Tiếng Thét Dưới Băng

Lượt đọc: 849 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HANNE

Xét cho cùng, chính là vì Owe mà tôi ở đây, chờ đợi ở tiền sảnh của trụ sở cảnh sát trung tâm. Tối đó, sau buổi hòa nhạc ở nhà thờ Hedvig Eleonora, chúng tôi cãi nhau một trận chưa từng thấy. Một vụ bùng nổ của cơn giận dữ điên rồ. Chính xác hơn, chính anh là người giận điên cuồng. Anh giải thích là tôi đã vô trách nhiệm và ấu trĩ đến thế nào khi muốn gặp cảnh sát và nói chuyện công việc trong khi toàn bộ căn bếp dán đầy những tờ giấy nhắn hỗ trợ-trí nhớ và tôi thậm chí còn không nhớ loại bánh mà anh thích ở Konsum (bột mì nâu và hạt bí, tôi nhớ lại, tôi đã cố tình lấy thứ bánh khác để chọc tức anh).

Tôi muốn trả lời anh rằng anh có thể tự mua cái thứ bánh mì chết tiệt của mình, nhưng đương nhiên tôi đã không làm thế. Thay vì vậy, tôi gọi Frida và đi vào nằm lên chiếc giường nhỏ trong phòng dành cho bạn bè. Tôi cố gắng hiểu tại sao tôi khó bỏ mặc Owe đến thế, tại sao tôi lại để anh dắt mũi tôi.

Tôi không tìm ra câu trả lời thông thái nào.

Sáng hôm sau, khi Owe đã đi làm, tôi gọi điện thoại cho viên cảnh sát đã liên hệ với tôi và giải thích với anh ta rằng tôi sẵn lòng ghé qua nói chuyện một lát. Ngày mai có thích hợp không? Anh ta trả lời rằng như thế rất tuyệt, họ hoan nghênh tôi.

Người phụ nữ đi cùng tôi đến tận phòng họp ở tầng bốn còn trẻ tuổi và nói chuyện thời tiết với tôi. Cô hỏi tôi đi đến đây có khó không, vì đang có bão tuyết. Tôi lịch sự trả lời rằng tàu điện ngầm hoạt động rất tuyệt và quần áo của tôi ấm đến nỗi tôi có thể ngủ ngoài trời mà cũng không hề thấy lạnh.

Cô đưa mắt nhìn chiếc áo khoác khổng lồ của tôi và nở một nụ cười thông cảm.

Chúng tôi đến trước một cánh cửa. Người phụ nữ khẽ gõ cửa, và vài giây sau, cánh cửa mở ra. Tôi không biết mình đang chờ đợi điều gì, nhưng chắc chắn không phải điều này.

Anh ta ở đó, ngay giữa căn phòng, đằng trước cửa sổ.

Peter.

Tôi có cảm giác toàn bộ máu trong cơ thể đột ngột tụt hết xuống chân, còn không khí thì bị hút hết qua những khe hở trên cửa sổ một cách bí ẩn, chỉ để lại một khoảng chân không. Đầu các ngón tay tôi như bị kim châm, tim tôi nảy lên trong lồng ngực, như thể cả nó cũng muốn ra ngoài: chạy trốn thật xa khỏi người đàn ông trung tuổi, thoạt nhìn có vẻ vô hại, đang ngồi trên chiếc ghế tựa màu xanh da trời kia.

Anh ta giống hệt như trong ký ức của tôi. Chỉ mệt mỏi hơn đôi chút, với một cái bụng hơi tròn hơn. Mái tóc ngắn màu vàng, điểm những sợi màu xám và đôi mắt xanh lá hõm sâu. Cái mũi khoằm nổi bật khiến người ta nghĩ đến các nhân vật nam chính trong những bộ phim xã hội đen thập niên 1960. Đôi bàn tay thanh mảnh, thon thả đến nỗi có thể là tay của một phụ nữ.

Mình biết rất rõ anh ta biết làm gì với đôi bàn tay này.

Ý nghĩ ấy không biết từ đâu xuất hiện và khiến tôi buồn nôn. Một lần nữa, tôi đấu tranh chống lại mong muốn quay gót rồi bỏ trốn. Nhưng tôi buộc mình phải ở lại, cho dù thân thể tôi từ chối điều đó.

- Xin chào, tôi nói.

- Chào chị, một người đàn ông vạm vỡ có khuôn mặt hồng hào mặc chiếc áo sơ mi hồng và quàng chiếc khăn màu vàng quanh cổ đáp lời tôi.

Anh ta có vẻ bề ngoài lạ lùng. Như thể những văn phòng xám xịt của trụ sở cảnh sát không phải là chỗ của anh ta. Anh ta giống như một người bạn lạc lõng của Owe, một người thuộc nhóm săn bắn của anh và có mặt ở đây vì một lý do khó giải thích nào đó.

Một phụ nữ trạc ba mươi tuổi có làn da rám nắng lại gần tôi và tự giới thiệu. Tôi bắt tay cô, nhưng không nghe thấy cô nói gì với mình. Rồi anh ta ở trước mặt tôi. Giống như trước đây, thân hình anh ta và cái cách anh ta di chuyển có thứ gì đó trẻ con, cái nét lòng khòng chưa bao giờ biến mất hẳn. Anh ta đưa tay cho tôi và tôi thấy rõ là tình huống này khiến anh ta khó xử.

Tôi bắt tay Peter, nhưng vẫn tránh không nhìn vào cặp mắt xanh của anh ta. Tuy nhiên, phản ứng của tôi là hiển nhiên, gần như là thể chất, và điều đó khiến tôi sợ. Tôi có cảm giác vừa bị ai đó đá mạnh vào bụng. Nhưng khoảnh khắc đó đã qua và chúng tôi buông tay nhau. Tôi cởi áo khoác, buông mình ngồi xuống một chiếc ghế và từ chối cốc cà phê mà cô gái mời - tôi sợ mình không thể cầm chiếc cốc mà không run tay.

Tôi сụр mắt nhìn xuống bàn. Mặt bàn sáng loáng có hẳn những đường vân nhỏ. Tôi thoáng nhìn thấy Peter qua khóe mắt. Có vẻ như anh ta đang nhìn ra cửa sổ.

- Tốt rồi. Cảm ơn chị đã đến, người đàn ông vạm vỡ bắt đầu. Chúng ta đã gặp nhau vài lần mười năm trước, trong khuôn khổ cuộc điều tra về vụ sát hại Miguel Calderón.

Tôi gật đầu, nhìn thẳng vào mắt anh ta. Anh ta lấy một bìa hồ sơ lớn và bắt đầu rút từ đó ra những bản báo cáo và những bức ảnh. Giấy đã ngả vàng, những bức ảnh bị quăn mép. Anh ta trải mở tài liệu đó ra trước mặt.

Tôi cúi người, xem xét những bức ảnh đen trắng. Ký ức ùa về dồn dập: mùi nhà xác, cái đầu người thanh niên đặt cách phần thân nhiều xăng ti mét trong tư thế đứng và quay về phía cửa. Đôi mắt nạn nhân được giữ cho mở hé bằng băng dính - hình ảnh đó đã bám riết tôi trong giấc mơ suốt nhiều tháng.

- Miguel Calderón, hai mươi lăm tuổi, đã làm nhiều nghề khác nhau, viên cảnh sát đồ sộ có chất giọng dịu dàng mà giờ thì tôi đã nhớ ra tên là Manfred nói tiếp. Người chị gái Lucia đã tìm thấy nạn nhân chết trong căn hộ của anh ta trên phố Hornsbruksgatan, gần bến tàu điện ngầm Zinkensdamm, ngày 15 tháng Tám cách đây mười năm. Cô ta đã cố gắng liên lạc với em trai trong suốt một tuần nhưng không được, nên bắt đầu lo lắng. Bởi vì có chìa khóa nhà anh ta, cô ta đã mở cửa và bắt gặp anh ta chết trong phòng ngoài. Nguyên nhân tử vong: rất nhiều vết chém ở cổ bằng một thứ giống như lưỡi kiếm, chúng ta chưa bao giờ tìm thấy hung khí. Cái đầu bị cắt lìa khỏi thân hình và đặt ở bên cạnh. Hai mí mắt bị dán bằng băng dính trong trạng thái mở, như thể kẻ sát nhân muốn buộc tất cả những người bước vào phòng phải bắt gặp ánh mắt của nạn nhân.

Tôi gật đầu và cảm thấy tim dần bình tĩnh hơn, ô xy cũng dần trở lại trong không khí. Thật lạ lùng, nhưng một vụ giết người tàn bạo xảy ra mười năm trước dường như có tác dụng tuyệt diệu trong việc làm ta sao nhãng. Có lẽ tôi có thể làm như thể anh ta không ở đó, chỉ cách tôi vài mét, và thậm chí có thể làm anh ta biến mất nếu tôi thực sự cố gắng.

Nếu tôi tập trung chủ yếu vào cái chết.

Manfred Olsson thả tập giấy dày lên bàn làm vang lên một tiếng động khô khốc, rồi nói tiếp:

- Cuộc điều tra đó là một trong những vụ được làm kỹ càng nhất trong lịch sử ngành cảnh sát hình sự Thụy Điển, có lẽ chính là vụ án được lục lọi kỹ càng nhất - ngoại trừ vụ sát hại Olof Palme, đương nhiên. Chúng tôi đã nghe lời khai của vài trăm nhân chứng và người thân, thống kê và lấy mẫu ADN của vô số người. Chúng tôi đã tìm thấy một đầu mẩu thuốc lá đằng trước cửa nhà, có thể nó thuộc về thủ phạm. Vụ án đã được nhắc lại trong chương trình truyền hình Efterlyst . Thậm chí một phóng viên còn viết một cuốn sách, trong đó anh ta khẳng định rằng Calderón đã bị một tay giết thuê người Chi Lê hạ sát, hắn chuyên săn đuổi những người tị nạn chính trị trong đất nước chúng ta, với sự đồng thuận của các cơ quan tình báo Thụy Điển. Bây giờ, hẳn là chị đã nhớ lại rồi, chị Hanne ạ.

Tôi gật đầu đồng tình.

- Và bây giờ, thứ này , Manfred Olsson vừa nói tiếp vừa đặt lên bàn những bức ảnh có vẻ là mới được chụp. Tối Chủ nhật, người ta tìm thấy một phụ nữ trẻ đã bị sát hại ở Djursholm. Nguyên nhân tử vong: rất nhiều vết chém bằng dao ở cổ họng. Giống như Calderón, cô gái trẻ đã bị cắt lìa đầu, đầu cô ta được đặt trên sàn, quay mặt về phía cửa ra vào.

- Có băng dính trên mí mắt cô ấy không?

Tôi gần như ngạc nhiên vì mình vừa đặt câu hỏi, vì tôi đã nói được. Người phụ nữ có làn da sẫm màu lắc đầu.

- Không, không có băng dính. Và lần này chúng tôi đã tìm thấy hung khí tại hiện trường. Một con dao. Nó đã được gửi đến phòng xét nghiệm để phân tích.

Tôi không thể ngăn mình liếc mắt nhìn về phía Peter. Khuôn mặt anh ta nhợt nhạt, hai tay khoanh lại trước ngực. Anh ta đang khó chịu, ai cũng có thể nhìn thấy thế, và đó là một thứ chiến thắng. Một chiến thắng nhỏ xoàng xĩnh, nhưng dù sao cũng là một chiến thắng mà tôi nhấm nháp.

- Tôi còn nhớ rằng lần trước, chị đã có những giả thuyết thú vị về thủ phạm, Manfred Olsson nói tiếp. Chị có nghĩ rằng chúng ta đang gặp lại cùng một tên sát nhân đó không?

Tôi quan sát những bức ảnh chụp người chết và cảnh hỗn độn đang được bày trước mặt. Giống như tất cả các lần khác, tôi cảm thấy một sự sầu thảm, nhưng đồng thời còn có một niềm say mê với cái bản năng giết chóc không thể thuần hóa ở con người. Và một thứ khác, một cảm giác như kim châm, có lẽ là một mong muốn được chìm đắm vào vụ việc, lật trở nó theo mọi hướng. Dần dần tạo ra một hình ảnh của kẻ thủ ác, biến kẻ đó thành một con người bằng xương bằng thịt.

Các nghiên cứu ở trường đại học khiến tôi say mê, nhưng làm việc cho cảnh sát mang lại cho tôi một sự thỏa mãn hoàn toàn khác. Tất cả những gì tôi làm trong ngày đều rất lý thuyết, và ta luôn cảm thấy phấn khích khi được áp dụng những kiến thức đó vào thực tế. Tôi đột nhiên hiểu ra rằng tôi nhớ điều đó đến thế nào.

- Như mọi người có thể hình dung, tôi khó mà nói điều gì khi chưa biết hết các chi tiết trong vụ điều tra, nhưng thoạt nhìn… Các nạn nhân đương nhiên là khác nhau, một người đàn ông và một người phụ nữ, cũng giống như địa điểm gây án. Và trong vụ án của mọi người, hung khí bị bỏ lại hiện trường, điều này cũng khác với vụ án Calderón. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng những điểm tương đồng trong cách thức gây án là rất đáng kể, nên chúng ta không thể bỏ qua được. Có lẽ các vị nên xem xét điều này kỹ hơn. Nhưng hẳn là các vị cũng đã đi đến kết luận này, bởi vì các vị đã liên hệ với tôi.

Viên cảnh sát bệ vệ gật đầu.

- Kẻ nào lại làm loại chuyện này? Cô gái hỏi. Một gã điên chăng?

Tôi khẽ nở một nụ cười. Từ “điên” được sử dụng theo cách hoàn toàn sai lạc trong xã hội chúng ta.

- Điều đó còn phụ thuộc ở việc ta định nghĩa điên là thế nào. Ta có thể khẳng định rằng phải điên ở một mức độ nào đó để có thể thực hiện một tội ác thế này. Nhưng nếu chúng ta phải đương đầu với một kẻ sát nhân mắc bệnh tâm thần nặng đến mức không thể tự chăm sóc cho mình, có lẽ hắn cũng không đủ khả năng để xóa dấu vết và ẩn náu. Hẳn là các vị đã bắt được hắn rồi.

- Chị nói là “hắn”?

Nữ cảnh sát cúi người về phía trước và nhìn thẳng vào mắt tôi.

- Đúng thế, bởi vì đa số những kẻ sát nhân đều là nam giới. Nhất là trong thể loại án mạng… bạo lực này. Nhưng đương nhiên là ta không thể loại bỏ giả thuyết rằng thủ phạm là một phụ nữ. Ở đây ta đang nói đến các khả năng, chứ không phải một bộ môn khoa học chính xác.

- Và việc cắt đầu nạn nhân rồi dựng trên mặt sàn, nó có ý nghĩa là gì?

Tôi nhún vai.

- Các vị sẽ biết thôi. Tôi còn nhớ là chúng ta đã nói rằng việc đó có thể là nhằm sỉ nhục nạn nhân, rằng thủ phạm hẳn là có quen biết Calderón và căm thù anh ta sâu sắc. Đủ sâu sắc để muốn trưng bày anh ta trước toàn thế giới. Bản thân hành động cắt đầu của một ai đó cũng thể hiện một… sự điên cuồng thực thụ. Từ góc độ lịch sử, chặt đầu đã được sử dụng để trừng phạt những tội lỗi nghiêm trọng nhất. Cách nói “án tử hình” trong tiếng La tinh có chứa từ caput tức là “đầu”. Hình phạt này hiện vẫn còn tồn tại ở Ả Rập Saudi. Ở Thụy Điển, vụ chặt đầu cuối cùng được thực hiện vào năm 1900, nhưng trong nhiều nước châu Âu, người ta có thể bị kết án chặt đầu trong một thời gian dài ở thế kỷ hai mươi. Người ta ước tính rằng hơn mười lăm nghìn người đã bị chặt đầu ở Đức và ở Áo trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1945. Tại nhiều nước châu Âu, người ta có truyền thống cho rằng bị chặt đầu còn vinh quang hơn là bị treo cổ hoặc bị thiêu sống, và phương thức hành hình này được dành riêng cho các nhà quý tộc và các binh sĩ. Ấy thế nhưng, trong các nền văn hóa khác, chẳng hạn như Trung Hoa, việc này bị coi là một sự sỉ nhục. Người Celte cắt đầu kẻ thù rồi treo trên mình ngựa. Sau các cuộc chiến, những cái đầu được ướp hương liệu và bảo quản để rồi được trưng bày sau đó - điều này khiến người La Mã, vốn coi người Celte là những kẻ dã man, rất bất bình. Nhưng với người Celte, việc chặt đầu kẻ thù là một hành động tự nhiên, bởi vì cái đầu tượng trưng cho sự sống, thậm chí là cả tâm hồn.

Mọi người trong phòng đều im lặng - có lẽ bài thuyết trình của tôi đã khiến những cảnh sát dạn dày này bị sốc chăng?

- Có mối liên hệ nào giữa các nạn nhân không? Tôi hỏi.

- Theo như chúng tôi biết thì không, nhưng chúng tôi vẫn bảo lưu câu hỏi đó, Manfred Olsson trả lời. Chúng tôi có một nghi phạm trong vụ giết người ngày Chủ nhật vừa rồi, nên mới xem xét các mối liên hệ với Calderón.

Tôi quan sát lần nữa bức ảnh chụp cái đầu bị cắt lìa của cô gái, cố gắng hình dung xem việc khiến một ai đó phải chịu đựng điều ấy có thể mang lại cảm xúc gì. Đâu là những cơ chế dồn tụ lại để một người có thể thực hiện một tội ác như thế.

Tôi khẽ lướt ngón tay trên bức ảnh.

- Ai đây?

Không ai trả lời. Bên ngoài, tuyết tiếp tục rơi. Những bông tuyết mềm xốp to tướng bị gió thốc bay phấp phới trước cửa sổ, ngăn cản tầm nhìn.

- Chúng tôi không biết, Peter đột ngột xen vào và bắt gặp ánh mắt tôi lần đầu tiên.

Tôi đoán thấy một nỗi đau đớn trong ánh nhìn của anh ta trước khi anh ta cụp mắt xuống. Có vẻ như những người khác không nhận thấy sự căng thẳng giữa chúng tôi, bởi vì viên cảnh sát bệ vệ vội vàng nói thêm:

- Tôi đã tự hỏi liệu chị có quan tâm đến việc hỗ trợ chúng tôi trong vụ này không. Với tư cách là cố vấn, tất nhiên. Đây không phải là một công việc toàn thời gian, mà đúng hơn là vài giờ lúc này lúc khác. Nếu chị có thời gian và muốn làm, đương nhiên là thế.

Stockholm được bao bọc trong một lớp sương mù dày trắng sữa khi tôi xuôi phố Hantverkargatan, đi về phía tòa thị chính. Những bông tuyết táp vào mặt tôi. Tất cả đều im lặng như tờ. Đi tàu điện ngầm có lẽ sẽ nhanh hơn, nhưng tôi cảm thấy mình cần làm cho đầu óc trống rỗng, xua đuổi hình ảnh Peter, một lần nữa anh ta lại len vào cuộc sống của tôi. Những chiếc xe hơi lăn bánh chậm rề rề trong cơn bão tuyết và lớp phủ màu trắng kêu lạo xạo dưới chân tôi khi tôi chậm rãi đi về phía trung tâm thành phố.

Peter Lindgren.

Xét cho cùng, cũng khá lạ lùng khi tôi không gặp anh ta sớm hơn. Ấy thế mà tôi đã thực hiện nhiều nhiệm vụ cho cảnh sát, ngay cả sau đó. Đôi khi tôi tự nhủ có lẽ anh ta sẽ ở đó, ở sở cảnh sát, để làm việc như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Hồi ấy, chuyện đó khiến tôi choáng váng đến nỗi tôi cảm thấy khó thở. Nhưng dòng đời tiếp tục trôi. Mọi người luôn phản bội lẫn nhau, ấy thế nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn, dù ta có muốn hay không. Cuộc sống mặc kệ những ta gì muốn.

Ngọn tháp màu nâu đỏ của tòa thị chính mất dạng trong sương mù, như thể nó chọc lên đến trời và cao hơn thế, tới tận vùng không gian đen tối, về phía vĩnh hằng. Một ngày nào đó, có lẽ trí nhớ của tôi sẽ bị ảnh hưởng đến mức khiến nó biến mất, tôi tự nhủ. Đến mức xóa mờ nó, như cái cách thành phố bị xóa mờ bên dưới lớp sương mù lẫn với tuyết.

Tôi hy vọng điều đó.

Nhưng trong trường hợp tệ nhất, thì điều đối lập có thể sẽ xảy ra: toàn bộ những thứ khác sẽ biến mất, ngoại trừ hình ảnh người đàn ông ấy, thân hình anh ta, những lời nói của anh ta.

Chúng tôi gặp nhau khi tôi đang hỗ trợ cảnh sát trong vụ điều tra về cái chết của hai cô gái điếm ở Märstra, về phía Bắc Stockholm. Tôi còn nhớ là thoạt tiên, Peter không gây ấn tượng gì đáng kể đối với tôi. Anh ta là một trong số đông cảnh sát tôi gặp hằng ngày. Có lẽ tôi đã thấy anh ta hơi yếu đuối. Anh ta có vẻ thiếu tự tin vào bản thân - không phải về mặt hình thể, không đâu, mà trong cách thức diễn đạt hơi vụng về, hơi lẩn quẩn. Tôi còn nhớ mình đã nghĩ rằng anh ta là một cảnh sát lạ lùng, bởi vì các cảnh sát thường thẳng thừng, rõ ràng và tự tin.

Thế rồi xảy ra chuyện trong thang máy.

Hồi ấy họ đang cải tạo trụ sở cảnh sát, và không biết vì lý do gì, họ đã cưa đứt một dây cáp điện đúng lúc Peter và tôi đang ở trong thang máy, đâu đó giữa tầng hai và tầng ba của tòa nhà. Chỉ một loáng, chúng tôi đã chìm trong bóng tối và thang máy dừng lại. Vài giây sau, ánh sáng xanh mờ bật lên dưới chân chúng tôi, hẳn là một thứ đèn chiếu sáng khẩn cấp nào đó. Chúng tôi phải mất một lúc lâu để nói chuyện với một nhân viên an ninh mù mờ, thông qua cái thiết bị liên lạc nhỏ gắn trên tường, trước khi tự bảo nhau rằng việc duy nhất nên làm là ngồi xuống và chờ cứu hộ - việc có thể mất một khoảng thời gian.

Chúng tôi ở đó chừng ba giờ đồng hồ trước khi được các nhân viên cứu hộ đến giải thoát. Và chính trong ba giờ đồng hồ đó, tôi đã học cách hiểu Peter.

Đầu tiên, chúng tôi nói đủ thứ chuyện tầm phào. Chủ yếu là về công việc, đúng thế, về vụ án chúng tôi đang điều tra, và cùng ngạc nhiên khi hai thiếu nữ bình thường lại bắt đầu làm gái điếm trong khi dường như họ có tất cả những gì họ cần. Khá nhanh chóng, chúng tôi đề cập đến những chủ đề riêng tư hơn. Tôi kể với Peter về mối quan hệ của tôi với Owe và tôi còn nhớ là chính tôi cũng thấy ngạc nhiên về khả năng tâm sự của mình với Peter, khi kể với anh ta những chuyện mà thậm chí tôi còn không nói với các bạn bè. Nhưng có điều gì đó trong cung cách của anh ta, trong sự mò mẫm bướng bỉnh ấy, trong cuộc truy tìm những điều quan trọng trong cuộc sống ấy đã thôi thúc tôi để anh ta bước vào những ngóc ngách riêng tư nhất của tâm hồn tôi.

Có lẽ cũng còn vì anh ta đã dám chia sẻ với tôi những suy nghĩ tối tăm và cấm kỵ nhất của mình.

Anh ta kể với tôi về cái chết của người chị gái ở tuổi thiếu niên và việc anh ta chia tay với người vợ chưa cưới. Về đứa con trai năm tuổi mà anh ta gần như không bao giờ gặp và về nỗi buồn của anh ta khi trở thành một kẻ mà anh ta không ưa. Về những cảm giác khi anh ta ý thức được rằng, xét cho cùng, anh ta không phải là một người tốt. Đó là những từ ngữ anh ta đã dùng: “Xét cho cùng, tôi không thực sự là một người tốt”. Anh ta đã khẳng định điều đó bằng một giọng trung dung, như thể đang nói về một chiếc xe hơi hoặc một căn hộ. Và anh ta có vẻ nghiêm túc tin rằng Albin - con trai anh ta - sẽ sống tốt hơn nếu không có anh ta.

Tôi đã cố gắng giải thích với Peter rằng tất cả các cá nhân đều có nhược điểm của riêng mình, đều sai lầm, và rằng lũ trẻ - có lẽ đặc biệt là những bé trai - cần cha chúng, cho dù họ không hoàn hảo.

Xã hội của chúng ta khiến chúng ta tin rằng làm cha mẹ là phải hoàn hảo, trong khi điều quan trọng là sự hiện diện.

Nhưng chính xác thì tôi biết gì về chuyện đó? Tôi làm gì có con.

Anh ta cũng nói với tôi rằng anh ta chỉ có một niềm tin chắc chắn: anh ta là một cảnh sát giỏi và dự định sẽ bám víu vào điều đó. Hẳn là lẽ ra tôi phải đề phòng ngay từ lúc ấy, nhưng anh ta đã khơi dậy sự hiếu kỳ trong tôi. Mỗi lần gặp những người hơi bị tàn phá, tôi lại cảm thấy một cảm giác thôi thúc, một nhu cầu vá víu cho họ, chữa lành những vết thương đau đớn ấy.

Như thể tôi có thể sửa chữa Peter.

Hai tuần sau, tôi đi cùng về nhà anh ta khi hết giờ làm việc. Tôi không thực sự biết tại sao. Tôi ngủ trong căn hộ nhỏ hai phòng của anh ta ở Fastra và chúng tôi làm tình suốt đêm. Tôi đã thấy chuyện đó thật kỳ diệu, tôi vẫn còn nhớ, như thể anh ta đã đánh thức thứ gì đó đang ngủ trong tôi từ nhiều năm nay. Cái cảm giác cả về thể xác, tình cảm và gần như tinh thần ấy, khi người này được sinh ra dành cho người kia.

Tôi rùng mình khi nhớ lại những khoảnh khắc ấy. Bây giờ, tôi thấy điều ấy có vẻ giống một giai thoại, khi đứng giữa vùng tuyết hỗn loạn mười năm sau. Trên thực tế, chúng tôi có điều gì chung nếu không phải là một thứ cay đắng bởi vì cuộc đời đã không thực sự diễn ra như chúng tôi từng hy vọng? Một nỗi cô độc đã đẩy hai chúng tôi vào vòng tay nhau. Làm sao chúng tôi có thể cùng nhau xây dựng một cuộc đời chung - anh ta kém tôi mười tuổi, và tôi đã có chồng. Một phụ nữ có chồng đậm nét . Chúng tôi không hề có cùng xuất thân, cũng không có cùng những chủ điểm quan tâm hay nền tảng văn hóa.

Ấy thế nhưng.

Tất cả những ngày ấy. Tất cả những đêm ấy. Đôi bàn tay anh ta thám hiểm thân thể tôi mới tham lam làm sao! Chúng tôi làm tình mới cuồng nhiệt làm sao! Trên giường của anh ta, trong chiếc xe công vụ của anh ta và trong phòng vệ sinh ở chỗ làm. Hai thiếu niên thực thụ. Chúng tôi khó ở trong cùng một phòng mà không nhìn nhau rồi vừa đỏ mặt vừa cười khúc khích. Các đồng nghiệp nhìn nhau bằng ánh mắt đồng lõa và lắc đầu.

Tôi dừng lại ở gần công viên Berzelii, cố gắng xác định những đường viền của nhà hát kịch hoàng gia trong cơn bão tuyết. Tôi ngửa đầu ra sau, há miệng và để cho những bông tuyết đậu lên lưỡi. Tôi nếm bầu trời vừa đậu xuống mình.

Đương nhiên là Owe cũng nhận ra rằng tôi đang yêu. Những điều đó thường thể hiện rõ mồn một - cho dù bản thân ta không tin như thế. Nhưng anh không nhận xét gì. Không phải vào lúc đó.

Sau chừng một năm, Peter và tôi bắt đầu nói đến chuyện trở thành một cặp, chuyện sống chung. Thực lòng mà nói, chính tôi là người lưỡng lự nhiều nhất - vì những lý do không phù hợp, hôm nay thì tôi nhận ra điều đó. Tôi lo lắng về những gì mọi người sẽ nghĩ nếu tôi bỏ chồng để đến với một cảnh sát kém tôi mười tuổi và dọn đến sống ở vùng ngoại ô. Tôi, người đang có tất cả: một ngôi nhà đẹp, một sự nghiệp xán lạn và một người chồng mà mọi người đều ngưỡng mộ.

Mọi người, trừ tôi.

Nhưng Peter rất cứng đầu. Anh ta muốn tôi thuộc về anh ta, Peter giải thích như vậy. Cho dù chúng tôi sẽ không thể có con và chắc chắn là sẽ phải trả giá đắt cho mối tình của mình. Anh ta muốn tôi thuộc về anh ta, vì anh ta yêu tôi và không thể sống mà không có tôi.

Bla-bla-bla.

Những lời nói, chỉ là những lời nói. Hoặc giả, đó chính là những gì mà anh ta cảm thấy, đúng vào thời điểm ấy. Đúng vậy, hẳn là như thế.

Dù sao, cuối cùng anh ta cũng thuyết phục được tôi, và tôi quyết định rời bỏ Owe. Tôi về nhà để thu dọn hành lý, thu thập những đồ đạc cá nhân quan trọng nhất, và Peter đã hứa là sẽ ghé qua đón tôi trước nhà vào mười bảy giờ ngày hôm đó.

Tôi còn nhớ rằng lúc sắp xếp hành lý, tôi đã rất háo hức đồng thời cũng cảm thấy vô cùng tội lỗi, giống như một đứa trẻ sắp sửa ăn trộm kẹo. Khi tôi chuẩn bị bước qua ngưỡng cửa, Owe xuất hiện, chuyện này vốn không nằm trong kế hoạch của tôi - anh hiếm khi về nhà trước sáu giờ tối. Tôi nói sự thật với anh: rằng tôi đã gặp một người khác và sắp sửa rời bỏ anh. Rằng tôi không yêu anh và cảm thấy mình bị cầm tù trong mối quan hệ giữa tôi với anh. Anh nổi giận và hét lên rằng tôi sẽ phải hối tiếc vì chuyện này, rằng chỉ là vấn đề thời gian thôi rồi tôi sẽ phải tiu nghỉu quay về mà nài xin anh để tôi trở lại. Tôi không trả lời, tôi chỉ ra khỏi nhà mà thậm chí còn không thèm đóng cửa lại sau lưng. Ra đến cổng tòa nhà tôi vẫn còn nghe thấy tiếng anh la hét. Tôi không còn nghe rõ lời lẽ của anh, nhưng vẫn nghe thấy giọng nói giận dữ của anh vang vọng trong khoang hành lang.

Bên ngoài trời tối đen, một màn mưa mịn rải xuống mặt đường trải nhựa. Tôi đặt chiếc túi xuống một bậc tam cấp rồi ngồi bên cạnh, một cơn mệt mỏi đột nhiên xâm chiếm khiến cả người tôi như tê liệt. Tôi có cảm giác như ai đó đang kéo tôi xuống đất và đôi chân tôi không chịu nâng đỡ thân thể tôi nữa.

Và tôi cứ ngồi ở đó.

Thời gian trôi đi. Năm giờ rồi năm rưỡi chiều. Khoảng năm giờ bốn mươi lăm, tôi gọi cho Peter để hỏi xem anh ta đang làm gì, nhưng anh ta không nghe máy. Khoảng sáu rưỡi, tôi bắt đầu hiểu ra rằng anh ta sẽ không đến, nhưng tôi không còn chút sức lực nào để nhúc nhích, để đứng dậy khỏi cái bậc thềm bằng đá ấy. Mưa đã tạnh và gió lạnh từ bến tàu thổi đến, nồng mùi biển và mùi khí thải. Gió luồn vào bên trong chiếc áo khoác mỏng của tôi và bao bọc tim tôi, khiến tôi đóng băng từ bên trong.

Khi Owe đi xuống tìm tôi vào khoảng chín giờ tối, tôi không phản kháng, mặc dù đau điếng khi anh túm lấy cánh tay tôi. Tôi đi theo anh vào căn hộ, không tỏ thái độ gì.

Tuần sau đó, tôi nhận được một bức thư. Peter giải thích với tôi rằng anh ta không thể sống với tôi, rằng anh ta sẽ chỉ khiến tôi tổn thương - anh ta là như vậy, anh ta gây tổn thương cho người khác - rằng sẽ tốt hơn cho tất cả những người liên quan, kể cả tôi, nếu chúng tôi không gặp nhau nữa.

Tôi đi đến đằng trước cửa hàng đồ nội thất Svensk Tenn trong phố Strandvägen. Tôi áp mặt vào cửa kính dính đầy tuyết ẩm và nhìn qua cửa sổ. Nơi này giống như bên trong nhà chúng tôi, tức là nhà Owe và tôi. Sự thanh lịch thị dân và sặc sỡ với những ảnh hưởng dân tộc này. Hẳn là đắt lòi mắt. Thanh nhã mà không khiến người ta lo ngại. Một chuyến tàu điện chạy qua trong phố và tôi nhắm mắt lại, cố gắng xua đuổi Peter ra khỏi tâm trí. Tập trung vào nơi này và thời điểm này, tập trung vào cơn bão tuyết trong lúc tôi quay về nhà để gặp lại người đàn ông mà tôi vẫn không yêu. Với sự quên lãng như sự cứu rỗi duy nhất.

« Lùi
Tiến »