Trần Khánh Dư

Lượt đọc: 2992 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XXIII

Trần Đức Việp giục ngựa về phủ. Hôm nay, chàng vừa ghé qua chỗ Minh tự Hoàng Mãnh. Viên tướng dũng thủ này vài tháng nay được giao việc đôn đốc hỗ trợ dân kinh thành lánh đi nơi khác. Sự lựa chọn này là của Trần Đức Việp và nó cũng khiến bao nhiêu lời ra tiếng vào. Cứ theo phép mọi khi, nhẽ ra việc này phải giao cho một văn quan có khả năng bao quát mọi sự. Nhưng Trần Đức Việp nhất quyết chọn một võ tướng, mà hẳn hoi là Đệ nhất dũng thủ kinh thành chứ không phải chơi. Hành khiển Đỗ Khắc Chung dâng sớ can ngăn, nhưng Trần Đức Việp tâu với Quan gia thế này:

– Việc triệt thoái khỏi kinh thành lần này, e rằng sẽ có nhiều kẻ ngăn cản. Thần đệ thấy thám báo giặc đã trà trộn khắp nơi, nếu chúng làm bậy khiến lòng dân náo động thì thực là hỏng cả kế sách của ta. Chi bằng để một võ tướng vừa có tài, vừa có thế là "anh em đồng nhũ của Chiêu Văn vương” đứng ra coi quản. Ai muốn phá ngang cũng phải liệu chừng với Hoàng Mãnh cho mà xem.

Quan gia bật cười:

– Tá Thiên giờ cũng khéo tính toán kỳ mưu. Có phải là nhờ vài phen theo hầu Nhân Huệ vương không vậy?

Việc cứ thế mà làm và cũng cứ thế mà đúng như dự liệu của Tá Thiên vương. Bọn phá ngang chỉ biết cách lợi dụng chút quyền thế nhỏ nhoi của mấy viên quan hám tiền đều phải ôm đầu chạy trước roi ngựa và ánh mắt lạnh như kiếm của Minh tự Hoàng Mãnh. Mấy chục kẻ toan đục nước béo cò hoặc thừa cơ gây rối đều bị tống ngục. Xem ra, chúng còn mòn mỏi chờ trong đó vì giờ đây chẳng ai hơi đâu đi xét án những kẻ mưu toan phá hoại nước nhà. Cứ để cho chúng nằm im trong ngục thất tăm tối mà trông ngóng...

Phố phường Thăng Long vắng hoe. Còn đâu một Kẻ Chợ náo nức khi năm sắp hết. Trần Đức Việp nhớ rưng rưng những phường bán vải ngày cuối năm tấp nập và chen chúc. Thăng Long giờ chỉ còn những ngũ lính nghiêm nghị đi tuần, gươm giáo sáng quắc.

Giặc lại sắp vào giày xéo Thăng Long. Trần Đức Việp chạnh nghĩ về đô thành Đại Việt. Đất nước xinh đẹp này luôn bị giặc ngoài nhòm ngó và rắp tâm xâm chiếm. Và, cứ mỗi lần giặc mạnh tràn qua, thì Thăng Long lại phải bỏ ngỏ đến tan hoang để chúng tiến vào. Ôi Thăng Long! Biết đến bao giờ thì Thăng Long mới quay về được những ngày xưa thanh bình như hồi Đức Việp còn là cậu hoàng tử bé con bám theo các bậc cha chú thong dong vi hành trên những phố phường náo nhiệt và đông đúc.

Ngày ấy, chàng sẽ về Vân Đồn, xin với Nhân Huệ vương để đón Thị Thảo đi thăm Thăng Long cùng chàng. Chàng sẽ mượn cớ báo ơn Thị Thảo để thuyết phục Nhân Huệ vương đồng ý... Nhưng, liệu vị Vương thúc ngang ngạnh ấy có thuận cho không? Chẳng ai mà đoán biết được điều này. Ông tướng đánh biển ấy, xưa nay vẫn luôn làm cho thiên hạ sôi máu lên vì những trò ngược ngạo.

Tỷ như trận thua thản nhiên vừa rồi.

Trần Đức Việp cười thành tiếng khi nghĩ về ông chú Nhân Huệ. Con người không bao giờ chịu bàn nghĩa lý ấy, đã quyết thua thì cũng chẳng thèm ngụy trang cho trận thua đó một vẻ ngoài dễ chịu. Ông thản nhiên thua, thản nhiên tới mức làm bao nhiêu văn quan trong triều hết thảy đều cuống lên dâng sớ đòi nghiêm trị. Phó Đô tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư mà lại đơn giản thế ư? Đòi nghiêm trị là nghiêm trị ngay được sao?

Trần Đức Việp chợt thấy nóng ruột. Chàng thực náo nức chờ xem Trần Khánh Dư sẽ đánh tiếp trận lập công chuộc tội sắp tới như thế nào!

Trương Văn Hổ đứng trên vọng lâu của soái thuyền trông ra bốn phía. Phía sau kia là đoàn thuyền tải lương đang lừng lững nối nhau. Biển lặng. Và sau nhiều ngày âm u, đột nhiên sáng nay trời hửng. Thái dương đang hé rạng ở đằng đông soi rõ mặt biển phẳng như mặt nước hồ. Con đường dài vượt biển lớn sắp chấm dứt. Quân mệnh mà Nguyên chúa Hốt Tất Liệt và Trấn Nam vương Thoát Hoan trao cho y đã chuẩn bị hoàn thành. Chỉ cần đưa được đoàn thuyền lương này tới Đại Việt, Trương Văn Hổ sẽ được tính công lớn. Dĩ nhiên, công ấy có tính lớn đến mấy cũng không so được công đầu của Ô Mã Nhi. Nhưng gã Hữu thừa dũng tướng kia đã phải bỏ bao nhiêu sức mở đường thì Trương Văn Hổ mới được thong dong tiến thế này. Đột nhiên, Trương Văn Hổ cảm thấy tiếc. Giá như quân mệnh dành cho gã là mở đường tiến, thì có vẻ đúng hơn. Một kẻ từng tung hoành trên mặt biển, con nhà hải tặc như y giờ chỉ làm quan tải lương, kể cũng là xoàng xĩnh. Nếu Nguyên chúa không đích thân ban chiếu phủ dụ thì hẳn y đến u sầu mà chết vì nhục mất. Xưa nay, quan tải lương đi sau chỉ là tướng hạng nhì! Đấy, cứ xem thử hai tướng cũng dẫn đoàn thuyền lương đi sau như Từ Khánh và Phí Củng Thìn thì biết. Cả hai đã không có thuyền quân hộ tống, lại còn phải đi sau, công chẳng lớn mà đừng nói đánh với quân Đại Việt, chỉ gặp hải tặc cũng đủ khốn khó rồi. Nhưng dù sao, tất cả chỉ là giá như. Thoát Hoan đã chọn Ô Mã Nhi làm tướng chỉ huy mang đại quân tiến trước và Trương Văn Hổ phải cam phận làm tướng vận lương đi sau. Ô Mã Nhi đã dễ dàng phá tung mấy đợt tấn công mãnh liệt nhưng vô vọng của quân Đại Việt để tiến sâu vào nội địa. Cứ theo như tin mà thám báo truyền cho Trương Văn Hổ thì Ô Mã Nhi tuyên bố đã mở xong con đường thênh thang cho đoàn thuyền lương.

Đoàn thuyền hiên ngang tiến trên mặt biển rộng mênh mông. Biển vắng quá. Phía cuối trời xa, thấp thoáng một hai bóng thuyền nhỏ, chấp chới rồi biến mất. Trương Văn Hổ phì cười: "Thuyền bè nước Nam các ngươi hẳn là đã bị Ô Mã Nhi đánh tan rồi, lấp ló làm gì nữa. Cố sức mà đối trận với quân thiên triều thì chỉ có nước mà chết thôi!”

Những ngày trước, không biết An phủ sứ Trần Trọng Đạt lôi ở đâu ra một tấm hải đồ vẽ rõ luồng lạch của đoạn sông Mang nằm giữa những hòn đảo nhỏ. Ông ta cố gắng thuyết phục Trương Văn Hổ rằng đi lối qua cảng Vân Đồn đó nhanh hơn, lại có thể đôi lúc dừng thuyền ghé lên các đảo tìm nước ngọt. Nước ngọt trên các thuyền đều đã gần hết sau chuyến hải hành đằng đẳng từ Quỳnh Châu. Lời đề nghị này thật chẳng khác gì một sự cám dỗ. Nhưng Trương Văn Hổ cân nhắc và quyết không làm theo. Việc dồn cả một đoàn thuyền lớn chậm chạp với hàng chục vạn thạch lương vào một nơi chật hẹp như thế chẳng khác gì dâng công cho đối phương. Trương Văn Hổ thừa biết tướng cầm quân Đại Việt là Trần Khánh Dư, một người được tiếng là có tài thủy chiến. Đạo làm tướng chính là ở chỗ thắng không kiêu, bại không nản. Không thể vì ông ta vừa thua Ô Mã Nhi mà Trương Văn Hổ coi thường. Hơn nữa, đoàn thuyền đi ngoài mặt biển, dẫu chậm nhưng nếu có bị tấn công cũng dễ dàng xoay trở, đầu đuôi ứng cứu được nhau. Trương Văn Hổ gạt phắt những lời can gián của Trần Trọng Đạt và thúc quân thẳng tiến.

○ ○ ○

Hiệu lửa báo về, đoàn thuyền của Trương Văn Hổ đang nặng nhọc tiến. Cứ theo đà này, chỉ ngày một ngày hai là chúng sẽ tới Cửa Lục. Trần Khánh Dư chậm rãi đi về phía trại quân. Đã sắp tới giờ cơm. Mùi cá khô nướng, mùi khói rơm bốc lên, thơm lừng. Quân Vân Đồn reo lên khi thấy chủ tướng tiến vào. Họ chèo kéo mời Đức ông cùng ăn bữa cơm lính. Trần Khánh Dư ngồi ngay xuống. Ông truyền hỏa đầu quân mang rượu tới. Sau trận thua ở An Bang làm lòng người xáo động, hôm nay Nhân Huệ vương muốn mượn chén rượu cùng uống với tướng sĩ để nâng cao nhuệ khí. Rượu rót ra bát đầy tràn. Nhân Huệ vương nâng bát rượu lên:

– Giờ sắp tới lúc dạy cho lũ giặc kia biết thế nào là quân thủy Vân Đồn. Chúng tưởng rằng Đại Việt ta là bầy cá con để chúng muốn bắt muốn mổ sao cũng được. Này quân Vân Đồn, các ngươi có phải bầy cá con cho bọn Thát Đát bắt mổ hay không?

Tiếng đáp "Không” vang dậy. Phạm Quý nhỏm dậy, nghiêng bát cho rượu từ từ chảy xuống đất, cất lời:

– Có trời biển chứng giám, có chủ tướng xét soi, nếu không đánh tan được giặc phen này, thà nhảy xuống bể Đông làm mồi cho cá dữ còn hơn quay về lại Vân Đồn... Xin thề...

Câu "Xin thề" lại náo động trại quân. Nhân Huệ vương chợt trĩu nặng trong lòng. Bát rượu thề uống với quân sĩ thực không dễ uống sau một lời thề quá độc. Trận đánh sắp tới kia, liệu sẽ có bao nhiêu người ngã xuống và nằm lại với biển sâu?

Bữa trưa vừa xong, thì đã có ngay tranh cãi trong dinh trấn thủ. Lần này các tướng đỏ mặt tía tai hầm hầm đứng lên mà nói ý của mình.

Kẻ thì bảo: "Giặc sẽ đi ngoài khơi rộng chứ nhất quyết không đi vào ngả sông Mang”. Kể ra, nói thế cũng đúng, vì thuyền chở lương hết sức nặng nhọc, giặc sẽ lo đi vào chỗ hẹp dễ sa vào mai phục.

Kẻ thì nói: "Mấy ngày nay, gió Bắc đã ngừng thổi, trời ngột ngạt. Xem chừng sắp có giông gió nổi lên. Giặc không thông thuộc hết tiết khí nước ta, nhất quyết sẽ lo lắng mà chọn lối sông Mang vì sợ bão”.

Lại có người chen vào: "Giông gió cuối năm thường nhỏ, làm sao dọa nổi được lũ kia. Chẳng phải tên họ Trương vốn dòng hải tặc ư?”

Người khác nối ngay lời: "Giông gió là chuyện của trời. Trời biển phương Nam thấy kẻ kia sang cướp nước, chẳng thể vì muôn dân mà nổi một trận gió sao?”

Liền có kẻ mắng: "Đánh giặc mà trông vào trời biển ban cho may mắn, thì chẳng thà về quét vườn nhặt lá”.

Người kia mắng lại: "Ngươi nói ai quét vườn nhặt lá? Thủy quân mà không biết trông trời trông biển, mới nên về xúc tép mò tôm”...

Trần Khánh Dư bảo với Hoàng Chí Hiển:

– Đó, ngươi thấy không, bàn việc quân ở Vân Đồn chẳng khác gì tranh mua trong chợ cá...

Hoàng Chí Hiển cố nén không dám cười. Mà kể ra, chẳng có tội tướng nào lại gọi trung sứ bằng "ngươi” như thế cả. Trừ Nhân Huệ vương. Khi trung sứ Hoàng Chí Hiển ra Vân Đồn trong vai học sĩ cung Quan Triều, Trần Khánh Dư đã hiểu ngay tình thế. Đầu tiên, ông cũng bày vẽ tiệc này tiệc nọ đãi trung sứ. Rồi cũng nói trước mặt quân tướng dâng sớ về triều tạ tội, xin được "đái tội lập công”. Và Hoàng Chí Hiển cũng lập tức thảo một sớ tấu dâng lên hai vua, nói Nhân Huệ vương xin khất hai, ba ngày để lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn. Diễn trò xong xuôi, vào trong trướng, hai người nhìn nhau và phá ra cười. Hoàng Chí Hiển kể lại mọi sự, đoạn nói:

– Dù vậy, mong vương gia cố sức cả phá Trương Văn Hổ. Xem ra nếu diệt được nửa đoàn thuyền của hắn thì công đã lớn hơn tội nhiều rồi.

Trần Khánh Dư đáp:

– Nửa thì chắc là sẽ làm được. Nhưng ta những muốn đốt sạch thuyền của chúng, chỉ tiếc là không đúng mùa.

Hoàng Chí Hiển muốn hỏi thêm, nhưng Trần Khánh Dư gạt đi, chỉ lẩm bẩm than thầm rằng tiếc quá.

○ ○ ○

Mấy ngày liền, gió lặng. Thuyền không đi nhanh được làm Trương Văn Hổ nóng ruột như bào. Đột nhiên gió Nam thổi ngược càng lúc càng mạnh, và chỉ tới nửa buổi thì mây đen đã cuồn cuộn kéo kín trời. Trương Văn Hổ nhìn quanh. Theo lẽ mà nói, dịp cuối năm ở vùng biển này không còn bão. Nhưng nhìn những ngọn cờ trên soái thuyền đột nhiên lúc bay ngược lúc bay xuôi, buồm thì mỗi lúc lại phồng căng về một hướng, Trương Văn Hổ giật mình kinh hãi. Xem ra rõ là bão rồi. Một cơn bão cuối năm. Một trò đùa trớ trêu của trời đất. Nếu cả đoàn thuyền nặng nề này mà sa vào chỗ đối đầu của gió từ phương bắc xuống và gió bão cuồn cuộn từ phía nam lên thì e là nguy mất.

Thế rồi, mưa đổ ào ào xuống. Cơn mưa cuối năm xối xả và lạnh cóng. Trên lâu thuyền, Trương Văn Hổ ngao ngán nhìn trời đất và buông mấy lời thóa mạ theo lối hải tặc.

Trần Trọng Đạt đứng phía sau vội vã nói:

– Bẩm tướng quân, cứ trông trời đất thế này, hạ quan e rằng trời sắp nổi bão lớn. Giông gió phương Nam vốn xưa nay là thứ khó lường, nếu cứ thúc thuyền đi tiếp mà gặp bão thì lương thảo hỏng mất.

Trương Văn Hổ thở dài và bảo viên An phủ sứ:

– Đành phải nghe lời ngươi vậy. Mau báo hiệu theo lệnh ta. Truyền chia đoàn thuyền thành ba, cứ lần lượt mà tiến. Ngươi kíp dẫn hai chục đi trước, men vào lối nhỏ mà đi để tránh gió. Ta sẽ theo đoàn thuyền cuối, dẫu mưa bão cũng chờ các ngươi êm xuôi mới tiến, quyết không vì nguy cấp mà chen lối cùng chư tướng.

Cờ hiệu phất lên. Cả đoàn thuyền tải lương chia làm ba. Trần Trọng Đạt ngoài miệng thì cảm tạ tấm lòng quảng đại và đức hy sinh của Trương Văn Hổ nhưng trong dạ thì oán trách gã chủ tướng đẩy mình đi trước dò đường có khi sa vào bẫy của thủy quân Đại Việt. Thế nhưng Trần Trọng Đạt vẫn phải vội vã điểm lấy hai mươi thuyền. Viên An phủ sứ cho thu bớt buồm phòng khi gió giật, rồi thúc đội thuyền cùng tiến. Hai chục chiếc thuyền lầm lũi đi trong cơn mưa gió.

Chờ tiếp một canh giờ, đội thuyền tiếp theo gồm ba chục chiếc cũng đã chuẩn bị lên đường thì gió đang gầm gào đột nhiên ngừng thổi. Mưa tạnh. Trương Văn Hổ sững người. Giờ biết tính sao đây, đi nốt theo ngả sông Mang hay lại vòng ra theo lối ngoài biển lớn? Họ Trương cảm thấy y thực sự đang đối mặt với một câu hỏi quá lớn. Chỉ cần trả lời sai câu hỏi đó, có thể cả đời y sẽ phải hối tiếc. Hoặc, sẽ không còn sống để mà hối tiếc!

○ ○ ○

Ai ngờ đâu, giờ này trời lại nổi bão. Quân tướng xôn xao bàn tán. Chẳng biết có phải lòng trời vẫn tựa nước Nam hay không, nhưng gió cuồn cuộn kéo về thế này, hẳn là Trương Văn Hổ phải cho thuyền đi vào lối sông Mang để tránh. Nếu hắn dại, cứ biển lớn mà tiến, thì Trần Khánh Dư không cần đánh, bão cũng giúp ông phá tan cả đoàn thuyền. Nhưng hắn là tướng khôn, là tướng con nhà cướp biển, nên không thể có chuyện đó. Trần Khánh Dư bảo:

– Nó mà bị bão đánh tan thì ta không phải đánh. Nhưng mà thế thì lấy đâu ra công để chuộc tội.

Đoạn, ông phá ra cười ha hả với Hoàng Chí Hiển...

Doanh quân Vân Đồn khác hẳn ngày thường. Kẻ ra người vào liên tục. Lệnh truyền ra, rồi lại tin báo về. Ba vị tướng họ Phạm mệt lử vì công việc. Họ phải đốc thúc kiểm tra tất cả mọi sự, sao cho không có một thứ gì được sai sót. Ai cũng hiểu, cơ hội chỉ nằm ở một trận này. Mà cơ hội ấy, là trời đã trao vào tay quân tướng trấn Vân Đồn.

Những bó tên được chuẩn bị đã lâu giờ đem chia ra, giao xuống các thuyền và cả để chuyển lên các đảo nhỏ ven sông Mang. Dầu trám, nhựa thông làm chất dẫn cháy. Thừng chão từng đống từng đống chuyển đi. Tên độc, loại cực độc, đã được chuyển đi cho từng ngũ lính.

Trần Khánh Dư tiếng nói sang sảng, hai mắt sáng quắc tinh tường. Đứng trước ông Phó Đô tướng, nhiều lúc Đỗ Niêm cảm thấy như nhãn quang của ông soi thấu vào tận trong lòng của mỗi người. Phạm Thuần Dụng ghé tai Phạm Chính nói nhỏ:

Việc thường ngày em tưởng Đức ông không để ý, hóa ra đều thấu biết cả. Nghĩ lại cũng may, nếu em có tặc lưỡi làm liều, khéo Đức ông trị tội lúc nào chẳng biết.

Phạm Chính gật gù nhìn em. Ngần ấy năm đi theo Trần Khánh Dư, ít khi Phạm Chính thấy vị chủ tướng cao hứng như thế này trước khi đánh trận. Cách chuẩn bị và bày trận của Trần Khánh Dư nghiêm cẩn, kỹ lưỡng khác hẳn vẻ ngoài bỗ bã và sống sượng của ông. Bên trong con người ông Phó Đô tướng dường như luôn ẩn giấu một kẻ khác. Kẻ này thâm trầm đến bí hiểm, cực kỳ đa nghi và luôn luôn chuẩn bị sẵn lối thoát, càng chuẩn bị sẵn để đối mặt những chuyện xấu. Vậy mà lần này, Trần Khánh Dư lại hoa chân múa tay truyền lệnh với vẻ đắc ý khó giấu. Có thể thấy rõ đám quân tướng vào nhận mệnh trong trướng hổ, khi quay ra đều khe khẽ cười vì một câu đùa nào đó của ông tướng nghiêm khắc quen mắng chửi này.

Việc vãn dần. Tới lúc tất cả đã đâu vào đấy, Trần Khánh Dư hể hả đứng dậy, vỗ vai Phạm Chính đang đứng trơ ra vì không nhận được quân lệnh và bảo:

– Đánh trận theo đúng lòng trời thật là hả dạ!

Ấy thế nhưng Phạm Chính ngớ người ra khi Trần Khánh Dư giao cho nhiệm vụ dẫn một đội thuyền đi vòng ra mấy đảo mé ngoài phục sẵn, đón đánh nếu giặc không đi vào ngả sông Mang. Phạm Chính cố xin nhường việc đó cho tướng khác, nhưng không được. Sau Đức ông Nhân Huệ nổi cáu và Phạm Chính đành phải im lặng, dẫu trong lòng thực sự là bất phục. Viên tướng cảm thấy dường như do tính toán quá kỹ tới mức so đo mà Nhân Huệ vương đã cướp mất cơ hội đánh giặc của anh ta. Càng trông gió nam nổi lên, Phạm Chính càng buồn bực. Đã thế, Nhân Huệ vương còn thúc anh ta đem quân đi ngay tức khắc. Phạm Chính sầu não vái chào Trần Khánh Dư rồi dẫn quân đi. Trước khi đi, Trần Khánh Dư còn trao cho Phạm Chính một chiếc hộp được phong kín. Nhân Huệ vương dặn viên tướng đang uất ức rằng tới nơi thì hãy mở hộp. Thế rồi, bỏ mặc viên tướng đang ngậm đắng nuốt cay trước trò "giả thần giả quỷ” của chủ tướng, Nhân Huệ vương đi về phía Đỗ Niêm và bắt đầu thầm thì to nhỏ với anh ta.

Bên ngoài trướng, gió nam đã thổi mạnh hơn nhiều. Những thân cây bị gió giật oằn mình. Phạm Quý cáo từ chủ tướng rồi về trại. Đi một đoạn, bất giác viên tướng họ Phạm quay lại nhìn. Nơi cửa lều trận, giữa những cơn gió giật tung cả nóc lều, ông Phó Đô tướng quân vẫn đứng sừng sững, vững chãi và cô độc. Phạm Quý chợt nghĩ, chủ tướng nhiều lúc tựa như cây mần lái của riêng đất Vân Đồn này. Mần lái là thứ cây mọc trên núi đá, cứng như sắt, và sức sống thì cực kỳ ghê gớm, dẫu giông bão thế nào cũng vẫn trơ trơ... Những rừng cây mạn đông bắc vẫn thường tự hào về gỗ đinh gỗ lim, nhưng hai loại gỗ ấy gặp phải gỗ mần lái thì tự khắc cúi đầu. Gỗ mần lái cứng khủng khiếp, nhưng hiếm, và thường mọc cực kỳ trơ trọi.

Trần Khánh Dư truyền quân lính trong đêm đặt lều trận ở một hang núi trên cao. Trướng hổ để chỉ huy trận đánh sẽ ở đó. Nhưng ông Phó Đô tướng không tọa trấn trong lều tướng. Nơi này chỉ có Phạm Thuần Dụng, vài người lính hiệu và Hoàng Chí Hiển cùng Thị Thảo. Tất cả quân tướng, kể cả Hoàng Phủ Tín đều đã ngồi sẵn trên thuyền chờ xung trận. Suốt đêm, những người trong trướng đều không ngủ. Gió rít gào trên núi, ngoài biển và vặn xoắn những thân cây. Mưa lúc xối xả lúc câm nín. Thị Thảo pha một ấm trà. Trà được trồng dưới chân núi Vân, thứ trà riêng của đất Vân Đồn. Phạm Thuần Dụng và Hoàng Chí Hiển thong thả uống trà trong im lặng.

Trong lúc chờ giặc tới, Hoàng Chí Hiển nhớ lại những câu chuyện mà Trần Khánh Dư kể về đất Vân Đồn, mảnh đất mà ông gắn bó suốt những năm vừa rồi. Vân Đồn đã không đón ông với vẻ hiếu khách gì. Đất thương cảng này là một đất nghịch. Ông đã phải ra tay không ít lần để vững chỗ mà trấn nhậm Vân Đồn. Cũng không ít lần, ông phải đích thân dẫn quân trừng trị lũ giặc cỏ chiếm các đảo hoang ngoài xa làm sào huyệt cướp bóc. Trên người vị tướng không thiếu dấu vết tên bắn kiếm đâm... Ông cũng kể cho Hoàng Chí Hiển nghe về núi Vân, ngọn núi sừng sững trên đảo Vân Hải. Núi cao chạm mây, linh khí ngút trời. Hoàng Chí Hiển nghĩ, có lẽ linh khí nơi đây đã thấm đẫm vào từng giọt nước và từng lá trà. Cảm giác uống chén trà thanh tĩnh này trước giờ đánh giặc thực là kỳ lạ và vô thường...

Hoàng Chí Hiển lại nghĩ về Trần Khánh Dư. Thực khó mà nói được rõ ràng về ông tướng nổi danh ngang ngược ấy. Hôm qua, sau lúc dong thuyền đi thăm mấy trại quân, Trần Khánh Dư đã truyền cập vào một đảo nhỏ ở phía đông. Ông dẫn Hoàng Chí Hiển lên thăm chùa Lắm. Đó là một ngôi cổ tự. Hoàng Chí Hiển rất ngạc nhiên khi thấy Trần Khánh Dư ngồi thiền rất lâu trước Phật đài. Lúc đó, gương mặt ông thanh thoát tựa như bao nhiêu lo buồn ghét giận toan tính trên đời đều tan cả. Rồi Nhân Huệ vương còn hỏi han nhà sư khá lâu về lễ chiêu hồn và cầu siêu cho binh sĩ trận vong. Thế nhưng, ngay khi quay về thuyền, thì Trần Khánh Dư lại hiện ra đúng phong thái của ông Phó Đô tướng. Hoàng Chí Hiển đoán rằng, sự thanh thoát vừa rồi của Đức ông Nhân Huệ, chẳng ai trong quân Vân Đồn từng được thấy! Góc riêng ấy, Nhân Huệ vương đã âm thầm giấu kín, chỉ để người ngoài trông thấy một Trần Khánh Dư như thể chẳng biết sợ ai trên đời...

Mưa to dần. Tin từ hiệu cờ liên tục báo về. Thuyền giặc đã đi sâu vào sông Mang, đội thuyền đầu tiên có hai chục chiếc. Cờ lệnh phất lên, Phạm Quý mang mười thuyền nhỏ ra chặn lại ở đúng nơi hẹp nhất của sông Mang. Mưa tên của ta theo gió nam bắn túa lên thuyền giặc. Đã có nhiều lính Nguyên gục ngã vì tên độc.

Mười chiếc thuyền mũi bịt đồng do xưởng thuyền của Hoa Xuân Hùng đặc chế hung hăng thúc thẳng sát vào đầu mạn thuyền giặc mà đánh. Đồng loạt, hàng chục chiếc thừng đầu có mỏ sắt được quăng lên thuyền giặc và móc chặt lại. Các dũng sĩ cảm tử ngậm ngang đoản kiếm tung người trèo thoăn thoắt lên theo những sợi thừng.

Giặc đã kịp tỉnh ra. Chúng giương cung xối xả bắn trả và bắt đầu vung kiếm cố chặt đứt những sợi dây thừng mang móc sắt. Nhưng việc ấy không dễ. Những sợi dây này đã được lính Vân Đồn chọn lựa và mang chặt thử bấy lâu nay. Thấy việc chặt dây không dễ, giặc chuyển sang phóng giáo và gươm thẳng vào các dũng sĩ mình trần đang leo lên.

Đã có mấy dũng sĩ trúng giáo của giặc. Mặt biển loang máu. Nhìn những người lính đồng ngũ ngã xuống, Phạm Quý lòng đau như cắt. Viên tướng cởi áo trận, giắt đoản đao ngang lưng và cũng lao tới, quăng vút một sợi thừng rồi trèo vụt lên...

Gió thổi mạnh ghê gớm. Ngoài khơi, cuộc đối chọi giữa cơn bão từ phía nam lên và cơn gió lạnh từ phía bắc xuống đang bắt đầu kịch liệt. Chốc chốc, gió lại đổi chiều. Xoáy lốc ngoài biển bốc lên mù mịt. Thị Thảo đứng bên cạnh Trần Khánh Dư mặt mũi ngạc nhiên đến cực độ. Ngần ấy năm sinh ra và lớn lên ở chốn này, chưa bao giờ cô gái ấy được chứng kiến một trận thư hùng sống mái giữa gió nam và gió bắc như vậy!

Thực là một cơn cuồng nộ của biển trời Đại Việt!

« Lùi
Tiến »