hai tay ôm lấy eo cô chủ quán nhấc lên cao rồi ném mạnh về phía tường. Cô ta rơi tùm vào chum khiến rượu bắn tung tóe. Mấy người bồi bàn sững sờ đứng nhìn, có người hoảng loạn chạy trốn, có người thì đi gọi Tưởng Môn Thần.

Võ Tòng đuổi ra đến cửa thì thấy trước mặt xuất hiện một người cao to dữ dằn, nghĩ bụng: “Đây chính là Tưởng Môn Thần rồi! Nhìn như hung thần thế kia sao làm ăn được chứ?” Nhưng cũng không dám chậm trễ, tay trái nắm lại thành quyền, đưa về sau che chắn cho phần hông; tay phải hơi giơ lên rồi nghiêng người về bên phải, đứng thành tư thế của chiêu “Phiên Thiên Thủ”. Võ Tòng muốn tái hiện lại sự uy phong khi đánh hổ để dạy cho Tưởng Môn Thần một bài học.

Quy tắc ngầm giữa quan lại và thương nhân

Lại nói Tưởng Môn Thần thấy Võ Tòng bước chân loạng choạng thì coi thường, xông tới định động thủ. Kể lại thì lâu nhưng thật ra mọi việc diễn ra rất nhanh, Võ Tòng hươ hai nắm đấm trước mặt Tưởng Môn Thần một vòng rồi đột nhiên quay người đi. Tưởng Môn Thần nổi điên, đuổi theo, nhưng lại bị Võ Tòng quay người đá một phát vào bụng. Tưởng Môn Thần không kịp đề phòng, cuống cuồng tóm lấy chân Võ Tòng, ai ngờ chân kia của Võ Tòng lại tung lên đá trúng trán Tưởng Môn Thần. Hắn ta ngã ngửa ra sau, Võ Tòng tiến lên một bước giẫm chân lên ngực hắn, giơ nắm đấm lên nhằm vào mặt hắn mà đấm. Nắm đấm đó đã đánh chết cả hổ, Tưởng Môn Thần chịu sao nổi? Hắn kêu toáng lên xin tha mạng.

Võ Tòng quát: “Muốn ta tha cho phải làm ba điều.”

Trong lúc đó, Thi Ân dẫn tới hơn hai chục tên tay chân cao to lực lưỡng. Võ Tòng chỉ vào Thi Ân, nói: “Quán rượu này vốn dĩ ngươi cưỡng chiếm của người ta, ngươi phải trả lại cho chủ cũ là Thi công tử đây.” Tưởng Môn Thần liên mồm nói: “Không vấn đề gì, không vấn đề gì! Hôm nay tôi trả lại cho anh ta!”

“Thứ hai, ngươi cùng ta đi mời hết những người có máu mặt ở Khoái Hoạt Lâm này đến đây, trước mặt mọi người, ngươi hãy tạ tội với Thi công tử.”

“Được, được! Tôi đi mời họ ngay!”

“Khoan đã!” Võ Tòng giẫm mạnh hơn, Tưởng Môn Thần đau đến mức mồ hôi túa ra đầm đìa. Võ Tòng nói: “Còn việc thứ ba, sau khi tạ tội, ngươi lập tức cút khỏi Khoái Hoạt Lâm, cút khỏi Mạnh Châu cho ta, cút càng xa càng tốt, không được lưu lại đây một phút nào!”

Tưởng Môn Thần đành phải đồng ý, bò dậy kéo cô vợ bé ướt nhẹp từ trong chum rượu ra. Thay quần áo xong mặt mày ủ rũ đi mời khách. Mọi người thấy bộ dạng thảm hại của Tưởng Môn Thần đều giật mình kinh ngạc.

Đến quán thì thấy Võ Tòng ngồi trên ghế ngủ, còn Thi Ân thì vẻ mặt đầy hoan hỷ ca ngợi uy danh của Võ Tòng với mọi người. Lúc này mọi người mới biết thì ra anh hùng đánh hổ đã đến, đến lượt Tưởng Môn Thần xui xẻo. Thế là Kim Nhãn Bưu lại làm chủ nhân của Khoái Hoạt Lâm. Từ đó uy danh Võ Tòng chấn động khắp xa gần, anh hùng từ các nơi tấp nập đến bái kiến.

Tôn Nhị Nương ở gò Thập Tự nghe được tin đó vội bảo Trương Thanh mời Võ Tòng về nhà mấy hôm. Khi đã ngà ngà say Võ Tòng bộc bạch: “Lần này em lại lĩnh ngộ được một điều. Làm kinh doanh không chỉ cần có sản phẩm tốt, nơi bán hàng tốt, cách thức quảng bá tốt, mà còn cần sức mạnh của quan phủ. Hôm nay kết giao được với Thi Ân, Thi lão gia nhà công tử ấy chính là bá phụ của chúng ta, sau này chắc chắn có lợi cho sự phát triển của công ty.” Đây chính là quan điểm của chuyên gia kinh tế Mỹ, Philip Kotler (16) . Ngoài sản phẩm (Product), giá cả (Price), địa điểm (Place), xúc tiến thương mại (Promotion), ông đã bổ sung thêm sức mạnh chính trị (Power) và quan hệ công chúng (Public Relations), biến 4P thành 6P. Từ đó có thể thấy, bất luận xưa hay nay, trong hay ngoài nước, bất luận bạn có giàu nhất thế giới hay không, trước mặt những quan chức nắm trong tay quyền thế thì bạn cũng vô cùng nhỏ bé.

Phải nói là Thi lão gia cũng rất cảm động trước ân tình của Võ Tòng, đi rất nhiều cửa để xin cho Võ Tòng thoát tội. Còn về việc làm thế nào mà thoát được thì đó đương nhiên là bí mật. Ông còn chuyển rất nhiều việc làm ăn ở lao thành An Bình Trại cho Võ Tòng, còn lần lượt giới thiệu anh với bạn bè trên quan trường. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Bánh bao Hoa đào với sự hợp tác của Võ Tòng và vợ chồng Tôn Nhị Nương, Trương Thanh từ đó phát triển thuận buồm xuôi gió, bước vào thời kỳ phồn vinh.

Ai ngờ, tuy Tưởng Môn Thần thất bại đi tha hương nhưng hắn đã trở thành hậu họa của Võ Tòng. Hắn có tên là Tưởng Môn Thần, thì ra có hai tầng nghĩa (1) Đừng thấy hắn ta vẻ ngoài như hung thần, thật ra chỉ như bức họa Môn Thần dán trên cánh cổng, chỉ để hù dọa người khác mà thôi; (2) Đẩy cánh cổng đó ra thì bên trong có chủ nhà. Bạn hỏi chủ nhân của hắn là ai? Cũng là một vị quan phủ quan trọng. Vì thế, Võ Tòng đã đắc ý quá sớm mà không biết vẫn còn nhiều điều không hay đang chờ đợi anh.

Anh ta lấy đâu ra tiền mà tiêu đúng lúc thế?

Lại nói đến Tống Giang, Áp Ty của huyện Vận Thành, sau khi từ Mạnh Châu trở về, ngày nào cũng công việc ngập đầu, loáng cái đã một năm qua đi. Chức Áp Ty có lẽ tương đương với chủ nhiệm văn phòng ủy ban nhân dân huyện bây giờ, trong cơ cấu tổ chức của triều nhà Tống, chỉ là một chức quan rất nhỏ. Tuy chức nhỏ nhưng thực quyền rất lớn, lại tinh thông văn chương, thành thục đường quan trường, biết cách trục lợi, biết ứng phó với cả hắc bạch đạo. Nếu có hảo hán trên giang hồ đến tìm, bất luận là cao thấp sang hèn thế nào anh cũng tiếp đãi ân cần, dù có khó khăn về tài chính anh cũng khảng khái mở hầu bao. Anh cũng thường xuyên hòa giải tranh chấp, giải quyết khó khăn, cứu tế cho dân chúng. Dân gian vì thế mà lưu truyền ân đức của anh, so sánh anh với Cập Thời Vũ (17) , có thể cứu vạn vật trong cơn khát.

Trưa hôm nay, Tống Giang ra khỏi huyện nha thì gặp một người hành lễ hỏi thăm mình. Tống Giang thấy người đó mặc đồng phục, cũng phần nào đoán ra được thân thế của anh ta. Nói chuyện thì người đó tự xưng là Tập bổ sứ thần của Tế Châu Phủ (tương đương với Cục trưởng công an thành phố), tên là Hà Đào. Huyện Vận Châu thuộc Tế Châu Phủ, đối với Tống Giang thì Hà Đào là người cấp trên xuống, lập tức mời anh ta đến trà lầu đối diện với huyện nha nói chuyện.

Nói chuyện mãi thì ra là một vụ án lớn kinh thiên động địa. Trước đây không lâu, Lương Trung Thư của Đại Danh Phủ đi mua quà sinh nhật thì bị một công ty túi da trên đồi Hoàng Nê lừa. Lương Trung Thư tên thật là Lương Thế Kiệt, là Trung Thư Thị Lang đương triều kiêm Lưu Thủ của Đại Danh Phủ (tương đương với Phó chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch thành phố hiện nay). Số tiền bị lừa nghe nói đến mười vạn quan tiền. Mười vạn quan là bao nhiêu? Ở triều Tống, một quan tiền tương đương với một lạng bạc, mười vạn quan là bằng mười vạn lạng bạc. Nếu ở năm 2000 sau Công Nguyên, một lạng bạc tương đương ba trăm nhân dân tệ, mà hiện giờ lại đang lạm phát, một lạng bạc ít nhất phải bằng tám trăm tệ, mười vạn quan là bằng tám mươi triệu tệ. Thân thế của Lương Trung Thư không tầm thường, số tiền bị lừa cũng không nhỏ. Tế Châu Phủ nhận được báo án, đầu cũng phình to cả ra.

Tống Giang hỏi: “Vụ án lớn như vậy có liên quan gì đến huyện tôi sao?”

Hà Đào đáp: “Chúng tôi đã điều tra được một số manh mối, bảy tên bị tình nghi đều ở quý huyện. Trong đó một tên chủ mưu là Bảo Chính (tương đương với trưởng thôn ngày nay) của Đông Khê Thôn, Tiều Cái. Còn sáu kẻ nữa, không biết là những ai?”

Tống Giang nghe vậy không khỏi giật mình, nghĩ bụng: “Tiều Cái là anh em tâm phúc của ta, nhưng lại phạm phải tội tày đình như vậy, ta phải nghĩ cách cứu hắn.” Nhưng bên ngoài vẫn cười rất tươi: “Cái tên Tiều Cái ấy hả, tính tình đúng là ngang ngược. Trên dưới bản huyện chẳng ai có thiện cảm với hắn. Giờ hắn phạm phải đại tội, đúng là đáng đời.” Rồi anh nói thêm vài điều vừa xoa dịu Hà Đào, vừa tìm cớ về xử lý việc gia đình. Ra khỏi trà lầu, Tống Giang vội vàng đến Đông Khê Thôn báo tin cho Tiều Cái, rồi lại vội vàng trở về đúng giờ làm việc buổi chiều để đưa Hà Đào đến gặp tri huyện Thời Văn Bân.

Thưa độc giả, tại sao Tống Giang lại phải cứu Tiều Cái? Một là vì cái mỹ danh anh hùng của Tiều Cái, hai là vì giao tình giữa Tống Giang và Tiều Cái. Đông Khê Thôn và Tây Khê Thôn chỉ cách nhau một con sông nhỏ. Hồi đầu Tây Khê Thôn có ma quỷ, thường xuyên mê hoặc người ta đến nhảy sông tự tử khiến dân chúng vô cùng hoang mang. Được sự chỉ điểm của một vị cao tăng, mọi người dùng đá xanh xây nên một ngọn bảo tháp bên sông. Thế là ma quỷ từ Tây Khê Thôn chạy sang Đông Khê Thôn. Tiều Cái nổi giận, vượt sông đoạt ngọn bảo tháp kia đặt bên Đông Khê. Người Tây Khê Thôn tức giận mà không dám nói gì, còn người Đông Khê Thôn ai nấy cũng khâm phục, từ đó gọi Tiều Cái là Thác Tháp Thiên Vương, được hảo hán bốn phương kính trọng. Tống Giang và Tiều Cái thường xuyên phải trao đổi công việc, nên quan hệ cũng khá thân thiết.

Giang hồ đồn rằng, năm năm trước huyện Vận Thành tu sửa tường thành góc tây bắc, muốn giao công trình này cho đội xây dựng, có Ngưu Hoàng, Mã Bảo, Tiều Cái đến đấu thầu. Ngưu Hoàng bỏ thầu năm nghìn bốn trăm lượng bạc, Mã Bảo bảy nghìn sáu trăm lượng, Tiều Cái mười nghìn chín trăm lượng, cuối cùng Tiều Cái đã giành được gói thầu này. Có người nói, sau khi nhận được thầu, Tiều Cái lại chuyển nhượng cho Ngưu Hoàng và nhận được lợi nhuận năm nghìn năm trăm lượng. Cũng có người nói năm nghìn năm trăm lượng lợi nhuận này ít nhất có ba nghìn rơi vào túi Tống Giang. Từ đó có thể thấy, ngoài bổng lộc triều đình, Tống Giang còn có rất nhiều nguồn thu nhập không thể kể rõ được, nếu không thì với chức quan nhỏ bé đó anh ta lấy đâu ra tiền mà tiêu pha như thế?

Các anh hùng nhiệt tình tiếp đón đoàn người Dương Chí

Tin Lương Trung Thư mua quà mừng thọ cho nhạc phụ là thái sư đương triều Thái Kinh lộ ra ngoài, không lâu sau Nhập Vân Long Công Tôn Thắng biết được. Nghĩ trước nghĩ sau, lại được biết ở Đông Khê Thôn, huyện Vận Thành có một vị Thác Tháp Thiên Vương Tiều Cái vô cùng anh hùng, nên có ý kết giao. Cùng lúc đó Xích Phát Quỷ Lưu Đường cũng đến Đông Khê Thôn.

Tiều Cái, Công Tôn Thắng, Lưu Đường, Nguyễn Thị Tam Hùng (18) và Trí Đa Tinh Ngô Dụng tụ họp tại Đông Khê Thôn bàn mưu để cướp quà. Ngô Dụng trầm ngâm nói: “Nếu đã mua quà mừng thọ thì chắc chắn phải đến đồi Hoàng Nê.” Đồi Hoàng Nê chính là nơi buôn bán đồ cổ lớn nổi tiếng gần xa. Họ quyết định dùng một tấm chứng minh thư giả đi đăng ký thành lập Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Bắc Đẩu Tinh; rồi thuê một tòa nhà lớn sang trọng, hào nhoáng làm văn phòng công ty, và buông lưới đợi cá tự chui đầu vào.

Người tìm đến mua hàng là một vị quan quân tên là Dương Chí, chính là Thanh Diện Thú Dương Chí. Anh đến Đông Kinh để kiếm một chức quan nhưng gặp trắc trở, phải bán đi thanh bảo đao gia truyền. Nhưng ở chợ anh gặp phải Một Mao Đại Trùng Ngưu Nhị đòi cướp bảo đao. Đương nhiên Dương Chí không chịu, liền xông vào đánh, không may Ngưu Nhị chết, anh bị giải đến Đại Danh Phủ. Không ngờ ở đó lại gặp Lương Trung Thư. Lương Trung Thư biết anh, lại coi trọng võ nghệ của anh, liền sắp xếp cho anh làm chức Đề Hạt.

Tiều Cái với tên giả là Hoàng Kỳ, cùng các anh hùng nhiệt tình tiếp đãi đoàn người Dương Chí. Còn Dương Chí nhìn thấy sự bề thế của công ty Bắc Đẩu Tinh cũng đã khá tin tưởng. Sau khi ký xong hợp đồng với Dương Chí, các anh hùng mời Dương Chí sang khách sạn bên cạnh dự tiệc. Ban đầu Dương Chí còn thận trọng, nhưng sau đó không nỡ từ chối nên đành uống vài ly. Không ngờ trong rượu có thuốc mê nên cả đoàn hôn mê bất tỉnh. Các anh hùng nẫng sạch mười vạn quan tiền và trốn mất không để lại dấu vết gì.

Người bị lừa không chỉ có Dương Chí. Công ty trang trí nội thất còn một khoản lớn chưa thu. Bên bán đồ dùng nội thất vì bán trả góp nên mới chỉ nhận một khoản ứng trước, cũng may là đồ dùng chưa bị bọn lừa đảo đem đi mất, vẫn có thể thuê người chở về được.

Khi Dương Chí tỉnh lại, biết mình đã mắc tội không làm tròn chức trách, đành bỏ trốn. Những đồng nghiệp khác vội vàng báo án, sau khi điều tra phát hiện Hoàng Kỳ, đại diện pháp nhân của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Bắc Đẩu Tinh thật ra là Tiều Cái nổi tiếng khắp huyện Vận Thành.

Tiều Cái và các anh hùng về tới Đông Khê Thôn, chưa kịp chia tang vật thì bị phát hiện. Bọn họ bàn bạc: “Cũng may là có người anh em Tống Giang báo tin, chúng ta phải nhanh chóng trốn đi.” Nhưng trốn đi đâu bây giờ? Các anh hùng đều đợi ý kiến của Tiều Cái.

Tiều Cái nói: “Trước khi đi, anh Tống Giang đã nói có một vài nơi có thể đến, một là đến chỗ Sài Tiến ở Thương Châu, hai là chỗ Võ Tòng ở Mạnh Châu. Sài Tiến vốn là hoàng thất tiền triều, khá có quyền thế, chắc chắn có khả năng thu nhận chúng ta. Còn Võ Tòng, gần đây mới nổi lên ở Mạnh Châu, cũng khá có danh tiếng. Chúng ta bàn xem nên đi đâu?”

Trí Đa Tinh Ngô Dụng trầm ngâm nói: “Việc quá cấp bách có lẽ không đến được Thương Châu, cũng không đến Mạnh Châu được. Chỉ có Lương Sơn là gần ngay đây, xung quanh có sông ngòi lau sậy chằng chịt rộng đến tám trăm dặm, là nơi ẩn náu an toàn.”

Các anh hùng đều nhất trí với ý kiến của Ngô Dụng. Họ cất chỗ hàng tiền cướp được vào năm sáu cái gánh, ăn vội mấy miếng rồi lấy thêm chút hành lý, thuê cửu vạn gánh đồ và vội vàng ra đi. Hà Đào cũng muốn nhân trời tối đến bắt người nhưng không ngờ lại bắt hụt.

Chương này được viết dựa theo Hồi thứ 29 “Võ Tòng say đánh Tưởng Môn Thần”, Hồi thứ 16 “Ngô Dụng dùng mưu lấy lễ vật” và Hồi thứ 18 “Tống Công Minh lén thả Tiều Thiên Vương”.

Trong chương này, tôi mượn việc Võ Tòng say đánh Tưởng Môn Thần để dẫn ra thuyết 6P của chuyên gia kinh tế Mỹ Philip Kotler. Sau đó, tôi dùng thuyết 6P để chỉ ra tội danh của nhà doanh nghiệp. Rồi lại qua đó dẫn ra một vị quan nghĩa khí dùng tiền túi giúp đỡ mọi người. Vị quan này không phải ai khác, chính là Tống Giang nổi tiếng thiên hạ, được mọi người gọi là Cập Thời Vũ, hoặc “Hiếu Nghĩa Hắc Tam Lang”.

Lý Chí (19) đã từng nhận xét như sau về các nhân vật trong Thủy Hử : “Nói đến dâm phụ là như một dâm phụ, nói hảo hán là hệt như hảo hán, nói tên ngốc thì đúng là tên ngốc, nói đến khỉ là y như khỉ. Nhưng khi đọc qua rồi, hình ảnh của dâm phụ, hảo hán, tên ngốc hay con khỉ vẫn như hiển hiện trước mắt, tiếng nói của họ dường như vẫn văng vẳng bên tai. Thế gian này mà thiếu đi những lời văn như vậy thì thật cô đơn! Không biết Thái Sử Công có làm quan nha không?” Kim Thánh Thán lại cho rằng, các nhân vật trong bộ truyện này, viết ai cũng dễ, chỉ có Tống Giang là khó viết.

Các nhân vật của Thi Nại Am tốt xấu thế nào đều nhận ra được, duy chỉ có Tống Giang là khó nhận xét nhất. Đọc lần thứ nhất, Tống Giang quả nhiên là nhân sĩ đại nhân đại nghĩa. Đọc lần hai lại phát hiện ra đó là một người rất có trí tuệ trong ứng xử, thì ra nhân nghĩa là giả, lão luyện trong xử thế mới là thật. Đọc thêm lần nữa phát hiện ra rằng đó là một con người gian xảo, tà ác. Đọc lần nữa thì không phân biệt được đó là người nhân nghĩa hay tà ác nữa. Đành gập sách lại với một tâm trạng phức tạp.

Lại nói trong số rất nhiều nhân vật sống động trong Thủy Hử , Tây Môn Khánh kia dù có phong lưu khôn khéo đến đâu thì cũng không sánh được với Tống Giang. Võ Tòng dùng bạo lực để đối phó với Tây Môn Khánh, nhưng lại vô cùng khâm phục, kính trọng Tống Giang. Sự xuất hiện của Tống Giang cùng với những thủ đoạn “hô phong hoán vũ” lại khiến người đọc cảm thấy gần gũi vô cùng.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của thành quân ức