Việc Negishi Fumie ngã chết khiến tất cả mọi thứ xáo trộn, bữa tiệc trà lúc hơn 3 giờ chiều bị hủy.
Sau khi thông báo với khách khứa là họ có thể tự do hoạt động từ giờ cho đến trước bữa tối, vị chủ nhân đeo mặt nạ nhốt mình trong phòng riêng. Yurie không thể ở một mình trên tháp nhưng cũng không vào phòng Kiichi, cô ngồi thu mình trên sofa trong phòng ăn, không nói lời nào. Quản gia Kuramoto đành đi chuẩn bị bữa tối, đây vốn là việc của cô giúp việc bất hạnh. Sau khi sắp xếp ổn thỏa cho các vị khách, ông chui ngay vào bếp, lạnh lùng lướt xem cuốn sách nấu ăn lấy từ phòng của Fumie.
Lúc sẩm tối, mưa to gió lớn không hề suy giảm. Cảnh sát gọi điện nói đường núi bị sạt lở nên họ không thể đến đây ngay. Tâm trạng những người ‘bị nhốt’ trong Thủy Xa Quán đều hết sức nặng nề.
Sau đó…
• • •
Ở góc Đông Nam khu nhà, trong một căn phòng ở tầng 2 nhà ngang, nằm đối diện với cầu thang…
Masaki Shingo, bạn cũ của Fujinuma Kiichi đã ở đây được nửa năm nay.
Nhà ngang có cả thảy năm căn phòng dành cho khách, được đánh số từ 1 đến 5. Ba căn phòng ở tầng 1 được đánh số 1, 2, 3 từ Nam lên Bắc🖼, phòng 4 và 5 ở trên tầng 2🖼. Hằng năm, khi khách đến viếng thăm, chủ nhân ngôi nhà thường bố trí cho họ phòng ở cố định, cụ thể là: Oishi, Mitamura, Mori phòng 1, 2, 3. Furukawa thường ở phòng 4 tầng 2, nhưng vì năm nay Masaki dọn vào phòng số 4, nên Furukawa đành chuyển sang phòng số 5.
Phòng số 4 được bài trí theo phong cách châu Âu, rộng hơn 10 chiếu*, sàn trải thảm cao cấp màu xanh rêu, trần ốp gỗ, tường dán giấy màu kem, trổ hai ô cửa sổ lật bố cục cân đối, có hơi nhỏ so với diện tích căn phòng. Rèm cửa cùng màu với thảm. Góc trái căn phòng là cánh cửa thông sang phòng tắm rộng rãi.
Có tiếng gõ cửa dè dặt vang lên.
Thoạt đầu, Masaki ngỡ chỉ là tiếng gió thổi, nhưng một lát sau tiếng động đó lại vang lên lần nữa.
Anh đang ngồi bên bàn làm việc kê ở góc phòng, lơ đễnh hút thuốc, nghe thấy tiếng gõ cửa bèn từ từ đứng dậy.
“Ai đấy?”
“Tôi là Furukawa.” Giọng bên ngoài rất khẽ.
Masaki liền ra mở cửa.
Furukawa Tsunehito là một người đàn ông gầy gò, dáng vẻ khiêm nhường. Người dong dỏng, gò má cao, vì đầu cạo trọc nên đường nét khuôn mặt càng thêm góc cạnh. Mặt mũi đứng đắn, sáng sủa, nhưng sắc mặt rầu rĩ lúc này đã phá hủy vẻ điển trai đó.
“Xin lỗi, tôi vào được không?” Furukawa dừng ngoài cửa, thận trọng hỏi.
Masaki mỉm cười mời khách vào phòng. “Anh cứ tự nhiên.”
“Cảm ơn.”
Furukawa rón rén ngồi lên chiếc ghế có tay vịn trước bàn. Anh mặc áo vải gai dài tay và quần dài màu đen nhàu nhĩ, trên người tỏa ra mùi hương là lạ như mùi khói nhang.
“Tôi sang chỗ anh cũng không phải vì có việc gì gấp, ngoài trời mưa gió khiếp quá, lại mới xảy ra chuyện kia nên tôi không muốn ngồi trong phòng một mình…”
“Không sao, tôi cũng đang định tìm người để trò chuyện.” Masaki ngồi đối diện với Furukawa. “Phòng anh đang thắp hương à?”
Furukawa không trả lời mà hỏi lại Masaki. “Chắc anh không thích thứ mùi này?”
“Không phải thế. Anh là phó trụ trì một ngôi chùa ở Takamatsu phải không?”
“Vâng. Chùa quê nghèo nàn rách nát thôi ạ.” Trên khuôn mặt xương xương của Furukawa nở nụ cười tự ti. “Chẳng qua ở đó có bài vị tổ tiên nhà Fujinuma, nếu không, một người như tôi sao có thể được mời đến đây.”
“Nghe nói phụ thân anh và thầy Fujinuma Issei có quan hệ rất thân thiết?”
“Đúng thế. Cũng vì vậy mà tôi chịu ảnh hưởng từ người lớn, rất ngưỡng mộ các tác phẩm của ngài Issei. Tôi vốn hứng thú với mỹ thuật, mong được làm những việc liên quan đến mỹ thuật, nhưng lại bất đắc dĩ phải chiều theo ý cha…”
“Ra là thế…”
“Anh Masaki vốn là đệ tử của ngài Issei nhỉ?” Furukawa ngẩng đầu nhìn người ngồi đối diện.
“Ai nói cho anh hay à?”
“Không phải thế, tôi có nghe danh anh mà, cũng từng xem tranh của anh.”
“Cảm ơn anh.”
“Tôi còn nhớ anh từng mở triển lãm tranh ở Osaka. Hồi đó…”
“Đã lâu lắm rồi.”
“Tôi nhớ rất rõ, so với những bức tranh phong cảnh huyễn hoặc loang màu tinh tế của ngài Issei, tranh của anh… nên nói thế nào nhỉ, lại là tổ hợp bất ngờ của những sắc màu dữ dội.”
“Đó là chuyện ngày xưa.” Masaki dứt khoát ngắt lời Furukawa. “Hơn mười hai năm trước, xưa lắm rồi.”
“…”
Furukawa nhận ra mình đã khơi lại những hồi ức không vui của Masaki, anh vươn tay chỉnh lại cổ áo, sửa tư thế ngồi cho ngay ngắn.
“Xin lỗi, tôi không nên nhắc đến chuyện này…”
“Không sao.”
Masaki đứng dậy, bước lại gần bàn, cầm bao thuốc lên.
“Có lẽ anh cũng biết, tôi đã gác bút từ mười hai năm trước rồi, từ đó đến nay không vẽ thêm một bức tranh nào nữa.”
“Chắc do vụ tai nạn xe hơi năm xưa?”
“Vâng. Khi đó tôi ngồi trong xe, cả người yêu của tôi nữa.”
Masaki đưa điếu thuốc lên môi rồi thở dài. Hình ảnh Hotta Keiko yêu dấu như chợt hiện về trước mắt anh.
“Cô ấy tắt thở ngay tại hiện trường. Còn Kiichi thì mặt mũi, tứ chi và cả xương sống đều bị tổn thương rất nặng, từ đó trở đi, anh ấy về ẩn cư ở đây. Tôi tuy may mắn thoát chết nhưng vẫn phải hứng chịu di chứng, từ đó không thể vẽ gì được nữa.”
“Thế ư? Nhưng anh đâu có…”
“Trông tôi có vẻ khỏe mạnh nên anh cho rằng tôi không bị thương chứ gì?” Masaki miệng ngậm điếu thuốc, hai tay dang ra đầy châm chọc. “Thực ra, tôi tã lắm rồi, chưa tàn mà đã phế, sống như đồ bỏ đi.”
“Anh đừng nói vậy.”
“Xin lỗi không phải tôi cằn nhằn với anh đâu. Mười hai năm rồi, âu cũng là số phận.”
Masaki bất giác cắn môi. Lúc này anh nhận ra ánh mắt Furukawa đang dừng trên tay trái của mình.
“Anh để ý đến chiếc nhẫn này à?”
“À, không.” Furukawa vội nhìn qua chỗ khác.
Masaki mỉm cười giải thích. “Mười hai năm qua tôi lưu lạc khắp nơi. Anh Kiichi giam mình ở chốn cách biệt với xã hội, còn tôi thì nếm trải mọi buồn vui tan hợp ở thế gian, tiêu sạch số tiền anh ấy đền bù cho tôi. Đến mùa xuân năm nay thì tôi cùng đường, đành trơ trẽn tới đây nương tựa anh ấy. Anh Kiichi vì cảm thấy áy náy với tôi nên mới chịu thu nhận, chứ thực ra trong lòng anh ấy nghĩ gì tôi không hề hay biết.”
“Thì ra là vậy.”
“Hiện giờ tôi là gã nghèo kiết xác không xu dính túi, chỉ còn độc chiếc nhẫn này.” Masaki giơ tay trái lên, đăm chiêu nhìn chiếc nhẫn đá mắt mèo lấp lánh nơi ngón áp út. “Mười hai năm qua, chiếc nhẫn này dường như ăn vào ngón tay tôi, không sao tháo ra được. Nhiều lần đói bụng không có tiền ăn cơm, tôi đã định đem bán nó đi.”
“Chắc nó là chiếc nhẫn đính hôn với cô gái đã qua đời trong vụ tai nạn?”
“Vâng, là nhẫn đính hôn của chúng tôi.”
“Ôi…” Furukawa lúng túng, nhìn ngó xung quanh.
Masaki châm thuốc, ngồi lại xuống ghế đối diện với Furukawa.
“Câu chuyện này quá nặng nề, chúng ta nên nói chuyện khác thì hơn. Anh kể cho tôi nghe chuyện ở chùa được chứ?”
Sảnh nhỏ.
5 giờ 35 phút chiều.
“Chà chà, đúng là tuyệt tác! Chỉ có thể dùng từ này để hình dung!” Oishi Genzo nói oang oang. Âm thanh vang vọng như đang trong một hang động với vòm cao vút và bốn bề tường đá lạnh lẽo, nghe rất xa xăm.
“Một tác phẩm nghệ thuật thế này mà bị mai một ở đây thì thực là đáng tiếc! Các vị không cảm thấy thế sao, giáo sư Mori, bác sĩ Mitamura?”
Họ đang đứng trong sảnh nhỏ ở góc Đông Bắc của khu nhà này.
Ba vị khách Oishi, Mori và Mitamura sau khi thay quần áo bị ướt, nghỉ chân dưới sảnh nhà ngang, thì cùng ra hành lang ngâm những bức tranh của Issei. Họ xuất phát từ tiền sảnh, đi dọc hành lang tới đây theo chiều kim đồng hồ, vì các bức tranh được treo theo năm sáng tác.
Khổ tranh lớn nhỏ đủ cả, thể loại đa dạng, phong phú, gần như toàn bộ tác phẩm của Issei, ngay cả những bức phác họa, tả thực thời kỳ đầu, đều tập trung ở nơi này. Tranh nào không còn chỗ treo thì được bảo quản trong phòng lưu trữ ở nhà chính.
“Cũng không hoàn toàn đáng tiếc đâu.” Mitamura hai tay chống nạnh, nhìn đám tranh treo xung quanh.
“Ý cậu là gì?”
“Tôi không tán thành quan điểm ‘mọi tác phẩm nghệ thuật đều phải được công bố rộng rãi’.” Mitamura cười châm biếm, khinh khinh nhìn nhà buôn tranh béo tốt. “Tôi cho rằng quan điểm ‘tranh Van Gogh và Picasso là tài sản chung của nhân loại’ thật nực cười, cái gọi là đánh giá của công chúng thực chất chỉ là ảo tưởng. Trong 100 người ngắm tranh Picasso liệu có mấy người nhận ra cái đẹp thuần túy trong đó?”
“Cậu chỉ cố nói lấy được!”
“Đương nhiên tôi biết tranh luận thế này chẳng ý nghĩa gì, chỉ là mấy lời nói nhăng nói cuội. Tôi là bác sĩ ngoại khoa, không phải nhà phê bình mỹ thuật, cũng chẳng phải nhà nghiên cứu xã hội gì. Gạt mọi lý luận phức tạp sang một bên, tôi cho rằng trên thế giới này chẳng có mấy người cảm khái như tôi khi xem tranh của Issei, cũng không tin có nhiều người có cảm nhận giống mình về những bức tranh này.”
“Hừ!” Nghe viên bác sĩ thao thao bất tuyệt, Oishi tỏ vẻ khó chịu. “Tóm lại là cậu rất hể hả vì mình ‘được chọn’ chứ gì?”
“Anh thích nói vậy cũng được.”
“Đã thế thì, cậu Mitamura, sao cậu không nghĩ cách khiến cho anh Kiichi thay đổi tư tưởng độc chiếm tác phẩm của ngài Issei?”
“Nếu để chuyển giao nó cho tôi thì đương nhiên!”
“Giờ cậu còn muốn độc chiếm tranh nữa hả?”
“Đúng thế. Nhưng đâu chỉ mỗi mình tôi, cả anh và giáo sư Mori đều có ý nghĩ này còn gì?”
“Hề hề…”
Đúng vậy!
Mori đứng cách đó một khoảng nhưng vẫn dỏng tai nghe hai người nói chuyện, chỉnh lại cặp kính trên sống mũi.
Nói cho cùng, những người tới đây đều có nguyện vọng được thay anh Kiichi ‘độc chiếm’ tranh của Issei.
Mori cũng cho rằng mình là ‘người may mắn được chọn’. Như những gì Mitamura nói, ông nghĩ mình là một trong số ít người có thể hiểu được sự tinh túy trong tác phẩm của danh họa Issei.
Suy nghĩ và cảm nhận của con người vốn bị trói buộc bởi cái gọi là ‘văn hóa’. Các khái niệm ‘tính nghệ thuật’, ‘cái đẹp’ cũng không tránh thoát khỏi sự ràng buộc này. Không chỉ có thế, ngôn ngữ của nhân loại cũng là một phần của vòng kìm kẹp ấy. Nếu cho rằng chỉ mình ta mới hiểu một tác phẩm nghệ thuật nào đó thì quả là ngạo mạn vô lối, chính xác hơn là ‘nói nhăng nói cuội’ như Mitamura vừa nhận xét. Nhưng…
Nhưng, nếu là bức tranh phong cảnh này…
Mori nhìn bức tranh khổ lớn treo ở góc sảnh nhỏ hình tròn.
Vừa nhìn đã biết đó là một bức tranh kì diệu.
Trên mặt toan rộng 1622mm x1120mm có một ‘dòng sông’ vắt từ phải qua trái bức tranh (hoặc cũng có thể cho đó là một cành cây khô xù xì). Trong dòng sông pha hai màu nâu và xanh nhạt lềnh bềnh trôi ba ô ‘cửa sổ’ méo mó
Trong mỗi ô cửa lại có những vật thể không liên quan gì đến nhau được vẽ bằng nét bút vô cùng tinh tế, tỉ mỉ. Bên ngoài điểm xuyết vài động vật màu đen không rõ định dạng, một con thuyền buồm lớn sắp chìm, những bông hoa bỉ ngạn rực rỡ đang nở rộ khoe sắc.
Khi ngắm ‘phong cảnh’ này, Mori Shigehiko có chút bồi hồi khác lạ. Cảm xúc ấy làm loãng khả năng quan sát của một nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật như ông.
Ông từng đọc các bài phê bình của cha mình về tranh Issei, đã vận dụng toàn bộ khả năng lĩnh hội nhưng vẫn không phân tích nổi cảm xúc đang có thực chất là gì. Xem ra không thể lột tả nó bằng từ ‘hiểu’ trong ngôn ngữ hiện đại.
Chẳng phải chính cảm giác không thể giải thích này chứng minh rằng ông là ‘người may mắn được chọn’ đấy ư?
Mấy người kia thì cảm nhận sao nổi?
Không cứ gì Oishi - người coi các bức tranh là công cụ kiếm tiền, ngay anh chàng Mitamura trẻ tuổi mồm mép tép nhảy cũng không thể thấu hiểu cảm giác này.
“Giáo sư à, thật sự không có cách gì thuyết phục được anh Kiichi sao?” Oishi quay sang nhìn Mori.
“Thuyết phục ư?”
Nghe Mori hỏi lại, nhà buôn tranh nhe hàm răng vàng khè. “Về bức tranh chúng ta chưa từng nhìn thấy ấy.”
“À.”
“Hôm nay lúc mới đến đây tôi đã hỏi thử rồi.”
“Không được sao?”
“Đúng vậy, anh ta đã từ chối thẳng thừng. Sao anh ta lại phản cảm chuyện này đến vậy?”
“Trên đường đến đây, tôi cũng đã nói với Mitamura rằng chúng ta tạm thời đừng nhắc tới thì hơn.”
“Đành thế vậy.” Oishi nôn nóng đưa tay quẹt mũi, mặt mày u ám. “Anh ta có cần phải gàn dở đến thế không?” Mitamura bỏ mặc hai người đứng đó, từ từ bước đến hành lang phía Đông dẫn tới nhà ngang. Giáo sư Mori cũng phớt lờ Oishi đang bực dọc, chỉ tập trung tinh thần vào những bức tranh trước mặt.
Sảnh lớn nhà ngang.
6 giờ 15 phút tối.
Sau khi phó trụ trì Furukawa rời đi, Masaki xuống tầng 1 thì Mitamura đang ngồi trên sofa ở đấy trông thấy anh, bèn gọi lại.
“Anh Masaki, dẫu nằm mơ tôi cũng không ngờ hôm nay lại được gặp anh ở đây.” Trên khuôn mặt sáng sủa của viên bác sĩ ngoại khoa nở nụ cười thân thiện. “Hơn chục năm qua anh sống thế nào?”
“Anh không nên hỏi tôi điều này, bác sĩ Mitamura.” Masaki ngán ngẩm nhưng vẫn cố trả lời bình tĩnh. “Anh tự tưởng tượng đi, thế nào cũng được.”
“Tôi chỉ quan tâm thôi mà.” Mitamura liếm môi. “Một họa sĩ trẻ đầy triển vọng được ngài Issei dìu dắt không biết đã trải qua những ngày tháng sau này ra sao?”
“Anh tàn nhẫn quá đấy.”
“Không không, không phải tôi cố ý dò la vì tò mò cá nhân đâu. Lời nói của tôi vừa rồi có phần quá đáng… Thực ra tôi cũng rất thích tranh của anh, còn sở hữu vài bức nữa cơ, cho nên…”
“Nói vậy lại càng tàn nhẫn hơn.” Masaki ngồi xuống sofa, khoanh tay trước ngực, người hơi ngả về phía trước. “Anh là người biết rõ hơn ai hết lý do vì sao tôi không vẽ nữa. Chẳng phải cứ nhìn tôi ăn nhờ ở đậu tại đây là biết cảnh ngộ tôi sau ngày đó thế nào sao?”
Masaki lườm người ngồi đối diện bằng ánh mắt từ trên cao nhìn xuống. Mitamura mân mê chiếc nhẫn đeo ở tay trái, miệng khẽ hừ một tiếng.
“Hai vị kia đâu? Các vị không cùng đi ngắm tranh à?”
“Giáo sư Mori đang ngắm lại chúng một lượt, còn anh Oishi kêu hơi mệt nên quay về phòng rồi.” Mitamura hất cầm về phía hành lang vắt từ sảnh lớn sang phía Tây, ngụ ý phòng của Oishi ở hướng đó.
“Trông anh cũng có vẻ mệt mỏi.”
“Thế ạ? Đêm qua tôi có ca cấp cứu, không ngủ được mấy, hôm nay lại phải đi từ sớm.” Dưới cặp mắt dài nhỏ của bác sĩ có quầng thâm nhàn nhạt.
“Cấp cứu?”
“Một vụ tai nạn khá nghiêm trọng. Cấp cứu xong, tình trạng của nạn nhân vẫn chưa ổn định, phần còn lại tôi đành nhờ những đồng nghiệp khác.”
“Làm bác sĩ vất vả thật đấy.”
Masaki mỉa mai, rồi lập tức chuyển sang chủ đề khác.
“Ban nãy tôi vừa nói chuyện với anh Furukawa.”
“Anh ấy vẫn đang ở trên gác?”
“Tôi hỏi anh ấy có đi xem tranh không, anh ấy nói lát nữa sẽ tự xem một mình.”
“Anh ấy từ xưa đã thế. Đứng trước ba chúng tôi, anh ấy có vẻ rất tự ti.”
“Anh nói làm tôi cảm thấy hình như thế thật. Anh ấy nói mình chỉ là sư cọ ở một ngôi chùa quê nghèo nàn rách nát, rồi thì mình chẳng tài đức gì.” Masaki nhớ lại ánh mắt ảm đạm tự coi thường bản thân của Furukawa. “Và còn than túng tiền…”
“Anh ta cứ hay buồn rầu vì những chuyện vụn vặt nhỉ.” Mitamura cau mày, nhún vai. “Trên đời này có khối kẻ nhiều tiền mà vẫn phàm tục đáng khinh đó thôi.”
Câu nói rành rành ám chỉ nhà buôn tranh đến từ Tokyo.
“Phàm tục?” Masaki cũng nhún vai bắt chước viên bác sĩ ngoại khoa rồi nhếch mép cười. “Vậy thì người vừa túng tiền, lại vừa phàm tục là khốn khổ nhất ấy nhỉ.”
Phòng ăn.
7 giờ 40 phút tối.
“Cơn bão dữ dội thật.” Masaki bóc bao thuốc lá mới. “Mưa to thế này không sao chứ, Kiichi?”
“Cái gì không sao cơ?”
“Khu nhà… liệu có xảy ra sạt lở gì không? Hiện giờ, đường vào thành phố đã có vài đoạn bị tắc nghẽn.”
“Sạt lở à…” Chủ nhân ngôi nhà ngoảnh lại nhìn Masaki, giọng nói lạnh băng như chiếc mặt nạ. “Những chuyện thế này đã có quản gia Kuramoto lo liệu.”
“Bác Kuramoto thấy sao?”
“Từ chục năm nay đã có rất nhiều cơn bão tương tự rồi.” Viên quản gia vóc người cao lớn, sắc mặt vẫn lạnh lùng như mọi khi. “Và chưa bao giờ xảy ra tình huống như ngài vừa nói. Mong ngài đừng lo.”
“Thế thì tốt.” Masaki quay về phía bốn vị khách đang ngồi quanh bàn. “Nhưng nếu cứ tiếp tục mưa gió thế này, đường sá dưới núi không tu sửa kịp, không trở về được thì cũng rất phiền hà. Ngày kia là thứ Hai, mọi người còn phải đi làm.”
“Không sao, chuyện đó sẽ có cách giải quyết.” Nhà buôn tranh Oishi cười vang. “Nếu bị cầm chân ở đây thật thì tôi càng mừng, vì lại có thêm cơ hội để ngắm tranh của danh họa Issei.”
“Ra vậy.” Masaki gật đầu. “Xem ra, nếu mưa bão kéo dài thì người không vui nhất là anh Kiichi.”
Quản gia Kuramoto đã rất nỗ lực, tuy bữa tối dự định lúc 6 giờ rưỡi bị trễ, nhưng cuối cùng cũng được dọn lên với những món khá thịnh soạn, phong phú.
Lúc ăn cơm, mọi người đều rất ít nói.
Nhất là Kiichi, anh ta gần như không thốt ra câu nào.
Có thể vì thế mà ‘biểu cảm’ trên mặt nạ màu trắng cũng hết sức trầm mặc. Trong bữa ăn chỉ nghe thấy giọng ồm ồm và tiếng cười giả lả của Oishi Genzo, thỉnh thoảng Masaki gật đầu phụ họa, càng khiến cho tiếng cười ấy lộ rõ vẻ dối trá.
Không một ai đả động đến chuyện chị giúp việc Fumie bị ngã, vì mọi người đều cảm thấy đây là nguyên nhân khiến vị chủ nhà im hơi lặng tiếng.
Riêng kẻ ‘phàm tục’ - nhà buôn tranh Oishi - lại không cảm nhận được điều này.
“Sao cô ta lại thiếu thận trọng để rồi trượt ngã như thế chứ?” Ông ta nói năng vô ý tứ, chẳng thèm cân nhắc, nhận thấy ánh mắt nghiêm nghị của chủ nhà mới biết điều ngậm miệng.
Trong thung lũng lúc xế chiều, tiếng gió thét gào cứ lớn mãi lên, mưa rơi lúc mạnh lúc yếu, tiếng sấm xa dần, nhưng thế chân nó là bóng đêm bao trùm Thủy Xa Quán như muốn cách li tòa nhà với thế giới bên ngoài, khiến người ta càng cảm thấy hoang mang, sợ hãi.
Kiichi ngồi thu mình trên xe lăn, nhấc lấy chiếc tẩu thuốc màu nâu trên bàn, nhìn khắp lượt những người đang yên lặng. Bốn vị khách vội chỉnh lại tư thế ngồi cho ngay ngắn.
“Mấy hôm trước tôi bị cảm, người chưa khỏe hẳn nên xin phép về phòng nghỉ ngơi trước. Tôi hứa ngày mai sẽ mời các vị xem những bức tranh trong phòng lưu trữ sau.” Kiichi nhét tẩu thuốc vào túi áo choàng, rồi vần bánh xe lăn rời khói bàn tròn. “Kuramoto, nhờ ông lo liệu nốt những việc còn lại nhé.”
“Tôi hiểu rồi ạ.”
“Yurie.” Kiichi nói với người vợ trẻ tuổi vẫn cúi đầu im lặng từ nãy đến giờ. “Một mình em lên gác có sợ không?” Yurie khẽ gật đâu, mái tóc đen dài hơi lay động.
“Nếu không muốn lên thì cứ đến phòng anh, biết không?”
“Vâng…”
“Vậy tôi xin vô phép, các vị cứ tự nhiên.”
Masaki vội đứng lên định đẩy xe lăn, Kiichi giơ bàn tay đeo găng trắng, ngăn anh ta lại.
“Không cần. Mình tôi đi là được.”
Viên quản gia mở hai cánh cửa thông sang hành lang phía Tây. Khi bóng chiếc xe lăn khuất hẳn ngoài hành lang âm u, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.
“Vậy là, tối nay vụ đó không được rồi…” Giọng Oishi ngao ngán.
“Vụ gì cơ?” Masaki thắc mắc.
Mitamura thấy vậy bèn cười khẩy. “Bức tranh Muôn vàn ảo ảnh ấy mà. Anh Oishi bám dai thật đấy.”
“Là người hâm mộ tranh của Issei, ai chẳng muốn được ngắm nhìn nó.” Oishi cau mày lườm viên bác sĩ ngoại khoa trẻ tuổi, rồi bất chợt ngoảnh nhìn Masaki. “À, đúng rồi, anh Masaki vốn là đệ tử của danh họa Issei, chắc phải biết đó là bức tranh như thế nào chứ?”
“Tôi rất tiếc.” Masaki đưa điếu thuốc lên miệng.
“Tôi nhận ra anh và chủ nhân Thủy Xa Quán có quan hệ rất thân thiết, anh ấy không cho anh biết mình cất bức tranh đó ở đâu à?”
“Ý anh là nếu tôi biết chỗ thì bây giờ chúng ta sẽ lén lút đến xem nó à?”
“Không, không, tôi không có ý đó.”
Nghe vậy, Mitamura cười khằng khặc, còn Masaki vuốt bộ râu cầm thưa ngắn. “Rất tiếc là tôi không biết. Nhưng đúng là anh Kiichi đã cất nó ở một nơi nào đó trong khu nhà này.”
“Thế ư?” Nhà buôn tranh phồng má, gãi mũi. Dường như quên bẵng chuyện vừa rồi bị Masaki nói kháy, ông ta hướng tầm mắt sang Yurie.
“Tôi có điều muốn hỏi phu nhân Yurie, cô có biết…”
“Anh Oishi!” Giáo sư Mori gắt lên. “Anh hãy chừng mực chút đi!”
“Giáo sư nói đúng đấy,” Mitamura buông giọng châm biếm. “Nghe anh nói, tôi cảm thấy rất khó chịu, cứ như chúng tôi cũng là những kẻ a dua trơ trẽn vậy. Anh Furukawa nghĩ sao?”
“À…” Phó trụ trì Furukawa cười khổ. “Tôi cũng hiểu nỗi lòng muốn xem tranh của anh ấy, nhưng mà…”
“Thôi nào, đừng để những chuyện nhỏ nhặt thế này làm tổn thương tình cảm giữa chúng ta.” Giọng Mitamura đột ngột trở nên ôn hòa khác hẳn khi nãy, anh nói với người thiếu nữ xinh đẹp đang cúi gằm mặt xuống. “Để cô phải chê cười rồi, cô Yurie…”
“Hình như anh Masaki có kể là đang dạy cô Yurie chơi dương cầm nhỉ, trình độ cô ấy thế nào?”
“Rất xuất sắc.” Masaki trả lời viên bác sĩ ngoại khoa bằng giọng điệu khiêu khích.
“Lần sau nếu có cơ hội, cô Yurie chơi thử một bài cho chúng tôi nghe nhé?”
Yurie đỏ mặt, chậm rãi lắc đầu.
“Tôi xin mạn phép thưa thế này, sau một năm xa cách, cô Yurie lại xinh đẹp thêm rồi.” Bác sĩ Mitamura nheo mắt ngắm Yurie. “Sang năm cô tròn 20 tuổi phải không? Chà chà, đúng là phụ nữ càng ngày càng xinh đẹp. Tôi thật ghen tị với vị chủ nhân nơi này.”