Trần Khánh Dư

Lượt đọc: 2997 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Thích

...

[1] Chỉ thân mẫu của Hoài Văn vương Trần Quốc Toản.

[2] Niêm (鯰): chữ Hán, nghĩa là cá trê.

[3] Chuyện xưa kể rằng Lý Ông Trọng dáng người cao lớn uy vũ, được An Dương Vương cử sang làm sứ Tần. Ông Trọng giúp vua Tần đánh tan Hung Nô. Vì nhớ quê ông trở về Âu Lạc, vua Tần cho đúc tượng đồng giống hệt ông để người Hung Nô trông thấy mà sợ. Sau những pho tượng lớn, người Tần đều quen gọi là Ông Trọng.

[4] Bắn mỗi mũi tên lại lập công.

[5] Tìm đọc thêm Trăng nước Chương Dương của Hà Ân.

[6] Người thời Đường. Xuất thân buôn muối. Do thi cử công danh lận đận nên bỏ hết tài sản chiêu mộ những người phẫn chí cùng nổi dậy. Cuộc khởi loạn của Hoàng Sào làm tan vỡ nhà Đường. Dẫu Hoàng Sào lên ngôi Hoàng đế, lập ra nước Đại Tề, nhưng chưa khi nào được các nhà nho coi trọng. Họ vẫn dùng hình ảnh ông để chỉ những kẻ bất trung làm loạn.

[7] Tìm đọc thêm Bên bờ Thiên Mạc của Hà Ân.

[8] Tìm đọc thêm tiểu thuyết Người Thăng Long của Hà Ân.

[9] An Sinh vương Trần Liễu - anh trai của Thánh Tông, cha của Hưng Đạo vương.

[10] Hưng Ninh vương Trần Tung.

[11] Vũ Thành vương Trần Quốc Doãn: anh trai Hưng Đạo vương, chạy sang hàng Nguyên, bị người Tống bắt lại, trả về Đại Việt.

[12] Kinh đô nhà Nguyên

[13] Bèo nước gặp nhau.

[14] Tìm đọc thêm Khúc khải hoàn dang dở của Hà Ân.

[15] Tìm đọc thêm Khúc khải hoàn dang dở của Hà Ân.

[16] Nguyên có câu nói về những đại quân sư có tài "ngồi trong màn trướng mà quyết được việc ngoài ngàn dặm”, Trần Khánh Dư mượn câu đó để nói kháy về tài "nghe lén” của Trần Quốc Tảng.

[17] Sau khi Trần Ích Tắc và Trần Kiện hàng giặc, nhà Trần không gọi tên mà gọi là Ả Trần và Mai Kiện, chỉ ra ý là hạng đàn bà hèn yếu.

[18] Chỉ Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang và Trần Kiện.

[19] Cư sĩ là người thông thạo Phật giáo nhưng chưa hoặc không xuất gia.

[20] Chỉ việc trốn chạy của Ích Tắc.

[21] Chỉ Thành Cát Tư Hãn. Đối với Ích Tắc, triều đình chính thống là Nguyên triều.

[22] Chỉ việc Trần Quốc Khang bị Thượng hoàng Thánh Tông và Thái sư Trần Quang Khải đẩy vào trấn giữ Diễn Châu. Trần Ích Tắc xoáy vào nỗi đau: thật ra Trần Quốc Khang là con hờ của Thái Tông, là anh em hờ của Thánh Tông và Trần Quang Khải (dẫu cùng mẹ nhưng khác cha).

[23] Chỉ việc gia tướng Nguyễn Địa Lô của Hưng Đạo vương bắn chết Trần Kiện. Hưng Đạo vương là em cùng cha khác mẹ với Trần Quốc Khang.

[24] Chỉ việc Trần Kiện mâu thuẫn với Tá Thiên vương Đức Việp là em trai của Nhân Tông nên tuyên bố học đạo, không nhìn ngó gì đời nữa.

[25] Chương Hiến hầu là tước vị của Trần Kiện.

[26] Chỉ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt.

[27] Tể tướng nhà Nam Tống, theo phái chủ hòa trong cuộc chiến Tống Kim. Lúc đó, Nhạc Phi là Nguyên soái liên tục thắng Kim. Tần Cối bày mưu vụ cho Nhạc Phi chống lại triều đình rồi tống ngục và hại chết ông. Về sau, Tần Cối luôn bị người Trung Quốc dùng làm biểu tượng của sự phản bội hèn hạ.

[28] Ý nói đã giúp cho đi lại còn làm hại, mượn câu Tô Đát Kỷ trách Nữ Oa.

[29] Loại rượu nổi tiếng trong cung vua Tùy Dượng Đế (vua cuối cùng và làm mất nhà Tùy, làm vua từ năm 604-617).

[30] Lan Sinh là Hán cung danh tửu (loại rượu nổi tiếng trong cung nhà Hán).

[31] Là niên hiệu mà vua Trần Thái Tông sử dụng từ khoảng năm 1251-1258, nhiều người thường dùng Nguyên Phong để chỉ cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất.

[32] Lời trung khó nghe.

[33] Chỉ việc Trần Quốc Khang giữ nguyên chục vạn quân suốt những ngày đầu khó khăn của cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai. Về việc này, Trần Nhân Tông có làm thơ "Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ - Hoan, Ái ta còn chục vạn binh” (Xem thêm Trần Quốc Toản, tiểu thuyết lịch sử cùng tác giả).

[34] Bài Cận thí thướng Trương thủy bộ của nhà thơ đời Đường tên là Chu Khánh Dư. Tác giả mượn ý thơ ướm hỏi Trương Tịch xem văn chương của mình thi có đỗ không (Người dịch: Ngô Văn Phú).

[35] Bài Hiến Trần Đào xử sĩ - Tặng xử sĩ Trần Đào: Má như ngọc - Liên Hoa tên thiếp/ Theo lệnh đòi đến tiếp thượng thư/ Trên không sinh mộng núi Vu/ Thong dong thần nữ rút lui Dương Đài (Người dịch: phanlang @www.tvvn.org).

[36] Gần đây thơ, ý trong hơn nước/ Tuổi già tình mỏng giống mây xuân/ Đã hướng lên cao, môn hộ được/ Áo thêu thẹn cả Trác Văn Quân (Người dịch: kimthoty @www.tvvn.org).

[37] Nơi đánh bạc.

[38] Chữ Nhẫn (忍) được hình thành từ chữ Đao (刀) thêm nét phẩy còn gọi là bộ Phiệt (丿) thành chữ Nhận (刃) nghĩa là một binh khí, mũi nhọn, chém giết. Chữ Nhận (刃) ở trên, bên dưới thêm chữ Tâm (心) thành chữ Nhẫn.

[39] Bảo Thánh hoàng hậu tức Công chúa Quyên Thanh, con gái Hưng Đạo đại vương.

[40] Sau này, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi lên núi Yên Tử tu. Núi Yên Tử nằm trong đất phong của chi Vạn Kiếp. Sau thời Nhân Tông, nhà Trần hầu như chấm dứt chia rẽ giữa các chi.

[41] Thiên Thành công chúa là vợ của Hưng Đạo vương.

[42] Nhân Huệ vương là người chi Út, nhưng lại là con nuôi Thái Tông nên vẫn được xếp hàng anh so với Chiêu Văn vương.

[43] Chỉ Phạm Ngũ Lão.

[44] Tướng thân tín của Thành Cát Tư Hãn. Hốt Tất Liệt bảo Áo Lỗ Xích: "Ngày trước bọn Mộc Hoa Lê tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay vẫn bất hủ. Khanh cố gắng lên, há lại không vẻ vang như người xưa hay sao!”

[45] Bạc là thuyền lớn, ngự bạc là thuyền chiến để vua đích thân ra trận.

[46] Mỗi lúc có biến: giông bão, cướp biển, giặc giã... thì hiệu đèn sẽ đổi. Đây ý Trần Khánh Dư nói chưa biết khi nào giặc sang.

[47] Nhiều thọ nhiều nhục. Ý nói sống lâu cũng phải gánh chịu nhiều nỗi trở trêu, đối lập lại với câu thường truyền: "Đa thọ đa phúc” (nhiều thọ nhiều phúc

[48] Vậy nhưng Trần Khánh Dư lại là vị vương thọ nhất triều Trần. Ông sống tới chừng trăm tuổi, khi các vương cùng lứa, và cả các vương hàng cháu đều đã mất từ lâu!

[49] Một mũi tên trúng hai con chim.

[50] Giống như Bộ tư lệnh hành quân đánh Đại Việt (Giao Chỉ là cách người Trung Quốc gọi nước ta từ sau khi Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc. Cách gọi này thể hiện chúng vẫn coi nước ta là một quận của Trung Quốc).

[51] Ý chỉ quan lớn đầu triều (chính là vị trí Thái sư của Trần Quang Khải).

[52] Năm 383, Bồ Kiên (vua Tiền Tần, một nước nhỏ ở Bắc Trung Quốc) mang gần trăm vạn quân đánh nước Đông Tấn, bị đánh bại ở sông Phì. Trăm vạn quân chạy về chỉ còn mười mấy vạn.

[53] Hưng Đạo vương vừa là thầy, vừa là cha vợ Nhân Tông. Cách xưng hô này thể hiện sự tôn trọng, coi Hưng Đạo vương như cha.

[54] Biến khách thành chủ, một trong 36 kế. Ý ở đây là khen Trần Đức Việp đã chiếm thế chủ động trong cách đối đáp.

[55] Tháng Mười âm lịch.

[56] Tháng Sáu âm lịch.

[57] Mẹ của Nhân Tông, là con gái thứ năm của An Sinh vương Trần Liễu (tức là em gái Trần Quốc Tuấn).

[58] Hưng Ninh vương Trần Tung hiệu Tuệ Trung thượng sĩ nổi tiếng với bài thơ Phóng cuồng ngâm.

[59] Thu hút tài lộc.

[60] Sử dụng thám báo, gián điệp.

[61] Tang hồ là cung bằng cây dâu, bồng thỉ là tên bằng cỏ bồng. Người Trung Quốc xưa khi có con trai thì lấy cung và tên này bắn lên trời, xuống đất và ra bốn hướng để ý mong con sau này tung hoành bốn phương, làm nên sự nghiệp. Vì Trần tiểu thư biết Hoàng Chí Hiển qua cuộc thi bắn nỏ, nên mới mượn điển tích này mà nói.

[62] Trần đại nhân mở.

[63] Vì nghĩa lớn mà diệt cả người thân, ý nói Trần Trọng Đạt và Vương Kế hai nhà nối đời thông gia, lại hứa gả con cho nhau nhưng không vì thế mà bao che. Thực ra, Trần Trọng Đạt không trị nhà họ Vương sẽ bị người khác tố cáo thì thân cũng chẳng giữ được.

[64] Tháng Mười một âm lịch.

« Lùi
Tiến »