Ðiều tra về một vụ án mạng cũng giống hệt như cuộc đời: có một điểm khởi đầu, một điểm giữa và một điểm kết thúc. Và, cũng giống như cuộc đời, ta không bao giờ biết mình đang ở đâu trước khi thời điểm đó kết thúc. Đôi khi, nó chấm dứt gần như trước khi kịp bắt đầu, và đôi khi, ta có cảm giác là nó cứ tiếp diễn mãi mãi, cho đến khi nó tàn lụi hoặc bị xếp vào loại vụ việc không được giải quyết.
Điểm khác biệt duy nhất, đó là với các cuộc điều tra, mục tiêu là đi đến một kết luận càng nhanh càng tốt - trái ngược với cuộc sống. Rốt cuộc, đôi khi tôi cũng đặt cho mình những câu hỏi.
Trước đây, tôi thấy khía cạnh thất thường, yếu tố ngẫu nhiên không thể kiểm soát trong công việc của tôi là một phần làm nên sự quyến rũ cho nó. Nhưng cả khía cạnh ấy cũng đã trở thành thường lệ, giống như tất cả những thứ khác.
Người phụ nữ ngồi trước mặt chúng tôi trong phòng hỏi cung tên là Anja Staaf. Tôi chưa biết liệu cô ta có thể giúp chúng tôi giải mã điều bí ẩn liên quan đến những chuyện đã xảy ra ở nhà Jesper Orre hôm Chủ nhật hay không, nhưng cứ theo lời bạn bè của Jesper, thì cô ta là một trong những phụ nữ mà anh ta đi lại chuyên cần nhất những năm vừa qua. Cô ta có mái tóc sẫm, gần như màu đen, kiểu tóc tỉ mỉ gợi nhớ đến kiểu tóc của một giai nhân trong quá khứ. Làn da của cô ta nhợt nhạt và cô trang điểm rất kỹ, với một đường kẻ mắt đậm nét cùng đôi môi đỏ sậm. Anja mặc chiếc váy họa tiết chấm bi ôm sát khuôn ngực, một chiếc áo gi lê ngắn và đi đôi bốt màu đen. Anja có vẻ bình thản, bình thản đến đáng ngạc nhiên với một người đang ngồi trong phòng hỏi cung ở trụ sở cảnh sát.
Manfred mang cho cô một cốc nước, bật máy ghi âm rồi giải thích để cô biết rằng cô sẽ được lắng nghe như một nhân chứng trong khuôn khổ vụ án giết người xảy ra tại nhà Jesper Orre. Cô gật đầu, vẻ mặt nghiêm trang, mân mê vạt áo gi lê, vần vò một trong mấy chiếc cúc nhỏ trơn nhẵn có ánh xà cừ.
- Áo vét đẹp đấy, cô ta vừa nói vừa hất cằm chỉ vào chiếc áo blazer màu vàng mù tạt của Manfred.
Anh không để bản thân bị bối rối, nhưng vẫn đưa bàn tay vuốt mép áo bên trái.
- Cảm ơn cô. Chúng tôi cố gắng trong khả năng của mình, anh lẩm bẩm. Cô có thể cho chúng tôi biết cô gặp Jesper Orre bao giờ và trong hoàn cảnh nào không?
Cô ta ngước mắt nhìn chăm chú lên trần nhà, như thể phải tập trung để nhớ lại.
- Là ở câu lạc bộ. Câu lạc bộ Vertigo, nơi tôi làm việc. Thỉnh thoảng anh ấy đến đó, và dần dà, chúng tôi bắt đầu trò chuyện với nhau. Sau đó, chúng tôi bắt đầu giao du. Đôi khi chúng tôi ăn tối cùng nhau, đôi khi anh ấy ngủ lại nhà tôi, đại loại thế.
- Khi nào vậy?
Cô ngừng một lát.
- Một năm trước, có lẽ thế. Nhưng đã nhiều tháng nay tôi không gặp anh ấy.
- Thế cái câu lạc bộ Vertigo ấy. Nó là kiểu câu lạc bộ gì vậy?
- Một câu lạc bộ bình thường… chỉ có điều phần lớn khách hàng của chúng tôi đều quan tâm đến bái vật giáo hay còn gọi là văn hóa queer . Và họ thích buông thả bản thân. Không phải tất cả họ đều có thói quen tình dục đặc biệt, tất nhiên, nhưng có một số dress code [8] cần tuân thủ để được vào. Quần lót Sloggy và giày Croc không được chào đón ở đấy.
Cô khẽ chun mũi khi nói hết câu, như thể quần lót Sloggy là thứ ghê tởm nhất mà cô có thể tưởng tượng ra. Bất tiện, theo một cách nào đó.
- Vậy ra Jesper… là người… theo bái vật giáo?
Tôi không thể ngăn mình mỉm cười khi phát hiện ra Manfred rõ ràng là bối rối, mặc dù anh đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc hỏi cung và đã phải đối mặt với đủ loại người. Ấy thế nhưng, có lẽ không phải anh khó chịu khi phải nói chuyện về sở thích tình dục đặc biệt của Jesper Orre, mà vì phải đối diện với một cô gái trẻ trung xinh đẹp, lại còn vừa khen ngợi chiếc áo vét ưa thích của anh nữa.
- Không, Jesper không hẳn là người theo bái vật giáo. Tôi cho rằng anh ấy thích đẩy lùi các giới hạn của bản thân. Có thể nói rằng anh ấy khao khát các cảm giác mạnh. Thế nhưng, xét cho cùng, đấy là một gã rất dịu dàng và tốt bụng.
- Dịu dàng và tốt bụng? Đó không phải là những từ ngữ mà các đồng nghiệp dùng để miêu tả anh ta.
Người phụ nữ thở dài.
- Được rồi, tôi không biết khi ở chỗ làm thì anh ấy thế nào. Tôi chỉ biết cách thức hành xử của anh ấy khi chúng tôi gặp nhau thôi.
- Khi ấy anh ta thế nào?
Cô lại ngước nhìn lên trần nhà.
- Không biết nữa… Vui vẻ, tốt bụng. Thỉnh thoảng có hơi căng thẳng. Lúc nào anh ấy cũng xem điện thoại. Nhưng tôi đã tự nhủ rằng đó là vì công việc của anh ấy, rằng anh ấy phải giữ liên lạc hai tư trên hai tư giờ. Tôi nhớ là tôi đã ái ngại cho anh ấy. Với lại, anh ấy sợ người ta nhìn thấy chúng tôi đi cùng nhau trong thành phố. Hẳn là vì đám paparazzi không bao giờ để anh ấy yên. Không, thật lòng mà nói, mọi chuyện không hề dễ dàng với anh ấy.
Cô im lặng. Đôi mắt xanh chăm chú của cô nhìn thẳng vào mắt tôi.
- Vậy hai người thường hẹn nhau ở đâu? Manfred hỏi.
- Tôi nói với anh rồi: ở câu lạc bộ hoặc ở nhà tôi, căn hộ nằm gần Midsommarkransen.
- Hai người ở cùng nhau trong bao lâu? Cô vừa nói rằng hai người gặp nhau khoảng một năm trước và đã nhiều tháng nay không gặp nhau nữa.
Cô gái khẽ cười.
- Chờ chút đã. Chúng tôi không cặp với nhau. Chúng tôi chỉ gặp nhau, thế thôi. Chúng tôi đi lại với nhau, chúng tôi ngủ với nhau. Rốt cuộc là thế, anh biết đấy.
Manfred không tỏ vẻ gì là biết về chuyện đó cả.
- Tình dục, nhưng không cam kết gì sao?
- Như thế là tốt nhất còn gì. Anh không đồng ý như vậy sao?
Manfred gật đầu, vẻ lưỡng lự.
- Có khi nào anh ta bạo lực trên giường không? Cô có bao giờ sợ anh ta không?
- Sợ ư? Cô cười thành tiếng. Không. Anh ấy tốt bụng, tôi đã nói với anh rồi mà. Có hơi thô lỗ, chuyện đó thì đúng. Anh ấy thích thế, tình dục hơi thô bạo một chút. Nhưng cả tôi cũng thế, tôi chưa bao giờ thấy đấy là vấn đề cả.
- Thô bạo ư? Giống một người loạn dâm khoái đau chăng?
- Không, không hề! Anh ấy chỉ hơi… là thế, anh biết đấy. Anh ấy ép tôi xuống giường, đại loại như vậy.
Lúc này, cô không còn dửng dưng như trước, như thể cô cảm thấy miêu tả chính xác hành vi của Jesper Orre là một việc quan trọng. Như thể cô muốn bằng mọi giá tránh một sự hiểu lầm về những khuynh hướng và sở thích của anh ta.
- Thỉnh thoảng hai người cũng gặp nhau ở nhà anh ta chứ?
Cô lắc đầu.
- Không bao giờ. Quá xa. Anh ấy sống ở ngoại ô.
- Hai người nói chuyện gì với nhau khi không ngủ chung?
- Về đủ mọi thứ. Chính trị, thể thao. Anh ấy rất thích thể thao. Mà tôi cho là anh ấy chơi thể thao không tồi, anh ấy rất phong độ so với tuổi ấy. Anh ấy chăm sóc bản thân, điều ấy thì rõ rồi. Anh ấy không bao giờ ăn lạc hay khoai tây chiên chẳng hạn. Anh ấy uống chủ yếu là nước chanh cho thêm đá.
- Hừm, tôi hiểu rồi. Một Quý ông Hoàn hảo thực thụ.
Cô nhíu mày rồi ngả người ra sau. Cô ta khoanh hai tay trước ngực, và tôi đoán rằng cô không thích cuộc trò chuyện xoay theo hướng này.
- Đúng, chính xác, cô đáp lại.
Ngay trước khi Manfred tiễn Anja ra quầy tiếp đón, cô quay lại và nhìn thẳng vào mắt tôi.
- Còn một chuyện nữa.
- Chuyện gì vậy? Tôi hỏi.
- Thỉnh thoảng anh ấy lấy trộm đồ lót của tôi.
- Anh ta lấy trộm đồ lót của cô!
- Đúng thế, tôi cho rằng anh ấy thích đồ lót của phụ nữ. Thực ra, tôi cũng không quan tâm đến chuyện đó, nhưng chúng khá đắt, thế nên ít ra anh ấy cũng nên mua cho tôi đồ mới, không phải sao? Dù thế nào anh ấy cũng kiếm được rất khá mà.
Sau khi cô bạn gái của Jesper Orre đã đi khỏi, Manfred và tôi đi lên tầng bốn. Manfred thở hổn hển, hẳn là do vừa leo cầu thang. Nhưng tôi đã không còn nhắc đi nhắc lại với anh rằng anh phải tập thể dục và giảm cân. Xét cho cùng, anh đã là một cậu trai lớn, và hẳn anh phải biết rằng thừa hai mươi lăm kí thịt không phải là một điều lành mạnh cho lắm.
- Chết tiệt thật, anh nói. Một gã biến thái!
- Chẳng có gì là bất hợp pháp khi ngủ với các cô nàng bằng cao su và ép chặt đối tác xuống giường.
- Nhưng lấy trộm đồ lót thì có đấy!
- Ý tưởng hay quá! Chúng ta sẽ tóm anh ta vì tội ăn trộm.
Manfred mỉm cười, cởi áo vét rồi thấm mồ hôi trán.
- Một nửa cảnh sát Thụy Điển đang bám gót anh ta rồi, đâu cần thêm cớ để tóm anh ta nữa.
Manfred không tỏ vẻ gì là lắng nghe tôi nói.
- Ta sẽ luôn ngạc nhiên khi phát hiện ra bản chất của mọi người bên dưới cái bề ngoài nhẵn nhụi của họ, anh nhận xét.
Tôi gật đầu, trong lòng thầm tự nhủ rằng còn có nhiều điều tệ hại cần che giấu hơn là một đời sống tình dục cuồng nhiệt. Những người chẳng có bất cứ thứ gì bên dưới cái vẻ bề ngoài của họ chẳng hạn. Những người rỗng tuếch chẳng khác gì một chiếc Tetra Pak rỗng.
Giống như tôi.
- Ngoài mặt, anh ta là một chủ doanh nghiệp làm việc vất vả, nhưng trên thực tế anh ta là một kẻ bái vật giáo không dám ràng buộc bản thân vào một mối quan hệ thực thụ. Một kẻ sợ trách nhiệm. Sợ cuộc sống, Manfred nói thêm, như thể anh là một bác sĩ đang chẩn đoán một căn bệnh chết người với uy quyền hiển nhiên của mình.
Tôi ngồi lại phòng làm việc rất lâu sau khi Manfred đã rời đi. Tôi ngắm nhìn bầu trời sầm sì bên trên Stockholm đang chuyển dần từ màu xám xịt sang đen thẳm. Vài bông tuyết đơn độc quay cuồng trong gió thốc. Ở những căn hộ phía bên kia đường phố, những ô cửa sổ sáng lên thứ ánh sáng vàng ấm áp, cho thấy rằng tất cả những con người bình thường và có trách nhiệm ấy - cho dù điều này có nghĩa là gì - đang sửa soạn bữa tối hoặc ngồi trước tivi.
Hình ảnh Hanne hiện về trong tôi. Cái cách cô bắt tay tôi trong phòng họp mà không thực sự nhìn vào mắt tôi. Như thể cô thà nhìn sững vào bức tường, ngay bên cạnh khuôn mặt tôi. Một cách tự nhiên, tôi đã cảm thấy điều gì đó khi chúng tôi chạm vào nhau: một thứ u sầu vì tất cả những gì đã không xảy đến, có lẽ là thế. Hoặc một mong muốn ngu ngốc là được giải thích, được làm sáng tỏ những nguyên nhân đã khiến tôi hành xử theo cái cách tôi từng hành xử. Nói với cô tất cả những gì hồi đó tôi không dám nói.
Như thể làm thế sẽ thay đổi được điều gì đó.
Sau đó, tôi nhớ đến những gì Manfred đã nói, rằng Jesper Orre sợ trách nhiệm. Nếu mẹ tôi còn sống, đang ngồi trước mặt tôi và trả lời những câu hỏi của tôi, hẳn bà sẽ nói rằng chính tôi là kẻ sợ trách nhiệm. Tất cả các loại trách nhiệm. Trong các mối quan hệ. Với tiền bạc. Với toàn bộ cái hành tinh khốn kiếp này.
Tôi tưởng tượng mẹ tôi đang ngồi trên chiếc ghế trước mặt tôi. Mái tóc dài màu nâu rủ xuống tận lưng. Thân hình bé nhỏ với phần đằng sau hơi đồ sộ. Cặp kính kiểu thập niên tám mươi dường như quá lớn so với khuôn mặt gầy gò rám nắng của bà.
- Ulla Margareta Lindgren. Con triệu tập mẹ đến đây để nghe thông tin về con trai của mẹ, Peter Ernst Lindgren. Chính xác hơn, là về con.
- Có thực sự cần thiết không?
- Sẽ không lâu đâu.
- Vậy sao. Nếu thế thì đừng lãng phí thời gian nữa. Mẹ không rảnh cả ngày đâu.
Một khoảng lặng. Mẹ tôi vén gọn mái tóc và ném về phía tôi một ánh nhìn nghiêm khắc, không hề lảng tránh.
- Mẹ có thấy con như một người có trách nhiệm không?
Một cái thở dài thườn thượt.
- Con biết là mẹ đã luôn yêu con mà, Peter. Con có một trái tim vàng, đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng con chưa bao giờ nhận lãnh các trách nhiệm của mình. Hãy nhìn xem con sống ra sao. Chẳng khác gì một người tiêu thụ điên cuồng. Con ăn những món ăn chế biến sẵn bọc trong những bao bì bằng nhựa gây ô nhiễm. Con không phân loại rác thải. Con không gặp con trai con. Janet khốn khổ đã phải đảm nhận mọi chuyện một mình. Được rồi, mẹ không chỉ trích việc các con không còn sống chung dưới một mái nhà. Các con đã đủ lớn để quyết định những chuyện như thế, và nói thực lòng, mẹ chưa bao giờ thấy là các con ổn khi sống cùng nhau. Nhưng ít nhất con cũng có thể giúp đỡ con bé, vì tình yêu Chúa! Xét cho cùng, Albin là máu thịt của con. Và cho dù là cảnh sát, con vẫn chẳng quan tâm gì đến xã hội. Con gần như không đọc báo. Ở Syria, ở Gaza, trẻ em đang chết, ấy thế mà con, tất cả những gì con quan tâm là xem những bộ phim tồi tệ và làm việc. Như thế thật… nhỏ mọn, Peter ạ. Đó là tất cả những gì mẹ cần nói. Khi mẹ còn trẻ, chính mẹ đây, mẹ luôn dấn thân. Mẹ chiến đấu cho những gì mẹ gắn bó. Cho dù mẹ còn phải làm việc và phải nuôi con nhỏ. Các con cùng mẹ đến những cuộc họp, chuyện đó chẳng có gì là lạ lùng cả. Mẹ không hiểu sao con không thể làm như vậy. Hãy tận hưởng điều đó ngay lúc này, trước khi quá già. Chẳng bao lâu đâu, cuộc đời sẽ chấm dứt.
Tôi đứng dậy, đến bên cửa sổ và áp trán vào tấm kính lạnh lẽo đen tối. Tôi nhắm mắt và để mặc cho ký ức ùa về.
Mẹ tôi từng tham gia phong trào chống chiến tranh ở Việt Nam, và bởi vì bà từng theo học chuyên ngành đồ họa, bà hỗ trợ lên trang cho Bản tin Việt Nam cũng như các áp phích và tờ rơi. Thỉnh thoảng, chị Annika và tôi đi cùng bà và giúp bà tô màu lên những tấm biển hoặc đi lấy báo trong ngôi nhà nhỏ gần công viên Kronobergsparken nơi nhóm của bà tụ họp. Tôi còn nhớ rằng cha tôi thấy việc chúng tôi đi cùng mẹ là một điều khủng khiếp: theo ông, chúng tôi còn quá nhỏ để có thể hiểu bất cứ điều gì liên quan đến Việt Nam - hoặc tất cả các vấn đề chính trị khác nữa. Nhưng chúng tôi biện bạch và nài nỉ, nên rốt cuộc ông luôn nhượng bộ. Ông hôn mẹ tôi và khích lệ bà chăm lo cho chúng tôi, bảo vệ chúng tôi trước làn sóng tuyên truyền chống đế quốc điên cuồng nhất.
Còn tôi, tôi rất thích những cuộc họp ấy.
Lúc nào cũng có những đứa trẻ, bầu không khí thoải mái và rất dễ dãi. Mọi người đều làm việc vất vả, nhưng không ai vội vã. Đám trẻ con chạy khắp nơi, nhưng không làm phiền bất cứ ai.
Là đứa nhỏ tuổi nhất, tôi được giao những nhiệm vụ dễ dàng nhất: tô màu các chữ cái trên những tấm biển, chẳng hạn “USA, ra khỏi Đông Dương” bằng mực đỏ trên nền trắng. Chị Annika lớn hơn thì sơn những khẩu pháo Mỹ, tôi rất ghen tị với chị.
Khi xong việc, đám người lớn uống rượu vang và chơi đàn ghi ta hoặc tranh luận về tình hình ở Đông Dương. Về phần mình, tôi chơi đùa với những đứa trẻ khác. Và thỉnh thoảng, tôi ngủ thiếp đi trên sàn nhà, bên chân mẹ tôi.
Một người nào đó ngâm nga một bài hát của nhóm Freedom Singers và buổi tối làm việc lúc đầu biến thành - thậm chí là thoái hóa thành - một cuộc vui thực sự.
Thỉnh thoảng, một trong số những thanh niên trẻ tuổi gầy gò mặc áo vét nhung và nuôi râu má ngồi sát vào mẹ tôi, mời bà một điếu thuốc và kéo cặp kính gọng sừng lên tận trán rồi nói về Ủy ban Thụy Điển vì Việt Nam hoặc những nhà hoạt động hòa bình cấp tiến, tốt bụng nhưng rất đỗi ngây thơ. Cũng có khi một trong số những người đó quàng tay quanh cổ mẹ tôi, khẽ vuốt ve mái tóc nâu dài của bà, nhưng khi đó bà chỉ mỉm cười rồi tách ra xa một chút. Theo một cách nào đó, dù còn rất nhỏ, tôi hiểu rằng điều đó có nghĩa là an toàn và ổn định. Rằng mẹ tôi kết nối với cha tôi, mặc dù bà thường xuyên gọi ông là “phản động” - một cụm từ mà tôi thấy là rất gớm ghiếc.
Thế nhưng, một ngày kia, cuộc chiến kết thúc. Những người bảo vệ tự do đã chiến thắng và quân đế quốc đã quay về Mỹ để ăn hamburger và uống Coca-Cola. Những quả bom cháy không còn rơi xuống những khu rừng và những cánh đồng lúa, những đứa trẻ vô phương tự vệ. Bom napalm không còn thấu vào da và xương người dễ dàng như một lưỡi dao nóng lách vào miếng bơ.
Tôi còn nhớ khi ấy tôi đã hiểu rằng tôi nên hạnh phúc. Mẹ khen ngợi tôi, bà nói rằng tôi có thể tự hào về bản thân, bởi vì tôi đã biết chịu trách nhiệm và giúp sức vào việc chấm dứt chiến tranh. Nhưng thay vì vui sướng, tôi lại thấy buồn. Thấy trống rỗng.
Chấm hết những cuộc họp đông người. Chấm hết những cuộc biểu tình. Chẳng còn tấm biển nào để tô màu nữa.
Tôi cầu xin Chúa để chiến tranh tái diễn, nhưng không mấy hy vọng bởi vì trước đó rất lâu mẹ tôi đã giải thích rằng Chúa chỉ là một sáng tác của chủ nghĩa tư bản để giữ rịt người nghèo ở nguyên chỗ của họ.
Tôi quay lại. Mẹ tôi đã biến mất, trong một thoáng bà đã bị chuyển dịch từ chiếc ghế trước mặt tôi xuống nền đất lạnh trong nghĩa trang sinh thái. Trong hành lang, tôi nghe thấy các đồng nghiệp đang rời văn phòng. Những tiếng trò chuyện, nói cười rải rác lắng xuống dần rồi biến mất.
Đã đến giờ về nhà.
Bật tivi lên và giết thời gian, thêm một tối nữa, giống như biết bao nhiêu tối khác.