Hanne và Manfred đi theo tôi vào phòng họp nhỏ và chào Helena Berg. Có tự giới thiệu và giải thích rằng cô làm việc ở trụ sở cảnh sát Östermalm. Thân hình gầy guộc, nét mặt góc cạnh và mái tóc mỏng nhạt màu của cô khiến tôi mơ hồ nhớ đến điều gì đó. Nhưng cho dù chúng tôi đã từng gặp nhau, thì có vẻ cô không nhận ra tôi.
Đôi khi tôi tự hỏi phải chăng vẻ bề ngoài của tôi không có điểm gì nên mọi người không để ý đến tôi. Có thể tôi quá đỗi tầm thường nên không thể để lại bất cứ dấu vết gì trong tâm trí của những người mà tôi từng gặp. Kiểu người ngày nào ta cũng đứng đối diện trên xe buýt mà không hề nhớ đến. Không như Manfred, người nổi tiếng trong khắp sở cảnh sát. Tôi hình dung rằng đó chính là điều anh tìm kiếm, với phong cách ăn mặc trau chuốt.
Hanne và Manfred ngồi xuống bên cạnh Helena, trong khi tôi ngồi đối diện. Tôi chăm chú nhìn Hanne. Chị vẫn giống hệt như thường lệ: bình thản, cuốn sổ đặt trên đầu gối. Chị trưng ra một vẻ thờ ơ. Không còn bất cứ dấu vết nào của tình thân mật tối qua - có lẽ chị cũng là một khách qua đường trên tàu điện, một trong số những người không hề để ý đến tôi.
Janet thỉnh thoảng vẫn làm như thế. Cô ta bơ tôi đi. Làm như thể tôi không tồn tại. Thường là để trừng phạt tôi vì một chuyện gì đó - chẳng hạn như quên sinh nhật cô ta hoặc không chịu dành kỳ nghỉ cuối tuần để đi tham quan các căn hộ.
Nhưng Hanne không phải là Janet.
Nói chân thành, thì Hanne và Janet giống như ngày và đêm. Do đó, không thể phân tích hành vi của Hanne dựa trên hành vi của Janet. Ít nhất là nếu tôi thực sự muốn hiểu cách thức suy nghĩ của Hanne.
Tôi quay sang Helena Berg, nữ cảnh sát khu vực, người đến đây để kể với chúng tôi về cuộc nói chuyện giữa cô và Emma Bohman.
- Cảm ơn cô đã đến.
Cô nhún vai và khẽ nở một nụ cười.
- Bình thường thôi mà. Tôi rất tiếc vì đã không phản ứng nhanh hơn. Nhưng mọi người cũng biết là… Chúng tôi gặp biết bao nhiêu người. Biết bao nhiêu kẻ khùng điên…
Tôi gật đầu. Mọi người xung quanh chiếc bàn này đều biết làm cảnh sát khu vực là thế nào - tất cả chúng tôi đều từng làm việc đó. Ngoại trừ Hanne, tất nhiên.
- Nào, chúng tôi nghe cô nói đây, tôi nói.
Hanne và Manfred cùng tham gia cuộc điều tra, và tôi đã cho họ biết rằng cô từng nghe Emma Bohman nói, không gì khác.
- Được rồi, Helena bắt đầu và cúi đầu với vẻ trầm ngâm. Khoảng hai tuần trước, một hiệu cầm đồ ở Östermalm đã liên lạc với chúng tôi. Có người mang đến chỗ họ một chiếc nhẫn có nạm một viên kim cương khá quý giá. Một chiếc nhẫn đính hôn. Khi xem xét danh sách đồ vật bị trộm cắp của cảnh sát, chúng tôi đã phát hiện ra rằng chiếc nhẫn đó bị lấy cắp từ một cửa hàng trang sức trên phố Linnégatan vài tuần trước. Chiếc nhẫn được đem đi cầm bởi Emma Bohman, sống tại đại lộ Värtavägen. Chỗ đó gần quảng trường Karlaplan, không xa cửa hàng trang sức. Đồng nghiệp Johnny Lappalainen và tôi đã hỏi cung Emma Bohman. Chúng tôi đã cho cô ta xem một đoạn băng an ninh ghi lại việc cô ta xuất hiện trong cửa hàng trang sức vào thời điểm chiếc nhẫn bị lấy cắp.
- Cô ta phản ứng thế nào? Tôi hỏi.
- Cô ta nói rằng quả thực cô ta có đến cửa hàng đó, nhưng không đi một mình. Theo lời cô ta, cô ta đi cùng với bạn trai, Jesper Orre. Họ cùng xem nhẫn đính hôn. Sau đó cô ta khẳng định là cô ta không mua cũng không đánh cắp chiếc nhẫn. Có vẻ là sau đó Orre đã tặng nó cho cô ta.
- Cô ta có thể chứng minh việc đó không?
Helena khẽ hất vai.
- Không hẳn. Cô ta đã chỉ cho chúng tôi thấy một bóng người trong băng ghi hình và nói rằng đó là Orre. Không thể nào xác minh được: chất lượng đoạn băng quá tệ và cái người mà cô ta chỉ vào chỉ xuất hiện ở rìa khung hình. Khi liên hệ với Jesper Orre qua điện thoại để kiểm tra thông tin, anh ta nói với chúng tôi rằng anh ta chưa bao giờ nghe nói đến cái tên Emma Bohman, và rằng chắc chắn là anh ta không hề mua chiếc nhẫn. Anh ta nói thêm rằng lúc nào cũng có những kẻ điên rồ kết tội anh ta về đủ mọi chuyện, và anh ta đã chán ngấy phải làm một người của công chúng rồi. Và… chỉ có thế thôi. Chúng tôi có không ít việc, thế nên cuộc điều tra đã giậm chân tại chỗ. Nhưng khi nhìn thấy chân dung cô gái bị sát hại trên tivi và biết rằng Orre đã biến mất, tôi tự nhủ sẽ tốt hơn nếu liên lạc với các anh. Tôi đã gửi biên bản hỏi cung cho các anh qua e-mail, cùng với cả đoạn băng nữa, biết đâu các anh muốn xem qua.
Tôi lấy ra bức chân dung phác họa người phụ nữ bị sát hại, đặt nó lên bàn rồi lướt tay bên trên.
- Vậy là cô đã nhìn thấy hình ảnh này?
- Vâng, cô vừa nói vừa nhăn trán. Khó mà bỏ lỡ được. Có đúng là cô ấy đã bị chặt đầu không?
Tôi gật đầu.
- Chết tiệt thật, đúng là có nhiều kẻ điên khùng trên Trái đất này. Đúng thế, tôi đã nhìn thấy bức vẽ và tôi không thấy giống cho lắm. Nếu tôi nhớ không nhầm, Emma Bohman có mái tóc dài hơn. Nhưng tóc thì ta có thể cắt ngắn được mà.
Sau khi Helena Berg rời đi, chúng tôi vẫn ngồi lại bên bàn. Sanchez phấn khởi như cô vẫn thế mỗi khi một cuộc điều tra có tiến triển. Cô gõ ngón tay lên bàn rồi hỏi:
- Thế nào, mọi người nghĩ sao?
Manfred hắng giọng rồi tháo cặp kính khỏi mắt.
Hanne cúi người về phía trước và nhìn thẳng vào mắt Manfred.
- Cái ga đã bị giết chết… mười năm trước. Đúng thế không? Tôi không nhớ nữa… anh ta tên gì ấy nhỉ? Gã người Trung Quốc ấy.
- Kết luận lô gich là Jesper Orre có quan hệ với Emma Bohman, nhưng không muốn thừa nhận chuyện đó. Có thể cô ta đã đến nhà anh ta, có lẽ để thách thức anh ta, và anh ta đã giết cô ta rồi bỏ trốn.
- Nhưng còn gã kia thì sao?
- Gã kia nào?
Hanne bỗng có vẻ hoang mang, và đôi má chị đỏ lựng lên.
- Người Trung Quốc? Sanchez nhắc lại.
- Đúng thế, mọi người biết đấy. Cái gã cũng bị chặt đầu ấy.
- Ý chị muốn nói là Calderón? Sanchez gợi ý.
Dường như Hanne hít thở được bình thường trở lại, nhưng chị có vẻ ngượng ngùng kỳ lạ. Chị đưa một tay lên vuốt tóc và chớp chớp mắt, như sắp khóc.
- Đúng thế. Calderón.
- Anh ta không phải là người Trung Quốc, mà là người Chi lê.
- Xin lỗi, tôi nói nhịu. Nhưng tại sao Jesper Orre lại giết và chặt đầu gã đó?
- Chúng ta không biết, Manfred trả lời. Chưa biết. Nhưng nếu lục tìm trong quá khứ của Orre, chắc là chúng ta sẽ tìm ra một mối liên hệ giữa họ.
Tôi quay sang phía Sanchez và quyết định khai thác toàn bộ thứ năng lực non nớt tràn ngập trong cô. Tôi nhận ra nó, cái năng lực ấy, nó cũng từng tràn trề trong tôi khi tôi bắt đầu sự nghiệp cảnh sát. Nhưng đã bao năm rồi tôi không còn cảm nhận được nó.
- Cha mẹ của Emma Bohman đều đã qua đời, nhưng bác của cô ta đã thông báo việc cô ta mất tích. Cô có thể gọi cho bà ấy để hỏi xem bà ấy có biết về mối quan hệ giữa Emma với Orre hay không? Hãy nói chuyện với các đồng nghiệp của cô ta ở Clothes&More nữa. Biết đâu đấy, có khi cô ta lại thân thiết với bác mình.
Sanchez gật đầu rồi ra khỏi phòng. Manfred nối gót cô, để lại tôi một mình với Hanne.
- Hay là chúng ta đi dạo? tôi đề nghị.
Chúng tôi bước đi dưới tuyết, dọc quảng trường Kungsholmstorg, hướng về phía bến tàu Norr Mälarstrand. Gió thốc vào bên trong chiếc áo khoác mỏng của tôi, và tuyết lạnh luồn dọc mắt cá chân tôi, như để nhắc tôi nhớ rằng tôi vẫn chưa mua được đôi giày mùa đông chết tiệt. Hanne đi cạnh tôi, một cái bóng lặng lẽ trong chiếc áo choàng dị hình cùng đôi giày to tướng. Đến Norr Mälarstrand, chúng tôi rẽ trái, hướng về phía tòa thị chính. Những bông tuyết bay lả tả bên trên vịnh Riddarfjärden, bao bọc mặt nước trong một màn sương mù màu trắng, xóa mờ đường nét của những ngôi nhà trong khu phố Södermalm.
- Ổn chứ?
Hanne quay đầu sang nhìn tôi bằng ánh mắt khôn dò.
- Tại sao lại không ổn nhỉ?
Giọng nói của chị có chút gì đó dè dặt, như thể chị muốn đánh dấu một khoảng cách giữa chúng tôi.
- Tôi đang nhớ đến… những chuyện đã xảy ra hôm qua.
Chị dừng lại, xoay lưng về phía luồng gió và kéo mũ trùm lên đầu. Chị nhìn tôi với vẻ buồn rầu. Những bông tuyết tan ra trên má chị và tôi những muốn được đưa tay ra, lau những giọt nước ấy, nhưng tôi biết là tôi không có quyền làm thế. Chị không cho phép tôi.
- Chuyện xảy ra hôm qua… rất đẹp. Tôi rất thích. Nhưng tôi muốn thành thật với anh, Peter a. Sẽ không bao giờ có thể có bất cứ chuyện gì giữa chúng ta. Không có chuyện gì thực sự. Chúng ta có thể gặp lại nhau, nếu anh muốn, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ ở cùng nhau . Anh hiểu chứ?
Những câu nói của chị khiến tôi thất vọng, đau đớn, mặc dù tôi không hiểu nguyên do. Chính xác thì tôi chờ đợi điều gì? Rằng chúng tôi thành đôi sau một đêm ngủ cùng nhau? Rằng những gì tôi đã làm mười năm trước được quên lãng và tha thứ?
- Tôi có thể hỏi chị tại sao không?
Chị tiếp tục đi về phía bến tàu, dừng lại để ngắm nhìn mặt biển.
Tôi bám gót chị và bước đến đứng cạnh chị. Những con chim lớn bay vòng vòng trên mặt nước. Có lẽ là quạ gáy xám hoặc quạ thường.
- Anh có tin là chúng lạnh không?
- Có, tôi tin là chúng đang lạnh cóng.
- Tôi bị ốm, chị vừa tuyên bố vừa quay sang phía tôi. Ốm rất nặng. Và tôi không muốn nó trở thành vấn đề của anh. Như thế thật bất công.
Khi chị nói rằng chị bị ốm, hình ảnh mẹ tôi hiện ra trong đầu tôi. Bà đang hút thuốc, ngồi trên một trong những chiếc ghế cũ kỹ ở khu vườn bên ngoài hàng hiên. Quấn người trong một chiếc áo len chui đầu rộng thùng thình, mặc dù trời nóng, còn đầu thì trùm kín bằng một chiếc khăn lụa.
Tôi mủi lòng khi nghĩ đến người phụ nữ mong manh từng là mẹ tôi - hoặc ít ra là những gì còn lại từ bà. Và các mùi vị trở lại trong tôi: mùi xà phòng, mùi thuốc lá và tất cả những thứ khác. Căn bệnh: mùi thuốc sát trùng và những vết thương mưng mủ. Những thứ mùi mà tôi rất quen thuộc. Những hành lang bệnh viện, những tấm ga giường đẫm nước tiểu, những củ khoai luộc và những chiếc bánh sandwich kẹp pho mát đổ mồ hôi bên trong lớp bọc ni lông.
Tất cả những thứ mùi của trường học.
- Chị bị ung thư à? Tôi hỏi mà không biết tại sao - câu nói đó tự buột khỏi miệng tôi.
Hanne khẽ cười.
- Không. Tại sao anh lại nghĩ đến ung thu?
- Tôi không biết. Căn bệnh đó… tấn công rất nhiều người.
Chị không bình luận gì về nhận xét kỳ quặc của tôi. Chị nhìn tôi với vẻ dò hỏi, cùng một nụ cười ở khóe môi. Tôi nhớ đến Janet. Chừng hơn một năm trước, cô ta tin chắc là bị ung thư vú. Cô ta gọi điện thoại cho tôi và khóc lóc, nài nỉ tôi chăm sóc cho Albin nếu chẳng may cô ta chết. Thậm chí lần đó tôi còn không hề cảm thấy lo lắng. Ý nghĩ rằng mẹ của con trai tôi có thể mắc một căn bệnh hiểm nghèo không hề khiến tôi xúc động mảy may.
Tôi tự hỏi điều đó nói gì về con người tôi.
- Vậy thì là bệnh gì?
- Tôi không muốn nói về nó.
Chị quay ngoắt và biến mất trong cơn bão tuyết, đi về phía sở cảnh sát bằng những bước chân quyết đoán đến nỗi tôi không dám bám theo.
Đúng lúc tôi sắp quay trở lại đường cũ, thì điện thoại di động đổ chuông. Là Janet. Giọng cô ta còn điên loạn hơn bình thường, và tôi lập tức hiểu rằng đã có chuyện gì đó xảy ra.
- Anh phải nói chuyện với Albin, cô ta nói trong một hơi thở. Tôi đi về phía một cửa vòm để tránh gió và tuyết.
- Về chuyện gì?
- Về… Thằng bé bắt đầu trốn học. Và nó giao du với những kẻ xấu… Băng nhóm ở Skogås, anh biết mà, tôi đã nói với anh rồi.
Tôi bước lên vài bậc để đứng dưới một mái che. Tôi giấu một tay vào cổ cho ấm. Mấy ngón tay tôi lạnh như đá viên.
- Vậy là nó la cà ở Skogås. Thế tại sao tôi lại phải là người nói chuyện với nó?
Tôi nghe thấy giọng nói khó chịu của chính mình, và lập tức cảm thấy hối tiếc. Tôi không cố tình hắt hủi cô ta, nhưng lần nào cũng là như thế. Janet gọi cho tôi mỗi khi có chuyện với Albin. Mặc dù chúng tôi đã quyết định, trước khi thằng bé chào đời, là cô ta sẽ nuôi dạy nó một mình. Mặc dù cô ta đã giữ nó bất chấp mong muốn của tôi.
- Bởi vì anh là cớm và anh biết nhiều thứ. Về ma túy và những thứ khác. Anh biết đám con trai sẽ thành ra thế nào khi đi chệch khỏi con đường đúng đắn rồi đấy. Và bởi vì… anh là cha nó, cô ta nhanh chóng nói thêm, gần như thì thầm, như vừa thốt ra một từ cấm kỵ.
Tôi nhìn tuyết rơi và tự hỏi làm thế nào để tôi có thể khiến cô ta hiểu chuyện mà không tỏ ra khó chịu. Lập luận thế nào để chế ngự bài ca cẩm của cô ta.
- Chắc là không phải lo lắng cho nó đâu, tôi trả lời, có lẽ là hơi yếu ớt quá mức.
- Có chứ, đáng lo đấy! cô ta hét lên. Lần nào cũng như thế này! Anh không muốn chịu bất cứ trách nhiệm nào liên quan đến Albin. Anh không bao giờ giúp tôi. Ngay cả khi tôi cầu xin anh. Anh có biết là tôi thấy khó khăn đến thế nào khi gọi cho anh để nhờ anh chuyện này không? Anh có biết tôi đã lưỡng lự bao lâu trước khi cầm điện thoại lên và bấm cái số điện thoại khốn kiếp của anh không? Anh có hiểu không?
Tôi vặn vẹo người, quyết định rằng có lẽ bây giờ không phải là lúc để nhắc cho cô ta nhớ về thỏa thuận giữa chúng tôi hơn mười lăm năm trước.
- Thôi được rồi, tôi vừa nói vừa chuyển sang sưởi ấm bàn tay còn lại trong cổ.
- Tốt. Khi nào?
- Khi nào là thế nào? Dù sao cũng không phải hôm nay. Tôi đang phải điều tra về một vụ án mạng.
- Thế ngày mai thì sao?
- Ngày mai… không được. Tôi không có thời gian. Có lẽ để tuần sau chăng?
- Anh biết gì không, Peter? Đây đúng là kiểu của anh. Thậm chí tôi còn không biết tại sao tôi lại gọi cho anh. Anh có thể cút đi mà chết giẫm với cái công việc khốn kiếp của anh. Albin và tôi không bao giờ muốn gặp lại anh nữa! Anh nghe rõ chưa? Anh chết đi!
Tôi đứng hồi lâu bên dưới cửa vòm để ngắm tuyết. Tôi nhìn lũ chim đen đang dập dờn trên đầu tôi, giữa cơn bão. Tôi nhớ đến mẹ tôi và chị tôi giờ này đang ngủ trong nghĩa trang sinh thái và tự hỏi khi nằm dưới hai mét đất như vậy, liệu họ có lạnh không. Sau đó, tôi tự nhủ rằng thật bất công nếu để mất Hanne trong khi tôi vừa mới giành lại được chị. Đúng là tôi chưa bao giờ thực sự giành được chị, tôi biết, nhưng dù sao tôi cũng có cảm giác như thế.
Một lát sau, tôi nghĩ đến tất cả những người mà tôi đã để mất, trong khi họ còn chưa chết, giống như Albin và Janet. Tất cả những người mà tôi đã xua đuổi, đã nói dối, đã trốn chạy. Trong lúc nghiền ngẫm về chuyện đó, tôi tự nhủ tôi đáng bị như thế - việc Hanne không bao giờ có thể thuộc về tôi chính là một sự trừng phạt công bằng.