Manfred cúi người bên trên xác chết, vẻ mặt thản nhiên. Anh lướt ánh mắt từ vết rạch đã được khâu lại cẩn thận trên ngực và bụng rồi đến những vết cắt sâu trên hai cánh tay.
- Cô ta đã chống cự thực sự, phải không?
Bác sĩ pháp y gật đầu. Fatima Ali, trạc bốn mươi tuổi, là người gốc Pakistan, nhưng học đại học tại Mỹ. Tôi đã nhiều lần có cơ hội làm việc với cô. Giống như phần lớn các bác sĩ pháp y, cô tỉ mỉ đến mức thái quá và sợ phải diễn đạt bằng những thuật ngữ quá chắc chắn. Nhưng tôi tin tưởng cô. Không gì lọt khỏi mắt cô. Và tôi có cảm giác đôi mắt to đen cùng đôi bàn tay tinh tế của cô không lùi bước trước bất cứ điều gì.
- Cô ấy có nhiều vết bầm ở sau đầu và trên mặt, cùng tổng cộng mười tám vết cắt trên cánh tay và lòng bàn tay. Phần lớn là ở bên phải, điều đó chứng tỏ rằng cô ấy đã bị tấn công từ phía đó.
Fatima cúi người, khẽ tách hai mép của một trong số những vết thương sâu nhất, làm lộ ra phần thịt đỏ và chỉ vào đó.
- Anh nhìn xem. Những vết cắt sâu nhất là theo hướng này: kẻ tấn công hẳn là thuận tay phải và đã tấn công cô ấy như thế này.
Cô giơ một bàn tay lồng khít trong chiếc găng cao su xanh lên như sắp đâm Manfred, khiến anh lùi lại theo bản năng.
- Thời gian vật lộn kéo dài bao lâu? Tôi hỏi.
Fatima lắc đầu.
- Không thể nói được. Nhưng không có bất cứ vết cắt nào trong số này có thể gây tử vong. Chính những vết thương ở cổ đã giết chết cô ấy.
Tôi cúi xuống và quan sát cái đầu đặt trên chiếc bàn inox. Những sợi tóc vàng dính bết máu khô. Cặp lông mày rõ nét. Và, bên dưới, một khối dị hình của thịt và mô.
- Ta có thể nói gì về những vết thương này?
Fatima gật đầu rồi đưa cánh tay lên lau trán. Cô nheo mắt, như thể ánh sáng chói gắt khiến cô khó chịu.
- Cô ấy đã bị chém nhiều nhát bằng dao ở vùng cổ. Có lẽ chỉ một nhát là đã đủ giết chết cô ấy, nhưng thủ phạm đã quyết cắt lìa cái đầu khỏi cổ. Cột sống đã bị cắt đứt ở khoảng giữa hai đốt sống thứ ba và thứ tư. Phải có sức khỏe đáng kể mới làm được việc đó. Hoặc sự kiên trì.
- Một sức khỏe đáng kể nghĩa là sao?
- Khó mà biết được.
- Một người phụ nữ có thể làm việc này không?
Fatima nhướng một bên lông mày rồi khoanh hai tay trên chiếc tạp dề bằng nhựa.
- Ai nói là phụ nữ thì yếu?
Manfred khẽ vặn người.
- Ý tôi không phải như thế.
- Tôi biết ý anh muốn nói gì, Fatima thở dài. Đúng thế, một phụ nữ cũng có thể làm được việc này. Hoặc một người già. Hoặc một thanh niên trẻ khỏe. Việc của các anh là xác định kẻ đó.
- Ngoài ra, còn gì nữa không? Tôi hỏi.
Fatima сụр mắt nhìn xuống cái xác nhợt nhạt.
- Tôi cho rằng cô ấy khoảng hai mươi lăm đến ba mươi tuổi. Cô ấy cao một mét bảy mươi hai và nặng sáu mươi ki lô gam. Nói cách khác là thể trạng bình thường. Sức khỏe tốt. Ưa thể thao.
Mùi trong phòng bắt đầu khiến tôi buồn nôn. Tôi những muốn tin mình là người dày dạn, nhưng ta không bao giờ quen được với thứ mùi này. Nó không thực sự hôi thối - mà đúng ra, nó giống với mùi thịt sống và mùi hoa để quá lâu trong bình - nhưng tôi cảm thấy mình phải ra khỏi phòng. Đột nhiên, tôi cần hít thở khí lạnh bên ngoài.
- À vâng. Còn một điều cuối cùng, Fatima lầm bầm. Cô ấy đã có con, hoặc ít nhất, cô ấy từng mang thai.
- Cô ấy đã có một hay nhiều con? Manfred hỏi.
- Không thể nói được, Fatima vừa nói vừa tháo đôi găng tay khiến chúng kêu lên tạch tạch. Chúng ta xong việc chưa?
Manfred cầm lái để quay về Kungsholmen. Những bông tuyết rắc lả tả trên dòng xe cộ đông nghịt. Mặc dù còn chưa đến mười lăm giờ, màn đêm đã bắt đầu buông xuống.
- Một cô gái xinh xắn, Manfred nhận xét trong lúc bật đài.
- Fatima?
- Không, cô gái cụt đầu.
- Mẹ kiếp, anh quả là có vấn đề đấy!
- Thế sao? Chính cậu cũng nhìn thấy mà. Cô ta hẳn phải rất xinh đẹp. Cậu thấy thân hình cô ta rồi đấy! Bộ ngực ấy…
Tôi nhìn qua cửa kính xe trong lúc suy ngẫm về những lời bình luận của anh.
- Chúng ta có thông tin nào khác về danh tính của cô ấy không?
- Không.
- Và cũng không có tin tức gì của Orre?
- Không. Rõ ràng là hôm qua anh ta không đi làm.
- Thế còn hôm nay?
- Tôi chưa biết. Sanchez phải kiểm tra thông tin đó. Nhưng một nửa Thụy Điển đang tìm kiếm anh ta, anh ta sẽ không thể lẩn trốn lâu được.
- Thế còn báo cáo sơ bộ của các kỹ thuật viên?
- Trên mặt bàn cậu. Không có dấu vết đột nhập, vậy là hẳn đã có người mở cửa cho kẻ sát nhân. Trừ phi hắn sống trong ngôi nhà đó. Điều này có nghĩa hắn chính là Orre. Họ đã tìm thấy nước tiểu trên sàn nhà. Và một số dấu vân tay cùng dấu chân. Nhưng bởi vì bà hàng xóm ngu ngốc kia đã dạo chơi khắp nhà, nên họ không chắc là sẽ phát hiện ra điều gì. Còn có cả đống tế bào, nhưng chẳng có gì đáng ghi nhận cả. Hung khí là một con dao rựa. Mà nó cũng đã được gửi đến phòng xét nghiệm tìm kiếm tội phạm quốc gia rồi. Ta sẽ xem họ tìm được thứ gì. Có vẻ họ đã nhờ đến gã Linbladh lập dị, cái gã làm việc với những vết máu ấy. Anh ta sẽ giúp họ tái lập hiện trường.
Manfred im lặng rồi bắt đầu gõ ngón tay liên hồi trên vô lăng theo nhịp nhạc. Tôi có cảm giác anh đang căng thẳng. Anh đã không cạo râu từ nhiều ngày nay, và đôi mắt anh có vẻ mệt mỏi.
- Nadja ổn hơn chưa?
Manfred đưa mắt nhìn về phía tôi rồi vuốt tay lên chiếc áo choàng bằng lông lạc đà.
- Không, con bé khóc suốt đêm qua. Afsaneh phát điên cả lên. Cô ấy phải dậy sớm. Một trong số các nghiên cứu sinh của cô ấy bảo vệ luận văn hôm nay. Và ngay giữa cái cảnh khổ ải này, cô ấy lại tiếp tục nói về chuyện hôn nhân. Tại sao họ làm thế, đám phụ nữ ấy?
Tôi không có câu trả lời nào dành cho anh. Tôi còn nhớ quá rõ những chuyện xảy ra xung quanh cuộc hôn nhân của chính tôi.
Tôi ở với Janet được chừng một năm thì những nhận xét liên tục của cô ta về hôn nhân trở nên không thể chịu nổi. Nói thực lòng, tôi hoàn toàn không biết mình đi đến quyết định ấy như thế nào, nhưng đột nhiên, tôi chấp nhận cưới cô ta. Dĩ nhiên, lẽ ra tôi phải phản đối bằng một từ không kiên quyết, thay vì hèn hạ đồng ý. Tôi cho rằng hồi ấy tôi không muốn - hoặc không dám - khiến cô ta thất vọng.
Vậy là tôi buông xuôi.
Trong những tháng sau đó, cô ta chỉ nghĩ đến việc bài trí hoa lá, thực đơn và danh sách khách mời. Cô ta mang về những mẫu bánh ga tô, vẽ các sơ đồ kê bàn ghế trên những tờ giấy khổ lớn và nghe những bài hành khúc dành cho đám cưới ở độ to hết cỡ.
Và cô ta bắt đầu ăn kiêng.
Tôi gần như bắt đầu lo lắng. Hình như cô ta ăn giống một thầy tu để có thể chui vừa một chiếc váy nào đó. Một chiếc váy mà tôi tuyệt đối không được nhìn thấy trước ngày trọng đại. Rõ ràng điều đó là tối quan trọng đối với cô ta.
Về phần mình, tôi lẩn trốn vào công việc. Hồi ấy, chúng tôi đang điều tra về vụ sát hại một nữ bảo vệ bãi đậu xe ở Tensta, và vì vừa được thăng chức, nên tôi lại càng cần chứng tỏ khả năng của bản thân. Tôi không thể nói rằng Janet thông cảm với tôi. Ngược lại, cô ta đòi hỏi tôi dành thêm thời gian và gắn bó với cô ta hơn lúc bình thường. Phải đến thăm các nhà thờ, đặt một chuyến du lịch cho tuần trăng mật và tập nhắc lại những lời ước hẹn (mà cô ta đã viết ra).
Một tối, cô ta đến gặp tôi, mang theo một gói phong bì. Janet có vẻ đặc biệt vui thích, giống như khi mua được thứ gì đó quá đắt đỏ hoặc tìm thấy một chuyến du lịch mà cô ta thấy thú vị trên một trong số những cuốn catalogue mà cô ta thường xuyên mang về nhà. Đôi mắt cô ta lấp lánh còn mái tóc ngắn phai màu thì rối tung.
Cô ta giải thích với tôi rằng giấy mời đã sẵn sàng, rồi đưa cho tôi tập thư và hỏi tôi có thể mang chúng đến bưu điện gửi được không. Tôi không còn nhớ tôi đã trả lời thế nào. Hẳn là một câu gì đó đại loại như “chúng ta sẽ nói chuyện này vào lúc khác”, nhưng như thường lệ cô ta không nghe tôi.
Dù sao, tôi cũng nhớ rằng, tối muộn hôm đó, tôi ngồi trong chiếc ghế bành với mớ thư mời trong tay, tự hỏi mình có thể làm gì với chúng. Đương nhiên, tôi phải gửi chúng đi, đó là việc dễ dàng nhất trên đời. Đi xuống ngã tư rồi bỏ chúng vào thùng thư màu vàng để không buộc phải nghĩ đến cái sự kiện chết tiệt ấy trong nhiều tuần, nhưng tôi không thể làm thế. Tôi không sẵn sàng để làm một việc có tính chất quyết định đến vậy, để vượt qua ranh giới, để bước vào cuộc sống lứa đôi mà tôi không chọn lựa. Trong một thoáng, tôi còn có ý định thú nhận mọi chuyện với Janet, nói sự thực với cô ta: rằng chuyện đám cưới đó khiến tôi vô cùng sợ hãi và tôi thà trì hoãn nó. Ấy thế nhưng, khi tôi vào phòng ngủ để nói chuyện với cô ta, thì cô ta đã ngủ rồi. Tôi liền cất mớ thư mời vào ngăn kéo bàn làm việc và quyết định sẽ đề cập đến chuyện này vào một ngày khác.
Và điều gì phải đến đã đến. Tôi không thể thực lòng nói rằng tôi đã quên mở phong bì trong ngăn kéo, mà đúng hơn là tôi đã không đủ sức để đề cập đến chủ đề đó. Mỗi lần quyết tâm nói chuyện với Janet, tôi lại đột ngột có chuyện gì đó phải làm, hoặc Janet cáu kỉnh và gắt gỏng không muốn trò chuyện. Thỉnh thoảng cũng có những lúc cô ta như thế, thô lỗ và giận dữ. Thường là tôi không hiểu tại sao.
Khi nhớ lại thời kỳ ấy, tôi nhận ra rằng tôi đang cố gắng biện hộ cho cách hành xử của mình. Những gì tôi đã làm thật ngu ngốc, ấu trĩ và đã khiến Janet tổn thương đến mức tôi không thể nào hình dung nổi. Xét cho cùng, tôi đã không muốn làm cô ta phải đau lòng. Tôi chỉ muốn cô ta để tôi yên.
Dù sao đi nữa, một buổi tối, khi ngày cưới đang lại gần một cách đầy nguy hiểm - có lẽ còn chừng ba, bốn tuần gì đó cô ta ngồi xuống cạnh tôi bên mép giường. Mái tóc mà cô ta cho mọc tự do để có thể buộc gọn rơi thành những lọn cứng quèo xung quanh khuôn mặt buồn rầu, còn đôi bầu vú thì sệ xuống khỏi phần thân trên gầy guộc đến nỗi tôi cảm thấy lo ngại.
- Em không nhận được bất cứ hồi đáp nào cho thư mời cưới, cô ta vừa nói vừa quay sang nhìn tôi. Chuyện này thật lạ lùng, đúng không?
Tôi đang đọc lại một biên bản điều tra sơ bộ mà tôi đã hứa với công tố viên là sẽ hoàn tất trước sáng hôm sau - tôi không thực sự có thời gian để tranh cãi chuyện đó với cô ta. Nhưng tôi nhớ mình đã cảm thấy khó xử. Thậm chí là thấy hổ thẹn.
- Anh cho là những bức thư có thể bị lạc sao?
Có điều gì đó trong vóc dáng suy sụp và giọng nói trầm đến kỳ lạ của cô ta khiến tôi xúc động, khiến tôi nhận ra mức độ nghiêm trọng trong sự phản bội của tôi.
Tôi cảm thấy đau đớn về mặt thể xác.
Chính vì thế, tôi đã không dám nói ra sự thật. Không phải vào lúc đó. Tôi đã quyết định sẽ trì hoãn cuộc nói chuyện đến sáng hôm sau. Rốt cuộc, buổi nói chuyện đó đã không bao giờ xảy ra, và khi đã có thời gian nhìn lại, tôi phải thừa nhận rằng tôi đã hành xử tồi tệ. Nhưng tỏ ra chín chắn khi việc đã rồi mới dễ dàng làm sao.
Đêm đó, trong lúc tôi ngủ, Janet đã lục tung toàn bộ căn hộ. Như thể cô ta đã đánh hơi được những chuyện đã xảy ra, như thể cô ta được phú cho một loại giác quan thứ sáu. Tôi đã giật mình tỉnh giấc vì một tiếng hét khủng khiếp: chưa bao giờ, cả trước đó lẫn sau này, tôi từng nghe thấy thứ gì giống như vậy. Thoạt tiên, tôi tưởng có kẻ nào đó đang sát hại hoặc cưỡng bức cô ta. Tôi liền bật dậy, vấp phải một cái ghế và vập cằm vào chiếc bàn thấp. Tôi tiếp tục di chuyển trong căn hộ với khuôn mặt đầy máu, và cuối cùng cũng tìm thấy Janet. Cô ta đang ở trong phòng làm việc, còn mớ thư mời thì vung vãi khắp xung quanh, chẳng khác gì đám lá vàng phủ trên mặt đất, như thể cô ta vừa tung chúng lên. Cô ta không ngừng la hét, và vẫn tiếp tục ngay cả khi tôi ôm choàng lấy cô ta mà vỗ về như ôm một đứa trẻ con. Tôi đưa tay lại gần miệng cô ta để cố gắng khiến cô ta im lặng, nhưng cô ta đã cắn tôi.
Tôi còn nhớ rằng mặc dù bị đau, tôi đã cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm. Bị bàn tay tôi áp vào miệng, cô ta không thể kêu lên được nữa.
Manfred, Sanchez và tôi ngồi trong phòng họp nhỏ ở tầng bốn, căn phòng nằm bên phải khu bếp. Nó giống hệt với các phòng họp khác trong tòa nhà về mọi phương diện: những bức tường sơn màu trắng, những chiếc ghế bằng gỗ sáng màu có đệm lót màu xanh da trời, chiếc bàn bằng gỗ gia công màu trắng. Đằng trước cửa sổ, có một giá nến mà Gunnar đã mang đến trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tạo ra một khung cảnh Giáng Sinh. Trên tường có treo một tấm áp phích đã bạc màu thể hiện các giai đoạn hồi sức tim phổi. Chúng tôi phải chuẩn bị cho cuộc họp vào ngày hôm sau với các điều tra viên và người phụ trách điều tra sơ bộ, Björn Hansson, một trong các công tố viên mới. Tôi chưa gặp anh ta; theo Sanchez, anh ta “thông minh, nhưng khó mà đưa ra một quyết định nào, lại còn tự đánh giá mình quá cao, giống như các đồng nghiệp của anh ta”.
Manfred đã mang bình cà phê đến, còn Sanchez cắt những miếng bánh ngọt safron nhỏ bằng con dao cắt bơ. Những bức ảnh chụp hiện trường vụ án trải trên mặt bàn, bên cạnh đĩa bánh. Tôi cố gắng không nhìn vào cái đầu bị cắt lìa mỗi khi cúi xuống nhặt một miếng bánh.
Đến lúc này, đã là hai ngày kể từ khi người phụ nữ bị sát hại được phát hiện trong nhà của Jesper Orre tại Djursholm và chúng tôi vẫn không biết cô ta là ai. Đâu đó, cha mẹ và người thân của cô ta đang sống mà không biết rằng con gái, chị em gái hoặc mẹ của họ đã bị giết chết.
Đâu đó, một kẻ giết người đang tự do.
Sanchez tóm tắt vụ việc:
- Jesper Orre được nhìn thấy lần cuối cùng tại nơi làm việc vào chiều thứ Sáu. Theo lời các đồng nghiệp mà chúng ta đã hỏi chuyện, anh ta hành xử hoàn toàn bình thường và không xảy ra bất cứ chuyện gì bất thường. Anh ta rời văn phòng vào khoảng mười sáu giờ ba mươi, và theo một nhân chứng, hẳn là anh ta về nhà. Anh ta không nói gì về kế hoạch cuối tuần, nhưng đã lên lịch nghỉ phép đến tận thứ Tư, vậy là có thể anh ta dự định đi du lịch. Điện thoại di động và ví của anh ta được tìm thấy ở nơi ở. Không thiếu tấm thẻ tín dụng nào, và cũng không có lần rút tiền nào được thực hiện ở các tài khoản của anh ta kể từ tuần trước. Các kỹ thuật viên đã tìm thấy những dấu giày mới cỡ 43 trong phòng ngoài và trên lớp tuyết đằng trước nhà, điều này có thể cho thấy rằng Jesper Orre đã thực sự rời khỏi nhà sau vụ án mạng. Họ cũng tìm thấy những dấu vân tay của bà hàng xóm và nạn nhân vô danh của chúng ta. Cùng với các dấu vân tay khác mà chúng ta chưa xác minh được.
Phòng xét nghiệm đã thông báo rằng có các dấu vết di truyền trên con dao, nhưng chúng vẫn đang được phân tích.
- Anh ta thế nào, cái ngài Orre ấy? Manfred vừa hỏi vừa uống cà phê xì xụp.
- Có vẻ anh ta được các đồng nghiệp trong ban giám đốc khá quý mến, nhưng các cộng tác viên khác ở trụ sở thấy anh ta hơi khắc nghiệt. Nhiều người trong số họ thậm chí còn sợ anh ta, Sanchez trả lời. Về phần các nhân viên trong cửa hàng, cấp cơ sở nếu tôi có thể nói thế, họ ghét anh ta vì những biện pháp quản lý hà khắc. Và nghiệp đoàn ghê tởm anh ta. Nhưng các vị đã biết chuyện đó rồi. Cả cha lẫn mẹ anh ta đều là giáo viên về hưu. Họ vẫn sống ở Bromma, trong ngôi nhà nơi Jesper Orre đã lớn lên. Theo lời miêu tả của họ, anh con trai là một người năng động, thích thể thao và vui vẻ. Họ không cho là anh ta có bất cứ vấn đề tâm lý nào. Cha mẹ anh ta cũng khẳng định rằng anh ta độc thân từ nhiều năm nay, nhưng có một “cuộc sống tình yêu náo nhiệt”.
- Thật là một cách diễn đạt ngu ngốc! Nó có nghĩa là gì?
Sanchez cúi người trên bàn và bắt gặp ánh mắt của Manfred. Cô xiên chiếc dĩa vào miếng bánh cuối cùng.
- Điều đó có nghĩa là anh ta bùng nổ trên giường nhiều hơn anh, Manfred ạ.
- Điều này không giúp chúng ta tiến triển được bao nhiêu, tôi nhận xét.
Sanchez phì cười, làm bắn những mẩu bánh vào chiếc váy ngắn màu đen.
Manfred có vẻ không mấy thích thú với cuộc trò chuyện. Anh cởi chiếc áo vét kẻ ca rô, treo nó bằng một động tác chăm chút không giấu giếm trên vai ghế và khẽ đấm mấy cái xuống bàn bằng nắm tay to tướng của anh, như để thu hút sự chú ý của chúng tôi.
- Chúng ta cố gắng tập trung chút nào. Tôi không định qua đêm ở đây đâu. Sanchez, cô có giả thuyết gì không?
Bởi vì Sanchez là người có cấp bậc thấp nhất bên chiếc bàn này, đương nhiên cô là người lên tiếng đầu tiên. Những người lớn tuổi hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn, huấn luyện cho những người trẻ hơn. Đó là một phần của chu trình. Sanchez vươn vai rồi đột ngột tỏ vẻ nghiêm trang. Cô chắp hai bàn tay trước mặt, đặt chúng trên mặt chiếc bàn trắng.
- Khá rõ ràng rồi, không phải sao? Jesper Orre đang ở nhà anh ta với một trong số các bạn gái thì xảy ra chuyện. Họ cãi nhau và rốt cuộc anh ta giết cô ta. Sau đó, anh ta bỏ trốn.
- Tại sao anh ta không mang theo điện thoại di động hoặc ví tiền? Manfred vừa hỏi vừa phủi vài vụn bánh vô hình khỏi chiếc áo sơ mi màu hồng.
- Bởi vì khi đó họ đang ở trong phòng khách và anh ta không muốn để lại quá nhiều dấu vết trên hiện trường vụ án chăng? Sanchez gợi ý. Hoặc giả là anh ta đã quên. Anh ta có những mối bận tâm khác.
- Tôi nghĩ đến vụ sát hại đúng như nó xảy ra, tôi vừa nói vừa chỉ tay vào những bức ảnh chụp cái đầu trông như bị cắm xuống sàn. Tại sao lại bạo lực đến thế này? Giết chết cô ta thôi không đủ sao? Tại sao anh ta phải cắt đầu cô ta?
Sanchez nhíu mày.
- Hẳn là anh ta đã giận dữ đến mức phát điên, đã hận thù cô ta đến mức ấy! Tôi tự hỏi liệu việc đặt cái đầu ở đó có ngụ ý gì không. Cô ta quay về phía cửa, về phía một hoặc nhiều người sẽ bước vào. Mọi người có nghĩ đến điều đó không? Tôi tự hỏi phải chăng anh ta muốn nói điều gì đó.
- Chẳng hạn là nói gì?
Chúng tôi quan sát bức ảnh lần nữa. Đôi mắt cô gái nhắm chặt còn mái tóc bết máu thì rủ xuống thành những lọn cứng quèo trên khuôn mặt.
Sanchez nhún vai.
- Tôi không biết. Một điều gì đó đại loại như: “Nhìn xem! Đây là chuyện sẽ xảy ra khi phản bội tôi, hoặc khi nói dối tôi”… khi ta làm điều gì mà anh ta thấy là đáng trách chẳng hạn.
Điện thoại di động của Manfred đổ chuông. Anh nhặt nó lên, nghe máy rồi trả lời:
- Chúng tôi đang ở trong phòng họp nhỏ ở tầng bốn. Cậu có thể đi cùng anh ta. Tuyệt. Được, tất nhiên. Đồng ý.
Rồi, anh thu dọn những bức ảnh chụp hiện trường, lật úp chúng và xếp vào đống tài liệu được sắp đặt cẩn thận trước mặt. Anh hít một hơi thật sâu rồi tựa người vào lưng ghế.
- Chúng ta có khách. Hai người còn nhớ chúng ta từng nói về vụ án mạng ở khu phố Södermalm mười năm trước, vụ án có rất nhiều điểm tương đồng với vụ này không? Tôi đã tự ý mời một trong số những người từng tham gia điều tra vụ đó. Không hẳn là vì có mối liên hệ nào, mà bởi vì tôi tin rằng chị ấy có thể giúp chúng ta suy nghĩ một chút về kẻ sát nhân mà chúng ta đang truy tìm.
Đúng lúc đó, có người gõ cửa và tôi cảm thấy một cơn lạnh giá xâm chiếm thân mình. Dường như toàn bộ hơi ấm đã rời khỏi con người tôi chỉ trong một giây, bị thay thế bởi một cảm giác giá lạnh đi kèm với những nhịp đập hồi hộp trong lồng ngực. Căn phòng thu nhỏ lại, trần phòng hạ thấp, như thể nó sắp rơi xuống đầu tôi.
Cánh cửa mở ra và chị đứng đó, mặc một chiếc áo phao màu đen may vụng, đi đôi giày bốt trông có vẻ đủ dày cho một chuyến thám hiểm ở tận cực Bắc. Thời trang chưa bao giờ là thế mạnh của chị. Mái tóc nâu dày đã lốm đốm những sợi xám, và cặp kính khiến chị có vẻ khá nghiêm nghị, nhưng ngoại trừ những điều đó, chị không hề thay đổi. Có điều gì đó trong cái mạng lưới nếp nhăn li ti quanh mắt, trên khuôn mặt hơi gầy guộc khiến chị có vẻ dễ tổn thương. Như thể thời gian đã biến chị thành một người mong manh hơn, mềm yếu hơn.
- Giới thiệu với mọi người, đây là Hanne Lagerlind-Schön, Manfred nói.