Tiếng Thét Dưới Băng

Lượt đọc: 892 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HANNE

Tôi bị lạc trên đường quay về sở cảnh sát trung tâm. Tôi không biết là do tôi bị xáo trộn sau cuộc cãi vã với Peter, hay đó thực sự là do căn bệnh của tôi.

Có thể là do thời tiết. Tuyết rơi khiến ta không thể nhìn quá vài mét trước mặt, và các tòa nhà bị bao bọc trong một màn sương mù dày đặc. Đúng là tên phố được cẩn thận ghi rõ trên các tòa nhà, nhưng dường như cách sắp xếp của khu phố này đã trở nên xa lạ đối với tôi, như thể toàn bộ mạng lưới đường bộ của Kungsholmen đã bị xóa khỏi trí nhớ tôi.

Tuyết luồn vào cổ tôi, tan ra và chảy trên ngực tôi. Hai bàn tay tôi lạnh cóng, và cơn hoảng loạn tấn công hai bên sườn tôi, giống như một cú đấm vào lồng ngực tôi. Sẽ thật dễ dàng nếu tôi hỏi đường một khách bộ hành nào đó: một phụ nữ đang đẩy xe, một người đàn ông vác vợt tennis trên vai hoặc có thể là một đôi trai gái đang sờ soạng nhau không chút ngượng ngùng bên dưới một cửa vòm. Thế nhưng tôi không thể làm thế. Tôi không chịu thừa nhận, dù chỉ là với chính mình, rằng tôi không tự tìm được đường.

Gió thốc vào chiếc mũ trùm tôi đang đội và những bông tuyết nhỏ cứng đanh quất vào má tôi. Tất cả đều trắng tinh. Khắp nơi đều là băng và tuyết. Cái lạnh khắc nghiệt đến nỗi tôi có cảm giác mình đang ở xứ sở của người Esquimo tại Groenland.

Tôi nghĩ đến những người từng tìm cách chinh phục các vùng địa cực, thường là chỉ nhận về những kết cục thảm thương: Amundsen, Andrée, Strindberg và Nansen. Nhưng có lẽ đặc biệt nhất là Claus Paarss, viên sĩ quan với hai dòng máu Thụy Điển-Đan Mạch đã đến Groenland vào năm 1728 để tìm kiếm những kiều dân Na Uy mà chưa người nào liên hệ được từ hai trăm năm trước đó.

Vào thời điểm chuẩn bị cho chuyến phiêu lưu, mọi người đều thống nhất rằng, miễn là họ biết trượt tuyết, thì các thanh niên người Na Uy hoàn toàn có thể thám hiểm tất cả các ngóc ngách của châu lục này. Sự thống nhất đó hầu như khiến người ta phải xúc động.

Paarss vượt Bắc Đại Tây Dương cùng với hai chục quân nhân, mười hai tù khổ sai, một nhóm gái điếm và mười hai con ngựa. Ngay sau khi đoàn chinh phục đến nơi, cuộc chiến không thể tránh khỏi chống lại thiên nhiên - và chống lại cả con người nữa - bắt đầu. Người của Paarss nổi loạn và viên sĩ quan chỉ vừa kịp chế ngự cuộc khởi nghĩa thì thủy thủ đoàn của ông bắt đầu chết vì bệnh scorbut [11] và bệnh đậu mùa. Cả tóc cũng rụng. Đã hai lần, Paarss thất bại khi tìm cách băng qua châu lục bằng đường bộ, trên những khối băng sắc nhọn. Rốt cuộc, ngay cả người Groenland bản địa cũng từ bỏ đoàn thám hiểm và giấc mơ của Paarss là đưa các quý tộc Đan Mạch cùng gia đình họ đến sinh sống tại châu lục này đã tan biến.

Tại sao con người lại ham chinh phục tự nhiên đến thế? Và giá như chỉ là tự nhiên… nhưng chúng ta, con người, còn muốn thống trị cả những người khác nữa. Cả trong xã hội lẫn trong các mối quan hệ thân thiết.

Tôi nghĩ đến Owe. Suốt cả đời, anh ta đã tìm cách thuần hóa tôi. Nhưng anh ta sẽ không làm nổi. Bởi vì tôi sẽ làm giống như băng ở địa cực: tôi sẽ chống đối anh ta bằng cái lạnh ngoan cường cho đến khi anh ta mệt mỏi, từ bỏ và tìm được một người khác để thống trị.

Tôi nhấp nháy mắt bên dưới những bông tuyết. Tôi tìm một điểm mốc, một nơi chốn để neo ánh mắt mình vào đó giữa cái màn trắng toát này. Theo một nghĩa nào đó, việc này cũng gần như tìm cách gọi Owe, bởi vì tôi biết rằng anh ta sẽ lập tức bỏ mặc việc đang làm và lao vào xe để đến đón tôi. Anh ta sẽ cứu tôi như anh ta vẫn thường làm, mỗi lần tôi rơi vào một tình cảnh khó khăn.

Vài giây sau, tuyết ngừng rơi và hình dáng quen thuộc của bệnh viện mắt St Erik hiện ra. Tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm: lúc này, tôi biết chính xác mình đang ở đâu và phải làm thế nào để quay về với căn phòng ấm áp bên trong sở cảnh sát. Thế nhưng, cái cảm giác bất lực khủng khiếp đến mức khiến tôi tê liệt kia vẫn không rời đi; nó không chịu buông tha tôi ngay cả khi tôi đã tìm thấy phòng làm việc và nhìn qua ô cửa sổ trông ra phố Kungsholmsgatan. Ngoài ra, dù đã ngốn một lúc ba cốc trà nóng bỏng, tôi vẫn tiếp tục run rẩy vì lạnh.

Tôi lén quan sát Peter. Anh ngồi cách tôi vài mét, xoay lưng lại phía tôi, mắt nhìn dán vào màn hình máy vi tính. Mái tóc vàng xám của anh ẩm ướt, và nước đọng thành những vũng nhỏ dưới chân anh, xung quanh đôi giày thể thao mỏng manh đến nực cười của anh.

Giá như tôi mắc bệnh ung thư! Ít nhất tôi cũng có thể kể với anh. Nhưng ta không thể kể rằng ta đang ở giai đoạn đầu của chứng mất trí. Nhất là với một người vừa cùng ta qua đêm. Như thế còn ngàn lần tệ hơn một căn bệnh lây truyền qua đường tình dục. Xét dưới một góc độ nào đó thì còn đáng hổ thẹn hơn. Mất trí, tự đánh mất chính mình, điều đó thật đáng sợ. Thậm chí là ghê tởm. Chậm rãi, tôi dần dà biến thành một người thực vật - và đó là thứ chẳng ai muốn.

Ngoại trừ Owe, tất nhiên.

Xét cho cùng, có lẽ đó chính là tình yêu. Ở bên người khác cho dù có chuyện gì xảy ra. Tôi nhớ đến Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô rin tô: Người chịu đựng tất cả, người tin tưởng tất cả, người hy vọng tất cả, người gánh chịu tất cả.

Tôi không muốn Owe chịu đựng và gánh chịu tôi. Tôi chỉ muốn mọi người để tôi được yên.

Có lẽ tôi nên đến Groenland. Thực hiện chuyến đi mà tôi chưa từng thực hiện. Ngay lúc này, khi tôi còn đủ khả năng. Thay vì ở đây, trong trụ sở cảnh sát trung tâm này, nơi tất cả đã bắt đầu và tất cả sẽ kết thúc, có lẽ thế.

Gunilla thường bảo tôi là đừng đánh mất hy vọng.

“Đánh mất hy vọng”: lại là một điều hèn hạ mà người ta có thể sa vào. Không một người mắc bệnh hiểm nghèo nào được quyền mất hy vọng. Chuyện đó là không thể tha thứ. Như thế là phản bội người thân và các bác sĩ. Và thậm chí là toàn thể xã hội vốn được xây dựng trên ý tưởng mọi vấn đề đều có thể giải quyết và mọi căn bệnh đều có thể chữa lành.

Chừng nào còn sống thì còn hy vọng. Đó là suy nghĩ của Gunilla. Bởi vì, ai mà biết được, có thể ngày mai các nhà khoa học sẽ phát hiện ra một phương thuốc cho căn bệnh của tôi.

Thế ta làm gì nếu không đủ sức để hy vọng?

Hy vọng là một cái phao cứu hộ được gán cho một danh tiếng quá mức mà các bệnh nhân buộc phải bấu víu vào, cùng với một nụ cười kiên cường và biết ơn trên môi. Rõ ràng, buông bỏ không chỉ là liều lĩnh, mà còn là bất nghĩa.

Tôi đã chán ngấy cái sự trung nghĩa ấy rồi!

Sau bữa trưa, tôi đọc lại biên bản hỏi cung Emma Bohman. Tôi không thể nào xác định được rõ ràng, nhưng có điều gì đó khiến tôi băn khoăn, điều gì đó không thực sự ăn khớp với giả thuyết của chúng tôi. Thử hình dung người phụ nữ được tìm thấy ở nhà Jesper Orre đúng là Emma Bohman; vậy phải tìm hiểu xem tại sao Orre lại giết cô ta. Nếu thực sự họ từng có quan hệ với nhau và anh ta muốn loại bỏ cô ta, thì mối ràng buộc tình cảm của anh ta không thể mạnh mẽ đến thế. Vậy tại sao lại phải sát hại cô ta theo cách ấy? Cách thức hành động của kẻ sát nhân, tư thế của cái đầu, đôi mí mắt mở to - tất cả đều khiến ta tin rằng kẻ giết người mang một nỗi hận thù sâu sắc với nạn nhân. Và tôi không thể nào hiểu nổi tại sao Orre lại ghét Emma Bohman đến thế. Ít nhất là căn cứ vào những hiểu biết rất hạn chế mà tôi có được về hai con người này.

Hơn nữa, nếu Orre thực sự muốn giết Emma Bohman, tại sao anh ta lại làm việc đó ở nhà mình, mà không tìm cách che giấu cái xác? Hẳn anh ta phải hiểu rõ rằng anh ta sẽ bị lột mặt nạ ngay khi người ta phát hiện ra thi thể Emma.

Cuối cùng, cho dù anh ta đã làm thế - trong một cơn cuồng nộ hoặc một cơn điên khùng bột phát -, thì tại sao Orre lại rời khỏi nhà mà không mang theo ví tiền cùng điện thoại di động? Ta có thể đi đâu nếu không có tiền, không có điện thoại chứ?

Bên ngoài, màn đêm bắt đầu buông xuống, và ánh sáng vàng tỏa ra từ những chân đèn hắt vào các cửa sổ. Lúc này, trong văn phòng vô cùng tĩnh lặng. Chỉ nghe thấy vài mẩu hội thoại khe khẽ cùng tiếng Sanchez múa ngón tay trên bàn phím.

Tôi điểm lại các tài liệu điều tra, đọc lời khai của các đồng nghiệp và bạn bè của Jesper. Không một lời nào nhắc đến những rối loạn tâm thần. Cũng không nhắc đến bạo lực. Lại thêm một điểm mấu chốt. Một người có đầu óc lành mạnh với một quá khứ bình thường sẽ không gây án kiểu đó. Các tội phạm tàn bạo cũng có sự nghiệp riêng, nếu ta có thể nói thế. Trong đa số các trường hợp, ta thấy nhiều dấu hiệu báo trước, ngay từ tuổi nhỏ - những hành vi lệch lạc, phạm tội sớm hoặc có thể là cách đối xử tàn nhẫn với động vật hoặc trẻ nhỏ hơn. Mặc dù Jesper Orre có ưa thích kiểu quan hệ tình dục hơi thô bạo và lấy trộm đồ lót của phụ nữ, nhưng điều đó không biến anh ta thành một kẻ bất thường. Hầu hết mọi người đều có những bí mật nho nhỏ đáng xấu hổ mà họ không sẵn lòng nói ra, nhưng rất hiếm người sát hại rồi cắt đầu đồng loại.

Đó là những hành động lệch lạc đến mức phải đưa ra những sơ đồ giải thích khác.

Ngoài ra, còn có vụ sát hại Calderón. Anh ta không phải người Trung Quốc. Điều gì đã khiến tôi nói như vậy nhỉ? Lại thêm một trong số những điều sai lệch mà tôi có thể thốt ra. Có lẽ là, lần đầu tiên trong đời, tôi sẽ trở nên lố bịch khi căn bệnh tiến triển đủ độ. Tôi sẽ là một trong những bệnh nhân khiến các hộ lý phì cười, còn những bệnh nhân khác thì chết sặc với món bột nhào của họ.

Hãy quay trở lại với câu chuyện của chúng ta. Mặc dù Sanchez đã xem xét kỹ lưỡng kết quả điều tra về Calderón và hỏi han người thân của anh ta một lần nữa, cô vẫn không phát hiện ra bất cứ mối liên hệ nào giữa anh ta và Orre…

Tôi bị dứt khỏi dòng suy nghĩ bởi cảnh náo động ở bàn của Sanchez. Manfred đang nói lớn tiếng, khua khoắng hai cánh tay, và một lát sau, Peter nhập bọn với họ. Manfred khoác áo choàng, Sanchez cũng làm theo anh ta, bỏ điện thoại di động vào túi rồi tắt đèn trong văn phòng bằng một cử chỉ dứt khoát.

Peter quay lại và đến bên tôi. Từ thân hình lều nghều của anh toát lên vẻ nôn nóng, và tôi lập tức hiểu rằng vừa có thêm tình tiết mới.

- Một cái xác khác vừa được phát hiện ở gần nhà Jesper Orre. Chị đi cùng chứ, Hanne?

Chúng tôi đang ở trong một công viên, cách biệt thự của Jesper Orre chừng trăm mét về phía Tây. Tuyết đã ngừng rơi, và những ngọn đèn hiệu của cảnh sát quét khắp khung cảnh trắng toát, khiến nó nhuốm sắc xanh trong ánh hoàng hôn. Những cành cây oằn xuống dưới sức nặng của lớp tuyết mới rơi, và chiếc áo choàng tuyết màu trắng kêu lạo xạo dưới bước chân chúng tôi. Manfred nhấc dải băng xanh và trắng rồi ra hiệu cho tôi chui qua. Sanchez và Peter đã nhập bọn với nhóm người đứng cách đó chừng chục mét. Ở bên ngoài vùng giăng dây an ninh, những người hiếu kỳ đổ tới. Một trong số họ tìm cách sưởi ấm cơ thể bằng cách xoa hai cánh tay, một người khác giơ điện thoại di động lên chụp ảnh. Các nhân viên cảnh sát mặc quân phục giữ họ ở khoảng cách quy định, giải thích với họ rằng ở đây không có gì để xem cả, và khuyến khích họ trở về nhà.

Khi lại gần nhóm cảnh sát và kỹ thuật viên đang đứng bên một gốc cây, tôi nhìn thấy một thùng chứa lớn bằng nhựa xanh có ghi chữ “CÁT” nhô lên khỏi lớp tuyết.

- Là lũ trẻ đã tìm thấy cái xác, Manfred giải thích khi bắt gặp ánh mắt tôi. Tại sao lúc nào cũng là bọn trẻ con phát hiện những xác chết thế nhỉ? Chúng đang muốn đi vào để ẩn nấp thì nhìn thấy thi thể. Đóng băng như một que kem chết tiệt.

Tôi đến chỗ đám cảnh sát đang tập trung bên cạnh cái thùng chứa, gật đầu chào vài người quen mặt rồi tìm cách nhìn vào thứ bị che giấu ở bên trong. Dưới đáy thùng, tôi nhìn thấy vóc dáng một người đàn ông. Anh ta nằm trong tư thế bào thai, mặc một chiếc quần jean và một chiếc áo len chui đầu mỏng. Khuôn mặt anh ta đầy máu đã đen lại và băng tuyết, có vẻ quen thuộc với tôi đến lạ lùng.

Chính là Jesper Orre.

« Lùi
Tiến »