Màn đêm buông xuống Stockholm và dòng xe cộ càng lúc càng đông đúc khi tôi lái xe từ Djursholm đến Kungsholmen. Tôi nghĩ đến cái xác đóng băng của Jesper Orre trong cái thùng đựng cát màu xanh, đến khuôn mặt phủ băng của anh ta. Và thế là, giống như mỗi lần tôi gặp thần Chết, hình ảnh chị gái Annika của tôi lại xuất hiện trên võng mạc tôi: chị tôi, đang tắm nắng trên vách đá vào mùa hè ấy, cách đây chừng ấy năm. Thân hình gầy gò của chị chỉ vừa bắt đầu có những đường cong của nữ giới, mùi thuốc lá phảng phất bên trên khóm thạch thảo khô và những cái gai nhọn dưới làn da mỏng ở bàn chân trẻ con của tôi.
Chuyện gì đã xảy ra nếu tôi không kể với mẹ tôi rằng Annika lén hút thuốc trên vách đá? Liệu bây giờ chị còn sống không?
Tôi nghĩ mẹ tôi lo rằng tôi cảm thấy tội lỗi về cái chết của Annika, bởi vì bà không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng đó là một tai nạn và không ai phải chịu trách nhiệm về chuyện ấy hết. Bà lặp lại điều đó với bất kỳ ai, như thể đó là một châm ngôn. Có lẽ là vì sẽ quá đau đớn nếu phải thừa nhận rằng Annika đã cố tình bơi về phía cái chết.
Annika là người đầu tiên dạy cho tôi biết rằng sự sống không vĩnh hằng. Tiếp theo là những người khác: Petter, cậu bạn tóc hung lớp 8B, người đã lái xe mô tô tông vào một gốc cây, đằng trước một quầy bán bánh mì kẹp xúc xích, và đã ở trong tình trạng chết não suốt một tháng trước khi cha cậu tắt máy thở, thu dọn hành lý rồi bay đến sống ở Thái Lan mãi mãi. Rồi đến Marie, sinh viên đại học cảnh sát giống tôi, mắc bệnh ung thư. Hồi ấy cô mới hai mươi lăm tuổi. Cô đã hứa sẽ sớm trở lại trường, ngay cả khi cô đang được chăm sóc sau điều trị.
Rồi đến mẹ tôi, tất nhiên.
Sau khi mẹ tôi qua đời, tôi không đếm nữa. Tôi có cảm giác toàn bộ thế giới quanh tôi đang chết. Một cảm giác vô cùng khó chịu, nó làm nảy sinh trong tôi nỗi sợ rằng mình sẽ là người tiếp theo trong danh sách. Và rằng tất cả những gì tôi làm với ngày tháng của tôi - những cuộc điều tra án mạng, những chiếc bánh pizza mang về để vừa ăn vừa xem tivi, phim khiêu dâm trên mạng mà tôi xem một cách ngán ngẩm - đều vô ích. Rằng tôi hoàn toàn có thể gieo mình từ cầu Västerbron xuống sông, bởi vì, dù thế nào đi nữa, cũng chẳng có ai nhớ đến tôi. Ngay khi những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước tan biến, tôi cũng sẽ bị quên lãng.
Bởi vì đúng là như thế: không có một người nào trên thế gian này phụ thuộc vào tôi. Thực sự cần tôi. Cả các đồng nghiệp của tôi lẫn Janet. Albin cũng không.
Không hẳn.
Ấy thế nhưng… Ta có thể đi tự sát, nhưng ta cũng có thể đi uống một cốc bia. Và tôi, giữa cây cầu Västerbron và quán bar, tôi luôn chọn quán bar.
Sanchez đứng trước bảng thông tin. Cô buộc gọn mái tóc ướt thành một cái đuôi ngựa nhỏ rồi cất tiếng:
Cảnh sát đã nhận được cuộc gọi, sau ba giờ chiều một chút, của một cô Amelie Hökberg nào đó, sống ở phố Strandvägen tại Djursholm. Cô ta là mẹ của Alexander Hökberg, mười tuổi, cậu bé đã cùng với một cậu bạn là Pontus Gerloff phát hiện ra xác Orre trong cái thùng cát. Có vẻ như mấy cậu bé đang chơi bên ngoài, và Alexander đang định trốn vào bên trong cái thùng cát thì phát hiện ra cái xác. Hố cát đó nằm trong một công viên, cách nhà Orre chừng bốn trăm mét về phía Tây. Mất khoảng bảy phút để đi từ nhà anh ta đến đó.
Sanchez giơ ngón tay chỉ vào tấm bản đồ ghim trên bảng thông tin.
- Anh ta ở đó bao lâu rồi? Manfred hỏi.
- Bác sĩ pháp y chưa thể cung cấp thông tin đó. Phải chờ đến khi cái xác rã đông để có thể tiến hành giải phẫu. Sẽ mất khoảng hai mươi tư giờ.
Vậy cô ấy có thể nói gì với chúng ta lúc này? Tôi hỏi.
- Rằng anh ta có nhiều vết thương ở đầu và trán. Anh ta đã nhận một cú đánh, hoặc bị một dạng chấn thương khác. Chắc là anh ta bị chết rét.
Tôi quan sát Hanne. Chị có vẻ bình tĩnh đến đáng ngạc nhiên, gần như thanh thản, khi ngồi bên khung cửa sổ nhỏ mang phong cách thập niên bảy mươi với cái giá nến bốn nhánh. Chị không hề có vẻ gì là ốm yếu, tôi tự nhủ và thầm nghĩ đến thân hình gầy guộc vì bị bệnh ung thư gặm nhấm của mẹ tôi.
- Tiếp tục nào, Manfred vừa nói vừa vươn dài thân hình đồ sộ, vạt áo gi lê trước bụng anh hếch lên một cách nguy hiểm. Orre giết Emma Bohman. Mọi người có thể giải thích cho tôi xem tại sao anh ta lại nằm trong cái thùng đựng cát ấy?
Tất cả cùng im lặng trong một lát.
- Có thể anh ta muốn lẩn trốn chăng? Sanchez gợi ý. Anh ta trốn khỏi một hiện trường vụ án, trong tình trạng bị thương và bị bất ổn. Có thể anh ta đã gặp ai đó, liền trốn vào bên trong thùng đựng cát. Và sau đó…
Cô im bặt. Chúng tôi chỉ còn nghe thấy tiếng quạt quay vù vù. Đã là tám giờ tối và nhiều đồng nghiệp đã về nhà. Một điều tra viên đơn độc ngồi trước máy vi tính của anh ta trong góc phòng, rõ ràng là đang mải mê với một thứ gì đó. Bên ngoài, những ánh đèn ở Kungsholmen lấp lánh trong bầu trời mùa đông tối om.
- Vậy là, Orre giết Emma Bohman, ít ra là theo giả thuyết của chúng ta, Manfred nói tiếp. Anh ta chặt đầu cô ta. Đặt mấy que diêm vào mắt cô ta và rời khỏi hiện trường mà không mang theo ví tiền, điện thoại hay áo khoác. Thậm chí anh ta còn không mang theo một chiếc quần lót, để thay cho thú bông. Sau đó, anh ta đi đến nằm vào trong một cái thùng đựng cát và để mặc cho mình chết. Tuyệt vời. Chúng ta đã tái lập được trình tự diễn biến sự việc. Ai đó gọi cho công tố viên thôi nhỉ?
Sanchez thở dài thật mạnh.
- Anh có nhất thiết lúc nào cũng phải chỉ trích mọi thứ thế không? Tôi không nói rằng mọi chuyện đã diễn ra như thế. Tôi chỉ thử tìm ra một cách giải thích ăn khớp với các bằng chứng mà chúng ta có…
- Vấn đề là chúng ta không có bằng chứng nào cả. Thậm chí chúng ta còn chưa xác định được danh tính của người phụ nữ bị sát hại. Làm sao chúng ta có thể phát biểu về chuyện đã xảy ra? Hả?
Sanchez khoanh hai tay trước ngực và cắn môi. Cô ngước nhìn lên trần, chớp chớp mắt. Trong một thoáng, tưởng như cô sắp òa khóc. Tôi biết rằng tất cả chúng tôi đều đang phải chịu áp lực, và tôi thấy thương cô. Cô đã cố gắng hết sức. Cô luôn cố gắng hết sức, cô là người như thế. Một con chó không bao giờ là thứ gì khác ngoài một con chó. Và Sanchez chỉ có thể là Sanchez. Một ngày kia, cô sẽ là một nữ điều tra viên xuất sắc, và có lẽ đó chính là điều khiến Manfred khó chịu.
- Anh biết gì không? Anh không có bất kỳ quyền gì để đối xử với tôi như thế, Manfred ạ. Tôi đi xuống viện pháp y để trao đổi đôi chút với chuyên gia răng hàm mặt. Hãy gọi cho tôi nếu mọi người tìm được thứ gì đó.
Cô quay ngoắt rồi biến mất trong hành lang. Tiếng nện gót giày của cô nhỏ dần.
- Có thực sự hữu ích khi làm thế không? tôi hỏi khi bắt gặp ánh mắt của Manfred.
- Mẹ kiếp, Lindgren! Đừng có nói với tôi là cậu nuốt trôi câu chuyện của cô ấy đấy nhé?
- Cô ấy đã làm hết khả năng rồi.
Manfred chậm rãi lắc đầu.
- Tôi rất tiếc, nhưng như thế chưa đủ.
Anh đứng dậy rồi gỡ chiếc áo ba đờ xuy khỏi vai ghế.
- Tôi phải về nhà một lát để giải phóng Afsaneh. Gọi cho tôi nếu có thông tin gì mới. Dù sao, tôi cũng quay lại trong khoảng hai đến ba giờ nữa.
Anh rời phòng bằng bước chân nặng nề, để lại tôi mặt đối mặt với Hanne. Ánh mắt xám bền bỉ của chị dõi vào tôi.
- Gì thế?
- Không có gì. Tôi chỉ tự hỏi… Các anh lúc nào cũng… khó chịu như thế với nhau sao? chị hỏi tôi.
Tôi nhún vai.
- Chỗ này đâu phải một khóa học phát triển bản thân.
Tôi đoán thấy một nụ cười nhẹ trên khuôn mặt thanh thoát của chị.
Chúng tôi im lặng, không nói gì trong một lát. Ánh đèn nê ông chập chờn và Hanne nhắm mắt lại, như thể chị muốn xua đuổi thứ ánh sáng lạnh lẽo ấy. Đột nhiên, trông chị già hẳn đi. Không hề bớt xinh đẹp, không đâu, mà chỉ là già hơn và mệt mỏi hơn, như thể bị năm tháng bào mòn.
- Chị ổn chứ?
Chị mở mắt ra rồi bỗng bật cười khúc khích. Đột nhiên, trông chị giống như một thiếu nữ - có điều gì đó trẻ thơ trong tiếng cười tinh nghịch của chị, hoặc trong cái cách chị ngước mắt nhìn lên trần.
- Anh thật thú vị đấy. Tôi ổn.
- Tôi đã nghĩ đến những điều chị nói với tôi và…
- Anh đừng lo. Tôi còn phải sống sót đến hết cuộc điều tra này mà.
Đột nhiên, tôi không thể nào kiểm soát nổi bản thân nữa. Cứ như thể đột nhiên tôi nhận ra chị có ý nghĩa như thế nào đối với tôi. Chị là người đầu tiên, và cũng là người duy nhất tôi muốn sống cùng, và điều đó khiến chị trở thành người quan trọng nhất thế giới. Chỉ là trước đây tôi không hiểu điều đó. Có thể là vì chị đã nói với tôi rằng chị bị ốm, nhưng tôi nhận ra rằng thời gian không còn là vĩnh cửu nữa. Nó thu gọn lại trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi, tạo thành những ngày và những tuần có thể trôi đi quá nhanh.
- Tôi yêu chị, Hanne a.
Vào khoảnh khắc thốt ra mấy lời ấy, tôi nhận ra rằng tôi thực sự nghĩ vậy, có lẽ là lần đầu tiên trong đời.
Đôi mắt Hanne trở nên sáng lấp lánh.
- Nhưng rốt cuộc, Peter, làm sao anh có thể biết được điều đó? Chúng ta không gặp nhau đã mười năm rồi.
- Tôi biết là như vậy, thế thôi. Và ngay từ hồi đó tôi đã yêu chị. Chỉ là tôi quá ngu ngốc nên không hiểu ra.
Những giọt nước mắt lăn dài trên má chị, nhưng chị mặc kệ.
- Chuyện đó bây giờ không còn quan trọng nữa, chị vừa thì thầm vừa nhìn chăm chăm vào hai bàn tay đang đặt trên đầu gối. Tôi ốm và chúng ta không thể sống cùng nhau.
- Chị có bị ốm tôi cũng mặc kệ. Tôi có thể chăm sóc cho chị. Tôi muốn chăm sóc chị.
Ánh mắt chúng tôi gặp nhau.
- Tin tôi đi, anh không muốn thế đâu.
Ở đầu kia căn phòng, điều tra viên đã thôi gõ phím. Anh ta đứng dậy, mặc chiếc áo khoác da lên người, tắt đèn rồi ra khỏi phòng.
- Có đấy. Tôi muốn thế.
Hanne thở dài và lại hướng ánh mắt lên trần nhà. Trong ánh sáng chói gắt, làn da bên dưới mắt chị dường như mỏng hơn, có ánh xanh và lấp lánh như xà cừ. Giống như những chiếc vảy cá.
- Chết tiệt, Peter ạ, sao mà anh cứng đầu thế nhỉ! Chẳng khác nào một đứa trẻ. Tôi đang… mất dần trí nhớ. Chẳng bao lâu nữa, có thể tôi sẽ không còn biết mình tên là gì. Anh không thể chăm sóc tôi đâu, anh hiểu rõ điều đó mà.
- Mất trí nhớ ư? Như thế nào vậy? Giống như bệnh Alzheimer?
Hanne giấu khuôn mặt giữa hai lòng bàn tay.
- Tôi phải đi thôi, chị vừa nói vừa đứng dậy mà không nhìn tôi.
- Chờ đã! Tôi có thể tiễn chị không?
Chị quay lại. Chống hai tay lên hông và chậm rãi lắc đầu.
- Không. Bỏ đi! Tôi đã nói với anh chuyện này là không thể mà. Tôi không biết chị phật ý hay đơn giản là chị thấy tôi đeo bám quá mức.
Ra đến bên ngoài, chị dừng lại trước tấm bảng thông tin, chăm chú quan sát khuôn mặt Emma Bohman trước khi quay về phía tôi và giơ tay vẫy chào tôi.
Bên ngoài, bóng tối bỗng như đen đặc hơn. Tôi đứng hồi lâu bên cửa sổ, dõi mắt tìm kiếm vóc dáng Hanne, nhưng chỉ thấy một chiếc xe dọn tuyết từ đằng xa tiến lại, trên con phố vắng tanh.
Tôi tự hỏi liệu chị có nói thật không, có phải thực sự là chị đang mất trí nhớ không. Mà tại sao chị lại nói dối tôi về một việc như vậy chứ?
Một nỗi buồn mênh mang đột nhiên xâm chiếm tôi. Tôi nhớ đến thân hình yếu ớt của chị trên giường, nhớ đến những vết tàn nhang trên đôi vai chị ửng đỏ trong ánh bình minh. Đến nỗi ham muốn tham lam của chị khi chúng tôi làm tình, và tiếng cười không kiểm soát của chị sau đó, khi chúng tôi ngồi bên nhau trên chiếc giường chật hẹp mà trò chuyện. Đúng thế, thậm chí tôi còn nghe thấy cả tiếng ngáy nhè nhẹ của chị - chúng khiến tôi nghĩ đến tiếng cót két của một con tàu neo trên vùng biển lặng.
Thứ âm thanh thể hiện một cảm giác an toàn.
Nhưng chủ yếu là tôi nhớ đến cái cách thức tôi cảm nhận về chính tôi, khi tôi ở cùng chị. Cởi mở, dễ tổn thương và nhẹ nhõm đến khó tin.
Giống hệt một cọng lông.
Ai nói rằng điều đó không thể xảy ra? Ai đã quyết định rằng chuyện này là bất khả?
Cuộc đời là một câu chuyện của mất mát, mẹ tôi thường nói thế khi hút thuốc bên dưới miệng ống thông gió. Mất đi cái nét ngây thơ trẻ con mà tất cả chúng ta đều có khi chào đời, mất đi những người chúng ta yêu quý, mất đi sức khỏe, mất đi các năng lực thể chất, và cuối cùng - đương nhiên rồi - mất đi mạng sống của chính chúng ta.
Như thường lệ, mẹ tôi nói đúng.
Khoảng chín giờ tối, Manfred gọi điện thoại. Giọng anh chất chứa nỗi phấn khích, nhưng còn có một thứ khác nữa: một sự quyết tâm mà tôi nhận ra ngay.
- Cậu vẫn còn ở trụ sở đấy à?
- Vâng, có chuyện gì vậy? Tôi đang định về nhà.
- Bergdahl đã nói chuyện với một trong các bạn gái của Angelica Wennerlind.
Tôi liếc mắt về phía tấm bảng thông tin. Bức ảnh chụp Angelica Wennerlind được dán cạnh bức ảnh chụp Emma Bohman.
- Thế sao?
- Cậu sẽ không bao giờ đoán nổi cô ta đã kể gì đâu. Cô ta đang trên đường đến trụ sở cảnh sát, cùng với một đồng nghiệp. Chúng ta có thể nói chuyện với cô ta trong vòng hai mươi phút nữa.
Annie Bertrand thấp bé, tóc vàng và mặc một bộ đồ thể thao, như thể cô ta vừa từ phòng tập gym đến thẳng đây. Chúng tôi tiếp cô ta trong một căn phòng hẹp ở tầng trệt, nồng nặc mùi mốc và mùi sản phẩm tẩy rửa. Manfred đã mua cà phê và bánh ngọt nhụy hoa nghệ tây trong siêu thị nhỏ ở góc phố. Annie nhẹ nhàng từ chối món bánh, viện cớ rằng cô không ăn bánh mì.
Tôi có cảm giác rằng việc người ta cấm bản thân nạp gluten, đường và sữa đang là một trào lưu mới. Sanchez cũng đã dừng tiêu thụ tất cả những thứ đó. Có vẻ như chỉ cần cô chén một cái bánh ngọt là bụng cô sẽ phồng tướng lên như một quả bóng.
- Cảm ơn cô đã dành thời gian quý báu. Chúng tôi không có thói quen triệu tập mọi người vào giờ này, nhưng cuộc điều tra quanh vụ án mạng ở nhà Jesper Orre đang ở vào giai đoạn mấu chốt, và chúng tôi không muốn lãng phí thời gian. Cô có thể cho chúng tôi biết cô đã quen biết với Angelica Wennerlind thế nào không?
- Chúng tôi gặp nhau ở trường trung học, tại Bromma, và làm bạn với nhau từ hồi đó. Hồi đó chúng tôi thường xuyên đi cùng nhau, nhưng hiện nay chúng tôi gặp nhau khoảng một lần mỗi tháng. Cô ấy vẫn luôn sống ở đó, làm việc trong một trường mẫu giáo ở Alsten, còn tôi đã chuyển đến sống ở trung tâm thành phố. Hơn nữa, bây giờ cô ấy có Wilma. Cô ấy không có nhiều thời gian nữa…
Giọng cô ta nghẹn lại.
- Wilma là con gái cô ấy, đúng không? Manfred hỏi.
- Đúng. Rất dễ thương. Đầy năng lượng, tất nhiên. Con bé chỉ mới năm tuổi.
- Và Angelica không sống với cha của Wilma?
- Không. Anh ta là người Mỹ, anh ta sống ở New York. Wilma là một “sự cố nho nhỏ”, có thể nói như thế. Angelica đã gặp Chris trong kỳ nghỉ và họ chưa bao giờ là một đôi thực thụ. Nhưng khi Angelica mang thai, cô ấy đã quyết định giữ đứa bé. Cô ấy rất yêu trẻ con.
Manfred ghi chép đôi chút vào sổ tay.
- Cô có thể kể với chúng tôi về bạn trai mới của Angelica Wennerlind không?
Annie Bertrand gật đầu và uống một ngụm cà phê.
- Đó là một bí mật lớn, tất nhiên. Tôi tin rằng tôi là người duy nhất biết chuyện. Cô ấy đi lại với Jesper Orre, và nếu tôi không nhầm, thì đó là chuyện khá nghiêm túc. Thậm chí anh ta đã gặp Wilma. Nhưng họ muốn kín đáo - các vị biết giới truyền thông quấy rầy Jesper đến thế nào rồi đấy. Tôi cho rằng Angelica còn không kể về anh ta với cha mẹ cô ấy. Anh ta nổi tiếng là một gã đào hoa. Chắc là sẽ không thích thú gì nếu cô ấy phải đọc những bài viết về anh ta trên những tờ báo về các nhân vật nổi tiếng. Nhưng tôi có cảm giác là họ hạnh phúc. Dù sao, đó cũng là lời của cô ấy, rằng đây là chuyện nghiêm túc và rằng Jesper nói với cô ấy rằng anh ta thực sự yêu lần đầu tiên trong đời. Anh ta muốn dọn đến ở cùng cô ấy, xây dựng cuộc đời với cô ấy. Bắt đầu lại cuộc đời. Thậm chí anh ta còn nghĩ đến việc từ chức. Lẽ ra họ sẽ cùng đi nghỉ trong tuần này. Họ đã thuê một ngôi nhà ở đâu đó, tôi cho là thế, nhưng cô ấy không nói với tôi là ở đâu. Họ muốn tránh xa tất cả. Để được yên tĩnh.
Manfred lặng lẽ nhìn vào mắt tôi, rồi khẽ đóng sập cuốn sổ tay.