Một tháng trước.
Tôi đang ở trong tàu điện ngầm để đi làm, cố gắng hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Con của Jesper - con của chúng tôi - đang lớn lên đâu đó ở bên trong cơ thể tôi. Trong một không gian tối tăm và bí mật, ẩn giấu một con nòng nọc bé nhỏ, với một cái đuôi và những cái mang, đang dần mang hình hài của con người.
Thật không thể nào hiểu nổi.
Tôi vẫn không thể hình dung được rằng tôi đang mang thai, rằng mọi chuyện không chỉ dừng ở tôi và mối quan hệ giữa tôi với Jesper nữa. Lúc này, tôi còn phải quyết định xem tôi có muốn giữ đứa bé hay không. Như vậy, tôi không thể lãng quên Jesper mà lật sang trang mới của cuộc đời nữa. Hoàn cảnh đã thay đổi và anh có quyền được biết rằng tôi đang mang thai đứa con của anh, cho dù anh có là gã khốn nhất vũ trụ này hay không.
Tôi phải gặp anh và nói cho anh biết sự thật.
Mahnoor và Olga đang ở trong phòng nghỉ, mỗi người cầm trên tay một cốc cà phê. Còn hai mươi phút nữa mới đến giờ mở cửa, và Björne chưa có mặt - tội gì mà không tận hưởng.
- Cà phê nhé?
- Tớ đang muốn uống đây, cảm ơn cậu.
Tôi vặn vẹo người để cởi áo choàng rồi ngồi xuống một trong mấy cái ghế màu trắng kê quanh bàn. Mahnoor khẽ khàng đặt chiếc cốc trước mặt tôi. Tóc cô quét trên mặt bàn khi cô cúi người về phía trước. Cô có mái tóc tuyệt đẹp. Hẳn phải rất nhiều người ghen tị với cô.
- Björne đâu? Tôi hỏi.
- Chịu, không biết, Olga trả lời. Có lẽ là đến muộn.
- Cậu đang đùa đấy à? Anh ta lúc nào cũng đến đúng giờ. Có lẽ anh ta ốm chăng, tôi gợi ý.
- Nếu thế thì tớ sẽ ngạc nhiên lắm đấy, Mahnoor lẩm bẩm. Anh ta không có dấu chấm đỏ nào suốt sáu tháng nay rồi.
Cả ba chúng tôi cùng im lặng. Tôi nhấp môi vào cốc cà phê nóng bỏng, cố gắng lờ đi cơn buồn nôn. Tôi ép mình không nghĩ đến hành khách bí mật đang đeo bám đâu đó ở nơi sâu thẳm trong cơ thể.
- Còn cậu thì đã có mười chấm đỏ trong tháng này rồi đấy, Olga vừa tuyên bố vừa rọi ánh mắt vào tôi.
Giọng cô không hề có chút tế nhị hay cảm thông nào. Cô nhận xét về sự việc liên quan đến tôi cũng khách quan chẳng kém gì khi cô cho một khách hàng biết giá của một chiếc quần lót.
- Tớ tin chắc là mọi việc sẽ ổn thôi, Mahnoor vừa nói vừa khe vuốt tay tôi.
- Không đâu, sẽ không ổn được đâu. Nếu có quá nhiều chấm đỏ, ta sẽ bị sa thải.
- Tớ bị ốm mà.
- Quan trọng gì đâu, Olga nói tiếp, như thể cô đang giải thích một điều đơn giản nhất trần đời cho một đứa trẻ đã bé tí xíu lại còn ngốc nghếch nữa.
Những ngón tay cô gõ nhịp trên mặt bàn, như thể chúng đang tìm cách lẩn trốn. Chúng dài đến nỗi khiến tôi khi nhìn hai bàn tay cô lại nghĩ đến những con dao.
- Phải âu lo công việc của mình, và cho dù ta có ốm thì cũng vẫn phải đến. Ta phải nỗ lực, Olga khẳng định bằng cách dằn từng tiếng.
- Âu lo? Ý cậu muốn nói là chăm lo phải không? Mahnoor chỉnh lại, nhưng Olga không nghe cô nói.
- Phải âu lo tất cả các mối quan hệ. Có những khi ta phải làm những việc mà ta không muốn để giữ cho gia đình được yên ấm. Chẳng hạn, nếu tớ muốn Alex vui lòng, tớ phải thổi kèn cho anh ấy khi anh ấy về nhà vào buổi tối.
- Lại chuyện ấy rồi! Mahnoor phản đối. Dù sao hai chuyện cũng đâu có giống nhau.
- Có chứ! Ta phải nỗ lực, dù là ở nhà hay ở chỗ làm.
Mahnoor tỏ rõ vẻ khó chịu. Cô đứng dậy, đặt cốc cà phê lên mép bồn rửa khiến nó kêu đánh cạch một tiếng. Một chút chất lỏng màu nâu sánh ra ngoài.
- Cậu đúng là ngốc, cậu biết thế phải không? Chúng ta đâu có đang ở Nga, cô nói tiếp rồi quả quyết đi ra khỏi khu bếp.
Mùi nước hoa nồng nặc của cô vẫn phảng phất trong phòng.
- Tại sao cô ấy lại phản ứng như thế?
- Tớ không biết.
Chúng tôi nghiền ngẫm băn khoăn ấy một lát. Điện thoại đổ chuông, nhưng Mahnoor nhanh nhẹn hơn chúng tôi, hẳn là cô đã nhấc điện thoại ngoài quầy, bởi vì tôi nghe thấy cô nói chuyện với ai đó trong cửa hàng.
- Cậu sẽ xin lỗi chứ? Tôi hỏi Olga.
- Xin lỗi? Tại sao? Chính cô ấy lên cân mà.
- Lên cơn , chắc cậu muốn nói thế.
- Whatever [9] . Cô ấy tưởng mình cao giá hơn chúng ta, vì cô ấy có đi học đại học.
Olga mím môi rồi khoanh hai tay trước ngực.
Có tiếng bước chân lại gần. Mahnoor xuất hiện trong khung cửa và qua thái độ của cô, tôi biết là đã xảy ra chuyện gì đó.
- Là Björne, cô nói bằng giọng hổn hển, như đang hụt hơi. Anh ta bị một chiếc xe buýt đâm phải. Anh ta không chết đâu, nhưng sẽ vắng mặt trong một thời gian. Có lẽ là một tháng.
Cả Olga lẫn tôi đều không có phản ứng gì. Chúng tôi không thích Björne, nhưng cũng không muốn có chuyện gì tồi tệ xảy đến với anh ta. Ý nghĩ về việc thân hình gầy gò của anh ta nằm bên dưới xe buýt khiến tôi cảm thấy buồn nôn lần nữa.
- Tội nghiệp Björne, Olga thì thầm.
- Ừ, tội nghiệp Björne, Mahnoor nhắc lại.
- Thế bây giờ chúng ta làm gì? Tôi hỏi.
- Chúng ta phải quản lý cửa hàng, Mahnoor đáp lời tôi và thẳng người hơn một chút. Họ đã đề nghị tớ làm người phụ trách cho đến khi có lệnh mới.
Tôi tự hỏi liệu Mahnoor đã được chọn lựa để làm người phụ trách cửa hàng, hay người ta đã giao cho cô việc ấy vì cô là người nhận điện thoại.
- À phải, còn một việc nữa, cô nói tiếp. Có vẻ như lại có thêm những bài báo về vị tổng giám đốc yêu quý của chúng ta. Nếu có phóng viên nào liên hệ, chúng ta không được trả lời những câu hỏi của anh ta. Phải bảo anh ta liên hệ với trụ sở.
- Sếp của chúng ta lại làm chuyện ngu ngốc gì chăng?
Olga nở một nụ cười ranh mãnh.
Mahnoor nhún vai.
- Chịu, không biết.
Nhưng Olga không chịu buông tha.
- Bạn của cậu, cô nàng ở bộ phận nhân sự ấy… cô ta đang điều tra về sếp à?
- Cô ấy không làm ở bộ phận nhân sự, cô ấy thuộc bộ phận tài chính. Nhưng đúng thế đấy, có vẻ như Jesper Orre đã để công ty chi trả bữa tiệc sinh nhật của anh ta. Tớ không biết gì thêm đâu.
Bữa trưa của tôi là một đĩa xa lát bọc trong lớp giấy bóng. Những con tôm mềm và nhạt nhẽo đến nỗi tôi khó mà hình dung nổi rằng một ngày kia chúng từng sống giữa biển khơi. Tôi có cảm giác như chúng được làm bằng bột nhồi với nước luộc cá thì đúng hơn.
Tôi ngồi trước máy vi tính đặt trên cái bàn nhỏ trong phòng nghỉ. Bên trái tôi là khu bếp. Chiếc bàn oằn mình dưới những chồng tạp chí. Một cái bát nhựa giống hệt bát của tôi, bên trong có vài con tôm, bị bỏ quên bên cạnh chậu rửa.
Tôi lau tay bằng một chiếc khăn, kéo bàn phím lại gần rồi gõ tên Jesper Orre vào thanh tìm kiếm. Sau vài giây, bài báo “Jesper Orre bị kết tội quấy rối tình dục” hiện lên trên màn hình. Tôi nhấp chuột vào đường liên kết và đọc lướt bài báo. Một phụ nữ từng “làm việc bên cạnh” Jesper trong vài năm kết tội anh quấy rối tình dục. Cả tên tuổi lẫn nơi làm việc của cô ta đều không được nêu, nhưng bởi vì họ từng hợp tác với nhau, tôi suy ra rằng đó là một người làm ở trụ sở. Có lẽ là thư ký hoặc một ai đó thuộc bộ phận marketing. Cả Jesper lẫn công ty đều không muốn phát biểu gì về chuyện này, nhưng “những nguồn tin đáng tin cậy” khẳng định rằng người ta đã tiến hành một cuộc điều tra nội bộ.
Tôi suy nghĩ. Không biết vì lý do gì, bài báo này khiến tôi khó chịu. Jesper thường nói với tôi là anh bị soi mói , rằng ta có thể chia những người xung quanh anh thành hai loại: đám thiên lôi chỉ đâu đánh đấy không rời anh nửa bước, và những kẻ ra sức phá hỏng công việc của anh trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thông thường, mọi người tự giới thiệu mình như các đồng minh trước khi chậm rãi trở thành những kẻ phá hoại khi không đạt được phần thưởng mong muốn.
Tôi hình dung rằng người phụ nữ kia nằm trong số những kẻ phá hoại. Jesper là một con mồi dễ dàng. Cuộc săn chống lại anh đã mở màn. Đối với những người kết tội anh, đó là một cách dễ dàng để thu hút sự chú ý, và có thể là để trả thù một hành động xúc phạm xưa cũ nào đó. Jesper nói đúng. Đang có dấu hiệu về một cơn bão táp ở cấp cao của công ty. Anh đang bị soi mói và không thể tin tưởng bất kỳ ai.
Ấy thế nhưng, cũng có thể tôi đã lầm.
Tôi có thực sự hiểu rõ Jesper không?
Tôi lại cúi xuống đọc bài báo, ánh mắt tôi nhìn sững vào cái tên tít bên dưới. Anders Svensson . Nó gợi nhắc cho tôi đến điều gì đó. Tôi nghe thấy cái tên này ở đâu nhỉ?
Tôi nhớ ra rồi: đó chính là gã phóng viên đã đến cửa hàng, hỏi han tôi về điều kiện làm việc và đã đưa cho tôi tấm danh thiếp. Tấm danh thiếp mà tôi đã cất vào cái hộp đựng bánh đầy phè, cùng với mớ hóa đơn.
Mahnoor bước vào phòng, ngồi xuống chiếc ghế trước mặt tôi.
- Cậu đang làm gì thế?
Tôi vội vàng tắt máy vi tính.
- Chẳng có gì đặc biệt cả. Nhà tớ đang mất mạng Internet, thế thôi.
Cô chậm rãi gật đầu.
- Mà này, cậu ổn không? Tôi hỏi. Tớ có cảm giác là lúc trước cậu đã phật ý.
Mahnoor thở dài rồi ngước mắt nhìn lên trần nhà.
- Olga có quan điểm đáng sợ về phụ nữ, cậu không thấy thế sao? Thật ngu ngốc. Cứ như thể cô ấy vừa bước ra từ thế kỷ mười chín vậy.
- Tôi ngẫm nghĩ. Olga rất khác biệt. Tôi chưa bao giờ băn khoăn quan điểm của cô ấy về phụ nữ, mà chủ yếu là về sự thiếu thông cảm của cô, về việc những nhận xét của cô cũng có thể khiến người ta đau đớn chẳng khác gì những cái tát - dù chắc hẳn là cô không cố ý.
- Tớ chưa từng nghĩ về chuyện đó, tôi nói.
- Nhưng tớ thì có.
- Mà này, hôm nay tớ về sớm hơn một chút được không?
Cô đưa mắt nhìn tôi dò hỏi.
- Được, không vấn đề gì. Dù sao, tớ cũng phải đóng cửa. Vì bây giờ tớ là… người phụ trách, đại loại thế.
Cô trưng ra vẻ mặt cáu kỉnh mà tôi thấy vừa hài hước vừa khó chịu.
- Cảm ơn, thế thì tốt quá. Tớ có chút việc phải làm.
Khi Mahnoor và tôi đóng cửa hàng, một phụ nữ to béo có mái tóc nhuộm phai màu mặc chiếc áo vét quá chật đi qua đằng trước tủ kính và tôi không thể ngăn mình nhớ đến mẹ tôi. Tôi nhớ đến một hôm cả hai mẹ con đang nằm trên giường. Đó là một trong những thời khắc thân mật và yêu thương vừa hiếm hoi vừa quý giá thường xảy đến khi mẹ và cha tôi đã mệt mỏi và giận dữ một thời gian dài.
Mẹ vuốt tóc tôi. Khuôn mặt bà có vẻ nghiêm trang.
- Emma, con gái cưng bé nhỏ của mẹ.
Tôi không trả lời mà chỉ nhắm mắt lại, để cho hơi ấm của cái chăn và sự hiện diện của mẹ bao bọc lấy mình.
- Mẹ xin lỗi vì đôi khi mẹ đã quá… quá giận dữ, đôi khi là quá dữ tợn, đột nhiên mẹ nói.
Tôi mở mắt, bắt gặp ánh mắt mẹ. Trông mẹ có vẻ đau đớn, như thể mẹ đang bị đau bụng và cần uống một trong những viên thuốc màu trắng mà bà cất tít trên ngăn cao nhất của chiếc tủ.
- Không sao đâu ạ, tôi trả lời.
Khuôn mặt mẹ giãn ra.
- Chỉ là vì… đôi khi mẹ căng thẳng quá… mệt mỏi quá… đến nỗi mất cả kiên nhẫn.
Vậy là ta có thể đánh mất sự kiên nhẫn giống như đánh mất chìa khóa sao? Nếu vậy, ta cũng có thể tìm lại sự kiên nhẫn ấy. Nhưng tôi không nói thế với mẹ, vì không muốn phá hỏng cái khoảnh khắc quá đỗi mong manh và hoàn hảo này. Tôi nhận ra rằng chính tôi là người phải giữ gìn nó.
- Không sao đâu ạ.
- Có đấy , con gái cưng ạ. Có, có sao đấy. Mẹ muốn con biết điều đó. Mẹ nổi cáu như vậy là không tốt. Không hề tốt chút nào. Mẹ là người lớn, lẽ ra mẹ phải đủ khả năng tự kiểm soát bản thân.
Lúc này, giọng bà đầy ắp những tiếng nức nở cố nén, và tôi tuyệt đối không muốn mẹ òa khóc. Đột nhiên, tôi thấy mình có một sứ mệnh căn bản: không để mẹ buồn. Bởi vì nếu mẹ òa khóc, mẹ sẽ không thể nào dừng lại nữa, cả ngày sẽ hỏng bét và tất cả là do lỗi của tôi.
- Con không thấy mẹ nổi cáu. Con thấy mẹ tốt bụng.
- Ôi, con gái cưng bé nhỏ của mẹ, con mới đáng yêu làm sao, bà thì thầm rồi hôn lên miệng tôi.
Tôi ngửi thấy thứ mùi chua gắt của cà phê và sữa để lâu, nhưng không rụt đầu ra sau. Trái lại, tôi nằm im để mẹ có thể tặng cho tôi một nụ hôn thực thụ. Đúng lúc ấy, chuông điện thoại reo vang ở cửa ra vào.
- Mẹ sẽ quay lại ngay.
Mẹ trở dậy và quấn chiếc áo choàng ngủ màu hồng quanh tấm thân đồ sộ.
Bên ngoài, mặt trời rực rỡ và đám trẻ con trong các tòa nhà lân cận đang đi học. Về phần tôi, tôi bị ho từ nhiều ngày nay và mẹ tôi đã năn nỉ để giữ tôi ở nhà - chuyện này khiến cha tôi tức giận. Ông thấy là chúng tôi không nên vẽ chuyện . Và với ông, nằm trên giường chỉ vì bị ho mà không sốt, chính là vẽ chuyện .
Tôi rất thích ở riêng với mẹ cả ngày. Hiếm khi tôi thấy mẹ khỏe mạnh và vui vẻ. Buổi tối, mẹ luôn ngồi trong bếp với cha tôi, để uống bia, còn buổi sáng, mẹ luôn mệt mỏi, thậm chí là kiệt sức, và cần được nghỉ ngơi trước khi có thể trở dậy.
- Không, chúng tôi không nuôi con vật cưng nào. Sao thế?
Tôi nghe rành rọt tiếng mẹ nói ngoài cửa. Giọng mẹ lanh lảnh hơn một chút, như thể mẹ đang nổi cáu với ai đó. Mẹ thường có sắc giọng ấy vào buổi tối, ngay trước khi mẹ nổi nóng và những lon bia cùng những cái đĩa bắt đầu bay trong bếp, về phía cha tôi.
- Chuyện này thì tôi không hiểu. Sao cơ, con bé khó thiết lập mối quan hệ với những đứa trẻ khác? Con gái tôi chẳng có vấn đề gì trong việc chơi với những đứa khác cả. Nó có cả đống bạn trong khu phố.
Im lặng.
- Tôi không tin. Tôi sẽ hỏi con bé, nhưng tôi có cảm giác là ở trường con bé cũng có bạn.
Tôi trở dậy để đóng cửa. Lồng ngực tôi đột nhiên như bị bóp nghẹt, mặc dù tôi không buồn ho.
- Những nhu cầu đặc biệt? Chắc cô đang nói đùa. Mà gặp gỡ các con vật thì làm sao mà cải thiện tình hình được? Đâu phải nhờ băng bó cho một con ngựa hoặc vuốt ve một con chó mà ta chiến thắng được tính nhút nhát cơ chứ. Bởi vì đúng thế, tôi tin là con bé chỉ nhút nhát thôi, không gì khác, bởi lẽ…
Tôi đóng cánh cửa lại rồi quay vào giường. Tôi đưa mắt nhìn ra cửa sổ.
Khu vườn được tô điểm bằng những màu sắc của mùa hè. Cây cối rạng ngời với đủ thứ sắc thái của màu xanh lá. Đám cây cảnh trồng trong bồn đang nở rộ những bông hoa. Bên cạnh những cái xích đu, khóm tường xuân phủ đầy những cánh hoa màu hồng nhạt chẳng bao lâu sẽ biến thành những quả cứng đựng đầy thứ lông gây ngứa hạng nhất.
Tôi nằm xuống giường, cầu mong rằng mẹ tôi sẽ gác máy. Rằng mẹ sẽ quay vào, rằng mẹ sẽ chui vào nằm trong chăn cùng tôi và rằng mẹ sẽ dịu dàng, tốt bụng trở lại.
Tôi muốn được vuốt ve, được vẽ chuyện.
Lồng ngực tôi vẫn thắt nghẹn một cách lạ lùng. Như thể có ai đó đã quấn một sợi dây thừng quanh người tôi thành nhiều vòng và siết thật mạnh.
Đúng lúc ấy tôi nhận thấy điều gì đó. Một cử động trên sàn nhà, bên cạnh giường tôi. Bằng một động tác thật khẽ khàng, tôi nhấc chiếc bình thủy tinh lên. Trên một trong mấy cái cành trơ trụi đầy gai, tôi nhìn thấy một con bướm xanh thật lớn. Thân nó màu đen, múp míp, lơ thơ mấy sợi lông, đôi cánh có màu xanh cô ban đậm với họa tiết màu đen ở đầu mút. Con bướm duyên dáng đập cánh, như thể nó đang luyện tập để cử động sau một thời gian thật dài bị giam cầm trong cái kén nhỏ.
Trời đã tối hẳn và tôi bước đi dọc quảng trường Sergelstorg về phía phố Hamngatan. Chiếc ô chỉ che được một nửa người tôi - những cơn gió cuồng nộ thổi thốc những giọt nước li ti vào mặt tôi. Các con phố vắng vẻ lạ lùng. Đó đây, tôi bắt gặp một khách bộ hành rảo bước trong bóng tối. Khi tôi đến phố Regeringsgatan, đã là mười bảy giờ. Cửa hàng H&M to tướng cũng sáng rực chẳng kém gì những chuyến phà đang khởi hành sang Phần Lan và dường như đang gào lên thông điệp của nó, hứa hẹn một cuộc đời đẹp đẽ hơn và phấn khích hơn ở phía bên kia tủ kính. Vài phụ nữ tóc ướt nhẹp lang thang vô định giữa các kệ hàng, bàn tay khẽ lướt trên mớ quần áo trưng bày.
Tôi rẽ trái để đi vào phố Norlandsgatan, rồi đi tiếp chừng một trăm mét nữa. Tôi nhìn thấy lối vào trụ sở Clothes&More ở bên kia đường. Cánh cửa lớn bằng gỗ được chiếu sáng yếu ớt, gần như có ánh lân tinh trong cảnh tranh tối tranh sáng.
Tôi nhận thấy một cửa vòm ngay bên cạnh. Tôi lẩn mình vào vùng bóng tối, sung sướng vì có chỗ để tránh mưa. Ở đây, tôi có thể chờ đợi mà không bị ai nhìn thấy. Vấn đề là liệu tôi có thể nhìn rõ người ra người vào tòa nhà ở bên kia đường hay không. Nó nằm cách tôi khá xa, mà trời thì tối.
Tôi xỏ găng tay rồi chuẩn bị tinh thần để chịu đựng nỗi sốt ruột. Chừng năm phút sau, cánh cửa đối diện mở để cho hai người phụ nữ trạc tuổi tôi đi qua. Họ mở ô rồi băng qua phố trong tiếng cười khúc khích. Gió thốc vào một trong hai chiếc ô khiến nó bị lật. Hai người phụ nữ càng cười to hơn. Tôi chắc chắn là họ không thể nhìn thấy tôi, lúc này đang co rúm người trong vùng bóng tối.
Rất nhiều lần, một câu hỏi len lỏi trong tâm trí tôi: phải chăng tôi điên hẳn rồi? Tôi đứng đó, dưới mưa, để rình chờ Jesper. Như thể tôi đang quấy rầy anh. Nếu một tháng trước có người nào đó nói với tôi chuyện này, hẳn tôi sẽ nghĩ là anh ta bị điên.
Thế nhưng… Trong tình cảnh hiện tại, tôi thực sự không có lựa chọn nào khác. Tôi phải nói chuyện được với anh. Có biết bao điều tôi không biết về Jesper, có biết bao khoảng trống cần khỏa lấp. Biết bao lỗ hổng và rất ít vật chất để tôi có thể tựa vào. Mưa rơi nặng hạt trong suốt một giờ. Cánh cửa phía bên kia phố đều đặn mở để mọi người từ đó bước ra rồi biến mất trong đêm tối. Không một người nào nhìn về phía tôi. Như thể tôi đã thực sự vô hình, như thể tôi đã trở thành một phiến đá trên mặt đất. Mặc dù đang đứng dưới một mái vòm, vài giọt mưa đi lạc vẫn bắn tới tận chỗ tôi, đậu vào chân tóc tôi, gáy tôi và cổ tay tôi. Náu mình trong vùng tranh tối tranh sáng, tôi đi đi lại lại tại chỗ và kín đáo xoa hai cánh tay cho ấm.
Đúng mười tám giờ mười lăm phút, anh xuất hiện.
Tôi lập tức nhận ra anh. Anh mặc một chiếc áo choàng màu đen mở phanh, nó bay phấp phới sau mỗi bước chân, để lộ bộ com lê trên người anh. Anh vội vã đi về phía phố Hamngatan. Đột nhiên, cả người tôi tê liệt, như thể thân hình tôi không còn nghe lời tôi nữa, như thể nó đã biến thành một tảng thịt ương ngạnh, đông cứng, liền một khối với vỉa hè ẩm ướt.
Đã gần một tuần chúng tôi không gặp nhau. Thế nhưng tôi lại có cảm giác đã nhiều tháng trôi qua. Chừng ấy cuộc gọi, chừng ấy tin nhắn, thế rồi bây giờ anh đang ở đó, người đàn ông mà tôi yêu, một cái bóng trong màn mưa.
Tôi đột ngột thoát khỏi trạng thái đờ đẫn, ra khỏi nơi ẩn náu rồi chạy lon ton theo anh. Nước mưa táp vào mặt tôi, nhưng tôi không có thời gian để dừng lại mở ô, vì sợ rằng sẽ để mất dấu anh, sợ rằng anh sẽ biến mất trong bóng tối.
Dáng điệu của anh đầy tự tin và duyên dáng đến lạ lùng, gần như anh đang khiêu vũ dưới màn mưa. Thế rồi, đột nhiên, anh biến mất, như bị nuốt chửng vào mặt đường nhựa đen sì của phố Regeringsgatan. Tôi dấn bước, và khi đến nơi anh đã bốc hơi, tôi phát hiện ra lối vào một bãi đỗ xe.
Đương nhiên rồi.
Lẽ ra tôi phải ngờ đến điều này chứ! Anh lấy xe để đi làm. Bây giờ thì tôi sẽ làm cách nào để bám theo anh đây?
Tôi đưa mắt nhìn một lượt xung quanh. Không có chiếc xe nào trong tầm mắt. Cả taxi lẫn xe riêng. Cách tôi chừng hai chục mét, một cánh cửa mở ra. Những ánh đèn pha sáng lên bên trong ga ra. Anh đang ngồi sau tay lái một chiếc Lexus màu đen. Trong một thoáng, tôi nhìn thấy vóc dáng anh hiện rõ trong luồng ánh sáng của bãi đỗ xe. Anh lái xe xuống lòng đường rồi rẽ về phía quảng trường Stureplan.
Cơn mưa không còn quan trọng nữa, thậm chí tôi chẳng còn cảm thấy nó. Tôi đi xuống phố Hamngatan, về phía Nybroplan. Nếu khẩn trương, mười lăm phút nữa tôi sẽ về đến nhà. Nhưng vội vã mà làm gì? Không có người nào chờ đợi tôi, và tôi cũng chẳng có việc gì để làm.
Khi nhìn thấy công viên Kungsträdgården vắng ngắt và im ắng, tôi chợt nảy ra một ý muốn là băng qua phố, đi vào khu vườn rộng lớn đó và nằm dài đâu đó, dưới một gốc cây chẳng hạn. Để cho thảm cỏ ướt nước chào đón tôi, cảm thấy thân thể tôi nặng trĩu, hòa làm một với cây cối, lớp sỏi và lớp lá vàng ẩm ướt. Biến mất. Quên lãng. Chết đi, có lẽ là thế.
Rồi tôi nghĩ đến Ốc Vít.
Làm sao không nghĩ đến gã khi mà mọi thứ đang như thế này kia chứ.
Thoạt nhìn, gã có vóc dáng khá tầm thường. Mái tóc nâu dài ngang vai, quần jean rách lúc nào cũng hơi lụng thụng, sơ mi kẻ ca rô. Và gã già, tất nhiên.
Ít nhất cũng phải hai mươi lăm tuổi.
Học kỳ đó, chúng tôi nói nhiều về gã. Tất cả đám con gái đều kể lại những câu chuyện ngồi lê đôi mách. Tôi không thể khẳng định là tôi thường xuyên giao du với họ. Tôi là một thứ outsider , một người quan sát trò chơi giao tiếp mà không thực sự tham gia. Có thể hồi đó tôi hơi nhút nhát - hoặc đơn giản là thờ ơ.
Trí nhớ hẳn đang chơi khăm tôi.
Mùa thu ấy, chúng tôi làm những con dao cắt bơ, những cái bát và những món đồ vô ích khác để tặng cho cha mẹ và bạn bè. Con dao cắt bơ gây cho tôi không biết bao nhiêu phiền toái. Thoạt tiên, nó quá to và trông như một người bụng phệ, thế rồi sau khi tôi điều chỉnh tỷ lệ thì nó càng ngày càng nhỏ, để rồi rốt cuộc giống như một cái dùi trống nhỏ xíu.
- Cẩn thận, nó có nguy cơ biến mất hoàn toàn đấy, Ốc Vít vừa nói vừa nháy mắt với tôi.
Tôi cảm thấy mặt mình nóng bừng, và không thể thốt ra lời nào.
“Cậu có thấy anh ấy đáng yêu không?” Elin hỏi tôi ngay sáng ấy. “Tớ không biết”, tôi trả lời như thế, và đúng là vậy, bởi vì tôi chưa từng hỏi mình câu ấy. Cho dù gã trẻ tuổi hơn và không đáng chán bằng các giáo viên khác, nhưng gã vẫn là thầy giáo của tôi.
Và với chúng tôi, dù sao gã cũng vô cùng già.
- Lát nữa thầy sẽ đến giúp em, Emma ạ.
Gã lướt ngón tay to tướng trên bề mặt gỗ lồi lõm, khiến những vụn gỗ nhỏ xíu rơi xuống bàn. Tôi cảm thấy ánh mắt gã đặt vào tôi, nhưng không dám ngước mắt lên. Tôi chỉ gật đầu để thể hiện thái độ đồng ý.
Cũng năm ấy, vào mùa xuân, cha tôi chìm trong một cái hố đen. Một cái hố mà chỉ mình ông có thể nhìn thấy, và vì một lý do không thể hiểu nổi nào đó, nó sâu đến nỗi ông không thể nào tự mình thoát ra được. Chìm trong nỗi tuyệt vọng và sợ hãi, ông sống suốt ngày trong tình cảnh cô độc mà chính ông lựa chọn, giam mình trong căn hộ nhà chúng tôi trên phố Kapellgränd. Hình như người ta gọi đó là trầm cảm . Bên ngoài, mùa xuân khiến thiên nhiên tái sinh trong khi cha tôi càng ngày càng mệt mỏi hơn, ông nhìn chăm chăm vào mảng giấy dán tường có vẽ những họa tiết rong biển, như thể những thân tảo dài xanh ngắt kia có thể mang lại cho ông một câu trả lời nào đó. Mẹ tôi tìm cách nói chuyện với ông. Họ trò chuyện hồi lâu bằng giọng khe khẽ trong phòng ngủ. Tôi cố gắng nghe xem họ nói gì, nhưng không được. Dù thế nào, đó là những chuyện khủng khiếp đến nỗi ta chỉ có thể nói về chúng bằng giọng thì thầm.
Những lon bia và những chai rượu vang biến mất khỏi phòng bếp theo đà suy sụp của cha tôi. Thậm chí khi đi học về, tôi còn thấy mẹ tôi đang nấu ăn. Cuốn những chiếc nem thịt hoặc nấu món xúc xích Falun có khía chung với những khoanh cà chua và hành tây rồi bỏ lò phô mai. Cảnh tượng ấy khiến tôi căng thẳng - tôi không còn quen nhìn thấy mẹ chơi trò gà mái nữa. Những dự định nho nhỏ của mẹ đa số là kết thúc bằng thảm họa. Giống như khi mẹ quyết định may rèm. Vì không thể cắt ra được những mảnh vải có khổ cân xứng nhau, mẹ đã xé tấm vải thành những dải dài rồi ném qua cửa sổ. Những dải vải giăng mắc trên những bụi cây suốt nhiều tháng ròng, gợi nhắc đến những tấm rèm không bao giờ được hoàn tất và tính khí hay bùng nổ đầy nguy hiểm của mẹ tôi. Bà đã ném cái máy khâu vào chân cha tôi, khiến ông bị một vết bầm to tướng màu xanh thẫm.
Tôi nhìn con dao cắt bơ lần nữa, rồi thở dài.
- Sao thế? Elin hỏi khi nhìn thấy biểu cảm đáng ngại của tôi.
- Nó xấu quá.
Elin không đáp lại. Cô quay trở lại chăm chút cho chiếc hộp gỗ nhỏ xinh xắn. Tất cả những gì Elin làm trong xưởng mộc đều thành công tốt đẹp. Cứ như thể đôi bàn tay nắm giữ những quyền năng ma thuật, như thể theo bản năng chúng biết rõ chúng phải làm gì khi tiếp xúc với gỗ, vải hoặc giấy. Không giống đôi bàn tay tôi. Đôi bàn tay tôi không chịu vâng lời tôi: chúng phá hỏng, làm méo mó tất cả những gì tôi chạm vào. Dù sao, đó cũng là cảm giác của tôi.
Elin nhẹ nhàng chà giấy nhám lên cái nắp hộp đã hoàn hảo để mài nhẵn một chỗ mấp mô vô hình nào đó, trong lúc miệng cô thổi chiếc kẹo cao su đang ăn thành một quả bóng lớn. Marie, ngồi ở bàn đằng trước Elin, ngả người trên ghế để quay sang phía cô bạn.
- Cậu có đến dự bữa tiệc của Micke không?
Elin nhún vai.
- Tớ chưa biết. Tối đó còn có cả bữa tiệc của Petra.
- Petra là một con ngốc.
Elin thoáng nở một nụ cười.
- Còn Micke thì quá thảm hại.
Marie phá lên cười khi nghe thấy Elin phân tích về các sự kiện khác nhau trong tối thứ Sáu. Cô quét mái tóc dài trong không khí rồi quay lại hướng cũ. Về phần mình, tôi cụp mắt xuống con dao cắt bơ dị hình dị dạng. Sẽ không bao giờ có người nào hỏi tôi có đến dự bữa tiệc nào đó không. Mọi người cũng không chế giễu tôi.
Chưa bao giờ có học sinh nào quấy rầy tôi. Xét cho cùng, như thế giống với việc tôi không tồn tại. Tôi cũng vô nghĩa như một trong những chiếc ghế trong phòng.
Tôi không rõ mình phải nghĩ thế nào về chuyện này. Có lẽ tôi nên phật ý, cảm thấy bản thân bị loại trừ, bị xúc phạm. Trên thực tế, đó hầu như là một sự an ủi. Tôi không hề muốn đến dự bữa tiệc của Micke, nốc rượu đến say khướt rồi nôn ra cả mật xanh mật vàng vào những chậu cây cảnh hoặc ngủ lịm đi trong phòng tắm. Tôi không đủ sức để nghe những câu chuyện ba hoa muôn thuở của Marie về gã bạn trai của cô ta hoặc lang thang với Elin đằng trước các cửa hàng. Tôi thà ở nhà xem tivi còn hơn.
Chuông reo.
Lớp học vắng dần, nhưng Ốc Vít ra hiệu bảo tôi ở lại.
- Em không nói nhiều nhỉ, gã nói.
Biết trả lời thế nào đây? Tôi siết chặt con dao cắt bơ trong tay và cảm thấy bàn tay tôi ướt nhẹp còn hai má thì đỏ bừng.
- Em rất xinh, em biết điều đó chứ?
Ốc Vít kéo một cái ghế rồi ngồi xuống bên cạnh tôi. Gã cúi người về phía trước. Mặt chúng tôi sát gần nhau.
- Cảm ơn.
Lần đầu tiên, tôi bắt gặp ánh mắt gã. Hai mắt gã hầu như sát nhau, được viền bằng những hàng lông mi rợp, có màu nâu ấm áp. Vài sợi tóc xám vểnh lên giữa mái tóc đen bù xù rậm rạp, giống như những cái cây khô giữa một khu rừng tốt tươi.
- Xin lỗi, thầy không muốn đường đột, nhưng thầy có một điều băn khoăn.
Gã im bặt, khẽ cười thành tiếng rồi chậm rãi lắc đầu, như thể gã đang ngượng ngập. Trong hành lang, những tiếng rúc rích và tiếng chân lịm dần, nhường chỗ cho sự tĩnh mịch.
- Vâng?
Gã nhắm mắt lại.
- Em có bạn trai không, Emma?
Thứ mùi quen thuộc của thức ăn và khói thuốc lá lưu cữu trong phòng ngoài lại có tác dụng xoa dịu đến đáng kinh ngạc. Tôi ngắm nghía hai bàn tay mình. Chúng tái xanh và ẩm ướt, nhưng đã không còn run nữa. Đâu đó trong bóng tối, Jesper Orre đang đỗ chiếc xe Lexus to tướng màu đen của anh, bước vào cái nơi mà anh gọi là nhà. Tôi cố gắng không nghĩ đến chuyện đó, nhưng ý nghĩ rằng hẳn lúc này anh đang yên vị trên chiếc ghế xô pha, có thể là với một ly rượu vang trên tay, khiến tôi đau đớn.
Khi tôi bước lên bậc cầu thang, đôi giày của tôi để lại những vết ướt trên mặt đá cũ kỹ. Tôi bắt đầu nhận ra rằng Jesper che giấu tôi điều gì đó. Tại sao chúng tôi chỉ gặp nhau trong căn hộ nhỏ của anh hoặc ở nhà tôi? Tại sao việc không để người khác bắt gặp chúng tôi ở bên nhau lại quan trọng với anh đến thế? Liệu có thể chỉ là vì công việc của anh hay không?
Ngay khi cắm chìa khóa vào ổ, tôi đã hiểu ra rằng có điều gì đó không ổn. Cánh cửa không khóa, và khi mở cửa, tôi nghe thấy một tiếng cạch vọng ra từ bên trong căn hộ. Tôi luôn xoay chìa khóa hai vòng khi ra khỏi nhà và không có người nào khác ngoài tôi có chìa khóa nhà - kể cả Jesper.
Tôi đưa mắt nhìn một vòng xung quanh. Sau lưng tôi, khoang cầu thang chìm trong bóng tối và hoàn toàn im ắng. Nếu có người nào trốn ở đó, tôi cũng không thể nhìn thấy. Dạ dày tôi thắt lại.
Tôi khẽ khàng để cửa ra vào mở hé. Hành lang vắng tanh. Không một tiếng động. Không có dấu vết nào của khách khứa. Tôi đưa tay ra, quờ quạng tìm công tắc điện. Vài giây sau, tôi nhón chân bước vào phòng ngoài chìm ngập trong ánh sáng.
Dường như không có bất cứ đồ đạc nào bị di chuyển, nhưng tôi cảm thấy thứ gì đó: một luồng gió lạnh thổi qua căn hộ và luồn dọc hai mắt cá tôi. Tôi đóng cánh cửa lại sau lưng và tất cả yên tĩnh trở lại, nhưng trong nhà rất lạnh, quá lạnh, và tôi tự hỏi phải chăng có một cửa sổ đang mở. Không cởi giày, tôi đi vào phòng khách và bật đèn trần. Mọi thứ đều có vẻ bình thường: những chiếc ghế bành Carl Malmsten thanh lịch, chiếc bàn nhỏ nơi những cuốn giáo trình môn vật lý vẫn đang để mở. Tuần trước, thậm chí tôi còn không có thời gian để nghĩ đến khóa học. Hay là tôi cũng cất mớ giáo trình vật lý ấy vào hộp bánh nhỉ, để khỏi phải nhìn thấy chúng?
Trong lúc đi tiếp vào phòng bếp, tôi hiểu rằng có điều gì đó không ổn. Tôi nghe quá rõ tiếng mưa và tiếng ầm ì của thành phố, gần như khi tôi đứng ngay giữa trời bão gió. Tôi bật đèn và đứng sững nơi ngưỡng cửa.
Cửa sổ mở toang.
Tôi chỉ mở cửa sổ này vào những dịp hiếm hoi, thế nhưng lúc này nó đang há hoác, mời gọi toàn bộ màn đêm chui vào căn hộ. Tôi lại gần để đóng cánh cửa, và bỗng giật nảy mình.
Sigge.
Tôi hét to tên con vật rồi tìm nó khắp các phòng. Dưới gầm giường và gầm xô pha, trong các ngăn tủ đóng kín, trên giá đựng mũ, trong bồn tắm. Hoài công vô ích. Sigge không có thói quen lẩn trốn. Càng lúc tôi càng tin chắc rằng nó đã biến mất qua đường cửa sổ.
Trong lúc quay trở vào bếp, tôi cố gắng nhớ xem có phải tôi đã quên khóa cửa trước khi đi làm hay không, nhưng ký ức về những hành động buổi sáng vừa rồi đều lẩn trốn tôi. Từ lúc đó đến giờ mới chỉ có mấy tiếng đồng hồ, nhưng tôi có cảm giác như cả nghìn năm đã trôi qua.
Tôi cúi người qua cửa sổ phòng bếp, sâu hết mức tôi dám cúi, rồi hét gọi tên Sigge. Mưa quất vào gáy tôi. Bên dưới tôi năm tầng, khoảnh sân tạo thành một hình chữ nhật tối om. Cây cối nhảy nhót trong gió, nhưng Sigge không có dấu hiệu nào là còn sống. Tôi vội choàng một chiếc áo khoác lên người, mở cửa rồi lao đi trên các bậc cầu thang để xuống sân.
Mùi lá mục và mùi đất ẩm khiến tôi xây xẩm mặt mày. Tôi bước qua những viên đá cuội, đến tận vị trí nơi tôi hình dung là ngay bên dưới phòng bếp nhà tôi, rồi nhìn lên phía trên, nheo chặt mắt vì mưa. Xa phía bên trên, tôi đoán thấy ô cửa sổ đang để mở. Một cú rơi ít nhất là chục mét, có thể cao hơn.
Một con mèo có thể sống sót sau cú ngã như thế không?
Không có gì trên những phiến đá lát đường. Tôi ngồi xổm xuống. Ngay bên cạnh tường, nơi mặt đá gần như khô ráo, tôi nhìn thấy một vết sẫm màu hơn. Tôi khẽ lướt ngón tay vào đó rồi đưa lên nhìn.
Là máu.
Tôi nhìn thấy những vết máu nhạt dần về phía bức tường trông ra phố. Vẫn trong tư thế ngồi xổm, tôi lần theo để xem chúng dẫn tới đâu, nhưng cơn mưa đã rửa sạch tất cả.
Giữa bức tường và mặt tiền ngôi nhà, có một kẽ nứt rộng đủ để một con mèo có thể lách vào. Tôi cúi người về phía trước và dò xét xung quanh, nhưng chỉ nhìn thấy những chiếc xe hơi thờ ơ lướt đi trước mặt tôi, trong bóng tối.