Manfred, viên cảnh sát to béo mặt đỏ au, mở đầu cuộc họp. Anh ta đứng dậy, lon ton đi đến bên tấm bảng trắng rồi đưa ngón tay đẩy cặp kính gọng đồi mồi. Xung quanh bàn, đã có mặt người phụ trách cuộc điều tra sơ bộ, một công tố viên trẻ tuổi tóc vàng có tên là Björn Hansson, cùng trưởng ban điều tra án mạng quốc gia, Greger Sävstam. Người phụ nữ có nước da rám nắng, Sanchez, cũng có mặt, cùng với Peter, anh ta ngồi chếch một chút phía sau tôi. May mà anh ta ngồi ở đó, chứ không ngồi trước mặt tôi. Tôi không biết liệu mình có thể chịu đựng nổi việc phải nhìn thấy anh ta trong suốt cuộc họp hay không.
Trong cuốn sổ tay nhỏ của mình, tôi đã cẩn thận ghi lại những cái tên, chức vụ và đặc điểm hình thể của tất cả những người đang có mặt. Một biện pháp cẩn trọng thuần túy. Những cái tên là thứ đặc biệt khó nhớ đối với tôi.
Tôi đã đồng ý tham gia cuộc điều tra, với điều kiện là phần công việc giao cho tôi không quá nặng nề. Có thể sẽ là ngây thơ khi nghĩ rằng tôi sẽ làm được việc bất chấp căn bệnh đang mang, nhưng tôi tự thuyết phục bản thân rằng chuyện này rồi sẽ ổn. Dù sao tôi cũng không đến mức lẩm cẩm. Ít nhất là chưa. Thứ bị suy yếu nhất là trí nhớ ngắn hạn của tôi, và một số từ ngữ có xu hướng biến mất không kèn không trống - chẳng hạn như tên của thủ tướng và nhà vua, những thông tin mà bác sĩ đã hỏi tôi trong lần khám gần nhất.
Tôi hình dung trí nhớ như một tấm vải, và tấm vải của tôi bị thủng lỗ chỗ. Những cái lỗ nhỏ gớm ghiếc, theo thời gian sẽ mở rộng và gia tăng. Như thể có một người nào đó dùng đầu mẩu thuốc lá cháy đỏ châm vào tấm vải một cách ngẫu nhiên. Hiện tại, tôi vẫn đủ khả năng lấp đầy những lỗ hổng đó, che giấu chúng khỏi những người xung quanh. Nhưng dần dà, căn bệnh sẽ gặm nhấm tấm vải cho đến khi chỉ còn những sợi chỉ mong manh để giữ những mảnh rách nát còn lại.
Thỉnh thoảng tôi tự hỏi mình phần nào sẽ trụ lại được. Ý tôi muốn nói là, một con người được tạo bởi sự tích lũy các kinh nghiệm, suy nghĩ và ký ức. Nếu toàn bộ những thứ đó vuột khỏi tâm trí tôi, thì tôi sẽ trở thành gì? Một người khác chăng? Hay là một thứ khác?
Manfred Olsson hắng giọng và tựa người vào tường.
- Được rồi. Tôi muốn chia sẻ với mọi người những thông tin mới liên quan đến vụ điều tra. Chúng ta đã hỏi chuyện chín đồng nghiệp của Jesper, năm người bạn, cha mẹ và hai bạn gái cũ của anh ta. Không ai biết tin tức gì về Jesper Orre kể từ thứ Sáu vừa rồi. Không ai biết anh ta dự định đi nghỉ ở đâu, cũng không biết bây giờ anh ta đang có khả năng ở chỗ nào. Tất cả những người được hỏi đều miêu tả anh ta là một người rất tham vọng và khéo léo, chủ yếu là cống hiến cho công việc. Không có thú tiêu khiển nào ngoài thể thao và phụ nữ. Trên truyền thông, ta có đọc được rằng Orre giao du với các ổ nhóm tội phạm, nhưng chúng ta không tìm thấy bằng chứng nào cho những lời cáo buộc này. Đúng là có một người quen biết sơ sơ với anh ta từng bị kết án về tội tàng trữ ma túy, nhưng chỉ có thế. Chúng ta đã nói chuyện với hàng xóm của anh ta. Họ không thấy có bất cứ điều gì khác lạ so với thường lệ vào buổi tối ngày xảy ra vụ án. Các thông tin mà chúng ta nhận được từ công chúng kể từ khi thông tin Orre mất tích được công bố cũng không mang lại bất cứ điều gì. Chúng ta cũng đã kiểm tra các email và tin nhắn của anh ta: chẳng có gì thú vị hết. Nhưng điều đó không nói lên điều gì cả. Có thể anh ta có một điện thoại di động riêng mà chúng ta không biết đến. Chúng ta đang rà soát khả năng này. Chúng ta đã phát lệnh tìm kiếm anh ta từ hôm qua, và anh ta không thể nào rời khỏi đất nước, bởi vì tất cả các trạm kiểm soát biên giới đều đã được thông báo. Và nếu anh ta tìm cách rút tiền, chúng ta sẽ biết ngay lập tức. Đấy, đáng buồn vì đấy là tất cả những gì chúng ta biết được về Jesper Orre cho đến lúc này. Chúng ta cũng đã trao đổi với phòng xét nghiệm quốc gia phục vụ điều tra án mạng. Họ giải thích rằng hung khí tìm thấy ở nhà Orre là một panga , một biến thể của dao rựa, được sử dụng ở Tây Phi, nó có phần lưỡi rộng hơn và phần đầu vuông hơn dao rựa thông thường.
Manfred cho hiển thị một bức ảnh chụp con dao rựa trên tấm bảng trắng rồi chỉ vào phần cán.
- Cán dao được làm bằng gỗ mun, có chạm trổ. Đây là một món đồ khá hiếm, theo ý họ có lẽ là đã khá cổ. Có thể tìm thấy những con dao như thế này ở các cuộc bán đấu giá chuyên nghiệp. Không có dấu vân tay trên cán dao, điều này cho thấy thủ phạm đã lau cán dao sau khi gây án. Trái lại, vân tay của Jesper Orre được tìm thấy trên lưỡi dao.
Sanchez khẽ huýt sáo.
- Ta tóm được hắn rồi!
- Không hẳn thế. Chúng ta chỉ có bằng chứng là anh ta đã chạm vào con dao, không gì khác. Phòng xét nghiệm và các bác sĩ pháp y đang so sánh các vết thương trên người nạn nhân của chúng ta với các vết thương trên người Miguel Calderón mười năm trước, và họ hứa sẽ thông báo cho chúng ta vào ngày mai, chậm nhất là ngày kia. Máu tìm thấy trong hành lang là máu của nạn nhân. Ngược lại, nước tiểu lại là của một người đàn ông. Phòng xét nghiệm không thể tìm ra định dạng gen hoàn chỉnh, nhưng họ đang tiếp tục tìm kiếm. Như mọi người đã biết, xác định ADN từ nước tiểu khó hơn là từ máu hoặc mô.
- Vậy nước tiểu là của một người đàn ông. Điều đó có nghĩa là gì? Sanchez hỏi.
- Nghĩa là một gã đàn ông đã tè ở lối vào, Manfred trả lời. Những tiếng khúc khích cố nén vang lên trong phòng.
- Vâng, điều đó thì tôi hiểu rồi, nhưng tại sao?
- Việc của chúng ta là phát hiện ra điều đó, Manfred nói tiếp.
- Người ta cũng tìm thấy nước tiểu trong vụ án Calderón chứ? Tôi hỏi.
Manfred lắc đầu và nói tiếp:
- Không. Sau đó, tôi đã trao đổi với cảnh sát khoa học, họ đã rà soát kỹ càng phần còn lại của căn nhà. Không có gì đáng chú ý cả, ngoại trừ một chiếc giỏ có đựng đồ lót phụ nữ đã qua sử dụng được tìm thấy trong một ngăn tủ ở phòng giặt là, dưới tầng hầm. Theo như kết quả cuộc trò chuyện mà Peter và tôi đã tiến hành với Anja Staaf, người mà tôi đã nói với chị, chúng ta có thể kết luận rằng Orre sưu tầm đồ lót bẩn của phụ nữ. Rằng đó là thứ khiến anh ta đạt được khoái cảm, đơn giản thế thôi.
Vài tiếng cười vang lên, nhưng lập tức tắt ngay khi trưởng ban điều tra án mạng quốc gia, Greger Sävstam, quay sang nhìn chòng chọc vào từng người có mặt quanh bàn.
- Họ còn tìm thấy một thứ khác nữa, Manfred nói tiếp. Một chiếc quần lót đã qua sử dụng và vấy máu giấu bên dưới giường của Orre trên tầng hai.
- Dấu vết của một mùa dâu tây chăng? Sanchez gợi ý.
Manfred lắc đầu.
- Vết máu cũ hơn, và căn cứ vào vị trí của chúng, các kỹ thuật viên cho rằng chiếc quần lót đã được sử dụng để cầm máu. Chẳng hạn như để quấn quanh một cánh tay hoặc một bàn tay. Chúng ta chưa biết liệu thứ này có liên quan gì đến cuộc điều tra không, nhưng đó là thứ duy nhất đáng kể mà họ tìm thấy.
Manfred lật giở cuốn sổ ghi chép có gáy bọc da.
- À phải, tôi quên mất. Peter đã trao đổi vài lời với hãng bảo hiểm, họ đang tìm cách làm sáng tỏ vụ hỏa hoạn trong ga ra nhà Orre. Theo họ, rất có khả năng một ai đó cố tình phóng hỏa. Phân tích hóa học những thứ còn sót lại cho thấy có vết xăng. Cảnh sát vùng cũng vào cuộc, và chúng tôi đang duy trì mối liên kết với họ. Cho đến lúc này, chưa có nghi phạm nào, mặc dù bên bảo hiểm đã khiến chúng tôi hiểu rằng họ đặt cược vào Orre.
- Tình hình tài chính của anh ta thế nào? Người phụ trách điều tra sơ bộ hỏi bằng giọng Scanie đặc sệt.
- Rất tốt, Peter lên tiếng từ phía sau tôi.
Tôi quay lại, và thêm một lần nữa tự nhủ rằng dù sao đi nữa, có lẽ việc tôi đến đây là không đúng đắn chút nào. Nhưng tôi thuyết phục bản thân rằng tôi đủ mạnh mẽ để chịu đựng vài cuộc họp với người đàn ông đã phá hủy cuộc đời tôi mười năm trước. Rằng nếu cấm đoán mình làm những gì tôi say mê chỉ vì sợ phải đối mặt với quá khứ chính là để anh ta thắng thế. Rằng điều quan trọng là tôi phải hiến mình trọn vẹn cho tương lai của bản thân, bởi vì khoảng thời gian ấy chỉ còn rất ít.
- Anh ta có một khoản thu nhập chịu thuế hằng năm lên đến trên bốn triệu krona, Peter nói tiếp. Ngoài ra, anh ta còn nắm giữ một lượng cổ phiếu có giá trị khoảng ba triệu krona. Và theo như những gì chúng tôi biết được, thì anh ta không có khoản nợ nào.
Greger Sävstam ngọ nguậy người trên ghế.
- Làm thế nào mà một người như Jesper Orre lại có thể bốc hơi được nhỉ?
Manfred hắng giọng.
- Tất cả cảnh sát trong nước đang lần theo dấu vết anh ta.
- Tôi cảm thấy chuyện này không ổn, Greger Sävstam vừa nói vừa đứng dậy và thọc sâu tay vào túi chiếc quần đồng phục nhàu nhĩ. Chúng ta chẳng có bất cứ thông tin gì về bất cứ điều gì. Một con dao rựa cũ có cán bằng gỗ mun và một chiếc quần lót vấy máu sẽ không giúp chúng ta giải quyết được vụ án này. Đã ba ngày trôi qua, đám phóng viên đang quấy rầy chúng ta, và chúng ta thậm chí còn không biết nạn nhân là ai. Cũng không biết Jesper Orre đang ở đâu. Tôi không chấp nhận phải chuốc lấy nỗi hổ thẹn trước ủy ban điều tra án mạng quốc gia bởi vì các vị không có bất cứ manh mối nào đâu.
- Ngày mai, chúng tôi sẽ gặp kế toán của Clothes&More, Manfred cho biết. Có vẻ như họ đã tiến hành một cuộc điều tra nội bộ về Orre. Theo một số tin đồn, hình như công ty đã tài trợ cho bữa tiệc mà anh ta tổ chức nhân sinh nhật lần thứ bốn mươi lăm. Có thể cuộc gặp này sẽ mang lại kết quả nào đó.
Greger Sävstam tỏ vẻ u sầu và mệt mỏi. Ông ngước mắt lên trời như thể câu trả lời của Manfred là một lời khiêu khích.
- Cho dù anh ta có biển thủ tiền của công ty, thì việc đó cũng chẳng giúp gì được cho vụ điều tra án mạng mà chúng ta đang tiến hành. Ta không thể làm gì khác sao? Triệt để hơn? Thông qua truyền thông để nhờ trợ giúp?
Mọi người đều đã biết rằng Jesper Orre đang mất tích và một người phụ nữ được tìm thấy đã chết ở nhà anh ta, Manfred bắt đầu.
Greger Sävstam cáu kỉnh xua tay.
- Phải, phải, tôi biết rồi. Đó không phải là điều tôi muốn nói. Ta không thể công bố một bức ảnh nạn nhân sao? Có thể cách ấy sẽ giúp chúng ta nhận diện cô ta?
- Cái xác bị phá hủy thảm khốc… Nhìn chung, ta không thể…
- Tôi không quan tâm đến việc nhìn chung các vị thường làm gì. Bây giờ, ta phải chuyển sang tốc độ cao hơn. Ta không thể tiếp tục ngắm nhìn rốn mình và tự hỏi tại sao hít ngửi đồ lót cũ lại khiến anh ta cương cứng.
- Chúng ta có thể yêu cầu một trong số các chuyên gia phác thảo tái lập, vẽ lại khuôn mặt cô ấy, Sanchez đề xuất. Việc đó không nhạy cảm như việc công bố hình ảnh một cái đầu người hoàn toàn bầm dập và bị cắt lìa khỏi thân mình.
Greger ném cho cô một cái nhìn mệt mỏi.
- Mẹ kiếp, Sanchez này, đây là ý kiến xuất sắc nhất của cô lâu nay đấy. Cô phụ trách việc ấy đi!
Ngồi trong chiếc ghế bành da lớn kê trước lò sưởi, tôi xem qua bản báo cáo điều tra sơ bộ trong vụ án Calderón. Ngọn lửa kêu lách tách và một ngọn nến nhỏ cháy trên chiếc bàn thấp bằng đá cẩm thạch. Cảm giác thật lạ lùng khi gặp lại những bản báo cáo cũ mà tôi từng góp công soạn thảo. Đã nhiều năm trôi qua, thế nhưng chẳng có gì thay đổi, hoặc gần như thế. Tôi vẫn ở nguyên trong căn hộ cũ. Với người đàn ông ngày ấy. Chỉ có con chó là mới.
Tôi nhìn Frida đang nằm cuộn tròn trên tấm da trải dưới chân tôi. Thân hình màu đen của nó thỉnh thoảng lại rung lên giần giật còn mấy cẳng chân thì cào vào không khí, như thể nó đang có một giấc mơ săn đuổi dữ dội.
Tôi tiếp tục đọc. Tôi còn nhớ rằng chúng tôi đã quan tâm rất nhiều đến đôi mí mắt và dải băng dính. Tôi nhắm mắt, tận hưởng ngọn lửa đang sưởi ấm cơ thể và suy nghĩ. Tại sao một kẻ sát nhân lại dán băng dính vào mí mắt nạn nhân để giữ cho chúng mở to? Theo các bác sĩ pháp y và kỹ thuật viên, mí mắt nạn nhân được cố định như vậy sau khi nạn nhân đã chết. Để chứng minh giả thuyết này, họ đã nêu rõ sự hiện diện của những vết máu bên dưới dải băng dính.
Vậy là: một tên sát nhân dán mí mắt của nạn nhân trong trạng thái mở to và đặt đầu nạn nhân trong tư thế người đầu tiên bước vào căn hộ sẽ bắt gặp ánh mắt của người chết. Để làm gì? Kẻ giết người biết rõ ai sẽ tìm thấy Calderón chăng? Phải chăng đó là một thông điệp dành cho người đó? Hay chỉ thuần túy là hắn muốn sỉ nhục nạn nhân? Giống như người Celte treo đầu kẻ thù của họ trên cổ ngựa như những chiến lợi phẩm.
Tôi không có thời gian để đẩy dòng suy nghĩ đi xa hơn, bởi vì tôi nghe thấy có tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa. Frida đờ người, rồi nhảy vọt lên và vừa chạy về phía cửa ra vào vừa vẫy đuôi. Tôi biết rằng tôi nên giấu tập biên bản điều tra này đi, rằng Owe sẽ phát điên nếu nhìn thấy nó, nhưng tôi không đủ sức để làm việc ấy. Thành ra tôi vẫn ngồi yên, với mớ giấy tờ đặt trên đầu gối.
Đột nhiên, anh đứng đó, trên ngưỡng cửa. Mái tóc hoa râm của anh rối bù, đôi má đỏ ửng lên vì lạnh. Chiếc áo chui đầu màu đỏ tím căng lên ở vùng bụng, và tư thế của thân hình anh cho thấy anh đang tức tối. Thỉnh thoảng anh lại như thế. Ngay khi về đến nhà đã cáu kỉnh rồi. Thường là do anh vừa cãi nhau với ai đó ở chỗ làm. Thông thường, rốt cuộc anh sẽ tiết lộ mọi chuyện, nói rằng một trong số đồng nghiệp của anh là kẻ vô dụng hoặc một bệnh nhân khó chịu đã xử tệ với anh.
- Chào em.
- Chào anh.
Anh vẫn đứng trên ngưỡng cửa, thân hình đung đưa hết nhấc chân nọ lại nhấc chân kia, như thể anh không biết phải đi đâu.
- Em có một ngày tốt lành chứ?
- Vâng, còn anh?
Anh nhún vai.
- Ôi dào, nói thế nào nhỉ? Hội đồng đâu có tuyển dụng những người khôn ngoan nhất. Anh chán ngấy đám bác sĩ ngoại quốc rồi, họ không đủ khả năng để nhận ra sự khác biệt giữa một bệnh nhân tâm thần phân liệt và một bệnh nhân lưỡng cực. Và họ gần như không đủ khả năng lập một bệnh án mà ta có thể hiểu được, bởi vì tiếng Thụy Điển của họ quá tệ.
- Hẳn là phải mệt mỏi lắm.
Anh càu nhàu điều gì đó mà tôi không nghe rõ. Đó là một trong những âm thanh mà đôi khi anh phát ra từ cổ họng. Có lẽ tôi không đủ khả năng để diễn giải chúng, sau suốt chừng ấy năm, gần giống như cha mẹ của các bé sơ sinh chỉ dùng bản năng để hiểu con họ muốn gì mỗi khi chúng hét lên.
- Mà này, em đã lấy rượu vang cho ngày mai chưa?
- Chưa, em… em có chút việc…
Giọng tôi tắt lịm. Không phải là tôi quên mua rượu vang, mà chỉ là tôi có những việc khác phải làm, ở trụ sở cảnh sát. Nhưng tôi không thể thú nhận mọi chuyện với anh được.
Anh thở dài rồi quay đi, nhưng chợt sững lại.
- Mà em đang đọc cái gì đấy?
Tôi áp lòng bàn tay lên mấy tờ giấy, nhưng đã quá muộn. Anh đã nhìn thấu nỗi nghi ngờ của tôi, đã thấy rằng hai bàn tay tôi đang ra sức che giấu mớ tài liệu bên trong vạt áo, như một hành động máy móc.
- Không có gì đặc biệt đâu…
Nhưng anh đã lại gần, dừng lại trước mặt tôi, tạo thành một cái bóng đen đồ sộ đằng trước ngọn lửa trong lò sưởi. Anh cúi người về phía trước, quả quyết nhấc các ngón tay tôi lên.
- Cái này là gì vậy hả Hanne?
Mùi trên người anh xộc vào cổ họng tôi - một thứ hỗn hợp pha trộn giữa mùi thuốc lá, mồ hôi và thứ gì đó mà tôi không thể nào xác định nổi, nhưng rất giống với món bắp cải hầm nhừ.
- Là một… báo cáo điều tra sơ bộ.
- Cái đó thì anh thấy rồi, cảm ơn em! anh lên tiếng, giọng đã cao thêm một quãng tám. Điều đang khiến anh băn khoăn, đó là tại sao thứ ấy lại xuất hiện ở đây, trong nhà chúng ta? Em đã nói với anh rằng em sẽ không làm việc cho cảnh sát nữa.
- Em chưa bao giờ nói thế. Chính anh là người nói.
Bằng một động tác dứt khoát, anh vơ lấy mớ giấy tờ rồi ném thẳng về đầu kia phòng. Từ khóe mắt, tôi nhìn thấy Frida chạy về phía hành lang, đuôi cụp giữa hai chân.
- Ôi trời, Hanne ơi. Mẹ kiếp! Chúng ta đã nói về chuyện này và đã quyết định rằng việc đó là không phù hợp, rằng em không đủ sức để làm việc. Rồi sau đó, em vẫn làm thế, sau lưng anh!
Khi anh thốt ra những lời lẽ ấy, theo cách nghiêm túc nhất trần đời, cả thân hình được bao bọc trong thứ mùi hôi hám ấy, tôi cảm thấy có thứ gì đó vừa vỡ vụn bên trong tôi. Vỡ vụn thực sự, như khi một bức tường chống đỡ sụp đổ, khiến cả căn nhà sụp đổ theo. Giống như đang có hàng nghìn vụ nổ bên trong tôi, toàn bộ cơn giận dữ tích tụ chợt trào lên, không còn chút kiềm giữ nào nữa.
Tôi nhảy ra khỏi ghế và bắt đầu giáng nắm đấm vào thân hình cao lớn của anh. Những cú đòn của tôi không có hiệu quả gì - tôi đấm hú họa, trong sự thôi thúc của sự cam chịu và một nỗi tuyệt vọng mà thậm chí tôi còn không thể gọi tên - mà chỉ khơi dậy nỗi kinh ngạc ở anh.
- Đồ quái vật! Chúng ta chưa bao giờ quyết định bất cứ điều gì. Anh đã nói với em rằng em không thể làm việc. Chính anh đã đưa ra quyết định. Như thường lệ. Anh, anh, anh . Em chán việc anh quyết định mọi thứ thay cho em rồi!
Anh túm lấy hai bàn tay tôi đang lơ lửng trong không khí và kẹp chặt.
- Em bình tĩnh lại đi. Em điên hẳn rồi hay sao? Chính vì căn bệnh của em mà em ra nông nỗi này, em không hiểu sao? Hung hãn, suy sụp. Chính là vì căn bệnh.
Đây không phải lần đầu tiên Owe khẳng định rằng căn bệnh là căn nguyên khiến tính khí tôi thất thường. Anh đã khuyến khích tôi dùng thuốc chống trầm cảm - thứ hạnh phúc được kê đơn sẵn sàng dang rộng vòng tay đón tôi, nhưng nó khiến tôi sợ hãi còn hơn cả chứng mất trí.
- Đừng có kết tội căn bệnh nữa đi, chết tiệt thật! Nó chẳng liên quan gì đến chuyện này. Mà là em. Em không chịu đựng nổi sự ngạo mạn và nhu cầu kiểm soát mọi thứ của anh nữa.
Tôi ngừng lời và cả hai chúng tôi cứ đứng như thế, đằng trước lò sưởi. Tất cả bỗng trở nên yên tĩnh hơn. Chỉ còn nghe thấy tiếng lách tách của ngọn lửa cùng hơi thở hổn hển của tôi.
- Bỏ em ra!
Anh làm theo lời tôi và vẫn đứng bất động, trong khi tôi vội vàng dọn dẹp mớ giấy tờ rồi lao vào phòng ngủ.
- Hanne yêu quý. Có chuyện gì vậy?
- Tớ bỏ anh ta rồi, tôi vừa nói vừa thả rơi chiếc va li nặng trịch trên phiến đá lát của khoang cầu thang.
- Nhưng đừng có đứng đó thế chứ, người đẹp. Vào nhà đi.
Gunilla nhấc chiếc va li lên rồi đặt nó ở lối vào căn hộ.
- Lạy Chúa! Trong ấy có gì vậy?
- Để ý cái lưng cậu đấy. Toàn là sách. Sách về Groeland. Chỉ là những cuốn quan trọng nhất thôi.
Cô bạn tôi chậm rãi lắc đầu.
Frida đi trước dẫn đường cho tôi trong hành lang sáng rực. Tôi đi qua cửa, đập chân để giũ tuyết ra khỏi giày rồi cởi chiếc áo phao. Tôi treo áo lên một trong số mắc áo có màu sắc sặc sỡ, đi vào phòng khách rồi ngồi sụp xuống chiếc ghế xô pha màu trắng của Gunilla.
- Kể đi! Cô khuyến khích tôi.
Và tôi kể cho cô nghe. Cuộc gặp với viên cảnh sát và Peter. Vụ án từ mười năm trước được lôi lên và việc tôi muốn dùng thời gian của mình để làm điều gì đó có ý nghĩa. Sử dụng toàn bộ những kiến thức mà tôi đã tích lũy được trong đời đi làm. Rồi tôi kể với cô về Owe, giải thích với cô rằng nhu cầu kiểm soát mọi chuyện, tính ích kỷ và thậm chí cả mùi cơ thể của anh đã khiến tôi không còn kiềm chế nổi nữa. Rằng tôi tích tụ cơn giận dữ từ nhiều tháng nay và rốt cuộc nó đã bùng lên như một đám cháy rừng, để lại tôi trống rỗng và kiệt sức.
- Vậy thì đã đến lúc cậu rời đi rồi, cô chỉ nói có thế sau khi tôi đã im lặng.
Câu hỏi mà tôi chờ đợi chỉ được đặt ra sau đó, khi chúng tôi đã uống nhiều ly rượu vang và ăn nốt chỗ pho mát cũ mà cô đang có trong nhà.
- Có thật sự là khôn ngoan không khi rời bỏ anh ấy lúc này, khi mà cậu không biết cậu sẽ cảm thấy thế nào trong một tháng, hoặc một năm nữa?
Cả tôi và cô cùng im lặng một lát, rồi tôi nhìn thẳng vào mắt cô.
- Chính vì thế mà chuyện này mới trở nên quan trọng. Tớ không muốn dành số thời gian còn lại của mình để sống với anh ấy.
Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, mặt trời tỏa sáng lần đầu tiên kể từ nhiều tuần nay, và những giọt tuyết nhỏ tan ra rơi xuống bậu cửa sổ. Tôi có cảm giác như đó là một dấu hiệu, và tôi cảm thấy một niềm vui sướng, nhẹ nhõm lớn dần lên trong lòng tôi. Nó gần giống như một thứ ma túy. Một làn sóng trên đó tôi có thể lướt đi, thứ có thể nâng đỡ tôi trong tình cảnh khốn khổ hiện tại.
Lúc này, mọi thứ chỉ có thể tốt hơn thôi, tôi vừa tự nhủ vừa lấy ra cuốn sách của Louis-Jacques Dorais viết về ngôn ngữ và văn hóa Esquimo.
Tuyết trượt trên mái nhà rồi đổ xuống bậu cửa sổ tạo thành một âm thanh trầm đục.
Người ta vẫn luôn nói rằng người Esquimo có vô vàn từ ngữ để miêu tả tuyết, nhưng đó là một huyền thoại bắt nguồn từ nỗi ám ảnh mơ mộng của văn minh phương Tây đối với những dân tộc sống tự nhiên và mối quan hệ cộng sinh với các nhân tố trong thiên nhiên. Đúng là người Esquimo có nhiều từ ngữ để miêu tả tuyết, nhưng người Thụy Điển cũng vậy. Ngoài ra, không tồn tại một ngôn ngữ Esquimo. Có nhiều ngôn ngữ và phương ngữ trong các vùng khác nhau ở vùng Bắc Cực thuộc Alaska, Canada, Siberia và Groenland.
Ấy thế mà, như thường lệ, mọi người lại có nhu cầu rất lớn trong việc đơn giản hóa và khiến thực tại trở nên dễ điều khiển. Xét cho cùng, chúng ta cũng làm giống hệt như trong các cuộc điều tra của cảnh sát. Chúng ta đơn giản hóa, cố gắng tìm hiểu, thiết lập các mối liên hệ và tìm ra những mô hình trên cơ sở các yếu tố vô cùng phức tạp. Có lẽ chúng ta cũng phạm cùng một sai lầm như vậy: chúng ta gán các đặc tính cho mọi người và áp dụng các thang điểm cho các sự kiện, bởi vì nó phù hợp với quan điểm của chúng ta về thế giới.
Tôi nghĩ đến vụ án mạng Calderón mười năm trước. Phải chăng chúng tôi đã bỏ qua điều gì đó? Những định kiến của chúng tôi đã ảnh hưởng đến cách diễn giải của mình về các sự việc chăng?
Tiếng gõ cửa khe khẽ cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.
- Ăn sáng nhé? Gunilla hỏi.
- Rất sẵn lòng, tớ đang đói ngấu đây.
Và đúng thế: đây là lần đầu tiên kể từ nhiều tháng nay tôi thực sự cảm thấy đói.