Trần Khánh Dư

Lượt đọc: 2963 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG III

Lại một năm đi qua. Hoàng Phủ Tín cô quạnh đứng trông ra biển. Biển đen thẫm đến tột cùng. Những lúc thế này, hắn thường nhớ tới cảm giác một mình đứng trong thảo nguyên đêm. Thảo nguyên đêm cũng tối thẫm, nhưng bầu trời còn có vài ánh sao và hương gió đồng cỏ giữa những ngày băng giá nhất vẫn có gì thân quen, gần gũi.

Cũng một đêm cuối năm như thế này, Hoàng Phủ Tín đã gặp Triệu Ngọc Đường. Trải qua cuộc tỉ thí võ nghệ, cả hai đều như cảm thấy vừa tìm được tri âm tri kỷ. Quán khuya vắng người. Chủ quán vô sự gảy lên một bản đàn. Tình cờ, ấy lại là khúc Cao sơn lưu thủy . Khúc đàn mà thiên hạ vẫn đồn rằng danh cầm Bá Nha vẫn gảy với người tri âm tên là Tử Kỳ. Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn, vĩnh viễn không bao giờ để một ai trên đời còn được nghe ông ta đàn khúc Cao sơn lưu thủy nữa. Chuyện cũ là thế. Chẳng ai còn sống mà làm chứng xem tại sao đàn hủy, nhạc phổ đã đốt nhưng khúc Cao sơn lưu thủy vẫn lưu truyền mãi trong nhân gian như một biểu tượng của tình bạn cao cao như núi và miên man như nước. Chén rượu đêm trường. Hai thanh kiếm tựa vào vách quán. Triệu Ngọc Đường thốt lên: "Có người hỏi đệ, phải chăng bản Cao sơn lưu thủy này là người sau tự làm ra nhân chuyện cũ Bá Nha - Tử Kỳ? Lại có người đoán, phải chăng cầm phổ kia đã bị cao thủ nào ra tay sao chép lại mà Bá Nha không biết”. Hoàng Phủ Tín ngà say bật cười: "Huynh chẳng khi nào suy nghĩ sâu xa về những việc đó. Này Ngọc Đường đệ, hãy cứ coi chuyện cũ chỉ là một đoạn cố sự xa vời. Đàn người, người gảy. Rượu ta, ta uống. Biết nay mai trên đường lang bạt, ta có còn khi nào gặp lại được nhau...”

Rượu say, họ gục vào nhau mà ngủ. Phía trước mặt họ, ngoài cửa quán là thảo nguyên lạnh ngắt ngập tràn băng tuyết. Nhưng trong mơ, Hoàng Phủ Tín cứ như lạc vào giữa thảo nguyên đương mùa xuân. Hương cây cỏ nồng nàn. Tỉnh giấc, Triệu Ngọc Đường đã đi từ bao giờ. Chủ quán là một lão già nheo mắt nhìn Hoàng Phủ Tín mà hỏi:

– Khách tại sao lại để người hữu ý ra đi như thế?

Hoàng Phủ Tín cười ngạo nghễ:

– Bình thủy tương phùng [13] , sao biết là hữu ý?

Lão chủ quán bảo:

– Khách kể cũng vô tâm. Cả đêm ngồi với nhau mà vẫn cho là duyên bèo nước ư?

Tín sững sờ. Bất chợt nhớ lại hương thảo nguyên nồng ấm trong giấc mộng rồi bừng tỉnh. Trông ra ngoài, thảo nguyên vẫn ngút ngàn tuyết trắng. Bóng người đêm qua đã vắng.

Từ độ ấy. Hoàng Phủ Tín sợ những đêm cuối năm, sợ cả mùa xuân. Hắn thường trốn khỏi những bữa tiệc đón tân niên và tìm mọi cách uống say để ngủ vùi từ chập tối. Nhưng đêm nay hắn tỉnh. Và một mình ra đứng trước biển để đối mặt với mùa xuân đang đến.

Nào có mấy ai hiểu được nỗi lòng của hắn bây giờ!

○ ○ ○

Đã quá giao thừa của năm Trùng Hưng thứ hai được hai canh giờ. Trần Quốc Tảng im lặng ngồi trên một mỏm đá trông ra biển. Tiếng reo hò của quân lính mừng tuổi hai vua, mừng tuổi Quốc công Tiết chế, mừng tuổi tứ vị vương gia bên vò rượu cũng đã ngưng. Đột nhiên, Hưng Nhượng vương chạnh lòng nhớ tới người anh em Đỗ Vĩ [14] . Bậc tài hoa ấy giờ đã là người cõi khác. Hai người đã quen nhau trong một đêm trăng sáng ở Vân Đồn. Trần Quốc Tảng đã một mình một kiếm đấu với lũ buôn lậu Lôi Châu và được Đỗ Vĩ trợ chiến đúng vào lúc nguy nan nhất. "Mãnh hổ nan địch quần hồ”. Một con hổ có dũng mãnh đến đâu cũng khó địch được cả bầy cáo. Vậy mà cuối cùng, chính Đỗ Vĩ đã đơn thương độc mã lần vào hang của lũ lang sói để chuyển về những đạo tin mật giúp Quốc công Tiết chế có được quyết sách thật chắc chắn. Sau lần gặp gỡ ở Vạn Kiếp, hai người không còn cơ hội để tái ngộ nữa. Họ chỉ nhớ tới nhau trong trí tưởng theo cái cách của những kẻ tri âm thường dùng tới khi xa cách.

Bây giờ, Đỗ Vĩ đã khuất núi. Con người tài hoa ấy bị giặc phát hiện và đầu độc. Nhưng những tin tức quan trọng đều đã được Đỗ Vĩ chuyển về vừa kịp để Quốc công tính toán việc binh. Công lao của Đỗ Vĩ thực không nhỏ. Nhưng ngày khải hoàn, Trần Quốc Tảng như thấy Thăng Long thật chông chênh vì thiếu bóng người anh em Đỗ Vĩ.

Sau buổi đại yến mừng công, Trần Quốc Tảng có ghé vào chùa Nghi Tàm thắp hương ở ban thờ Đỗ Vĩ. Ông ngồi thật lâu trên chiếc chiếu trải trước ban thờ mới lập. Nén hương im lặng thả một sợi khói từ từ bay thẳng. Vị vương có máu giang hồ vào loại nhất nhì trong họ Đông A cứ ngồi im như thế suốt từ giờ Thân qua giờ Dậu. Ánh tà dương bên ngoài tắt rồi mà dường như ông cũng không hay. Sư bà dặn ni cô Tuệ Liên [15] không thỉnh chuông chiều để tránh kinh động Đức ông Hưng Nhượng. Phật đường khép cửa. Cổng chùa đóng lại. Chùa tạ khách. Sư bà nói với ni cô Tuệ Liên: "Con nhắc các già các vãi ra vào bằng lối cổng sau và bước thật nhẹ chân. Lâu lắm rồi "họ" mới được gặp nhau”...

Trong cái lúc ngày đêm chẳng rõ ấy, Trần Quốc Tảng có những khi cảm thấy chiếc quạt Hới đặt trên ban thờ thoáng chút lắc lư. Phật đường khép cửa, và bên ngoài gió cũng lặng. Những đồ thờ trên ban, vốn được sắp đặt theo chủ ý của Đức ông Chiêu Văn, thoảng cũng có khi lóe sáng. Trần Quốc Tảng những mong người bạn tri âm tri kỷ có thể hiển linh trong khoảnh khắc để ông có thể nhìn thoáng lại vóc hình Đỗ Vĩ một lần cuối. Nhưng tất cả ảo ảnh dường như chỉ sinh ra bởi sự mong muốn đến vô vọng của lòng người. Sau hết, Trần Quốc Tảng chống gối đứng dậy. Ông vái ba vái và khấn thầm: "Thôi hiền huynh yên lòng, đệ còn phải làm tiếp những việc còn dang dở”. Đoạn, ông chậm rãi đẩy cửa bước ra sân và ghé xuống nhà ngang hỏi han sư bà cùng ni cô Tuệ Liên. Sư bà biết ý chỉ trả lời dăm ba câu rồi nói thác có việc và tránh đi để Trần Quốc Tảng dễ bề nói chuyện với ni cô.

Tuệ Liên chắp hai tay lại: "Bẩm Đức ông, tiên sinh vẫn thường nhắc lại câu chuyện trên đảo Vân Đồn cho bần ni nghe”. Trần Quốc Tảng xót xa nhìn người ni cô còn quá trẻ trước mặt. Nếu Đỗ Vĩ không chết, biết đâu cô gái này sẽ se duyên với người anh kết nghĩa của Trần Quốc Tảng. Không chính thất thì cũng là trắc thất. Và như thế, ông sẽ phải gọi người này là chị dâu. Những ngày cuối đời trên đất giặc, Đỗ Vĩ và cô hầu gái của An Tư công chúa này như đã bén duyên nhau. Nhưng giờ, Đỗ Vĩ đã chết vì nước, còn cô hầu gái đã ẩn chốn cửa thiền và một mình ôm nỗi niềm riêng. Trần Quốc Tảng gật đầu: "Ta cũng vẫn thường nhớ đến ngày đó. Ta muốn hỏi cô câu này: lệnh bà An Tư...”. Hỏi tới đó, giọng Trần Quốc Tảng như nghẹn lại. Thân phận An Tư có khi còn khổ hơn Đỗ Vĩ, khổ hơn cả Tuệ Liên. Nàng công chúa yêu của Thượng hoàng vẫn phải chịu thân phận làm tì thiếp cho thằng Hoàng tử Thoát Hoan... Tuệ Liên khẽ thở dài: "Dạ bẩm, lệnh bà vẫn khỏe. Chính lệnh bà sai người tâm phúc truyền bần ni phải tìm mọi cách về được Đại Việt. Lệnh bà dặn rằng người Nguyên chưa bỏ ý xâm lăng”. Nói tới đây, Tuệ Liên nghẹn ngào: "Dạ... lệnh bà dặn nhớ phải trả thù cho lệnh bà, cho em Thúy và cho Đỗ Vĩ tiên sinh”. Trần Quốc Tảng ứa nước mắt. Ông đã được biết lời dặn này qua câu chuyện của Đức ông Chiêu Văn, nhưng giữa lúc này đây, nghe qua giọng nghèn nghẹn của ni cô Tuệ Liên, ông vẫn không cầm lòng được. Biết rằng binh lửa chưa yên, nghĩa là còn bao nhiêu thân phận phải hy sinh vì đại cuộc, nhưng lòng ông vẫn chua xót khi nghĩ về những thân phận ấy.

Bữa đó, Trần Quốc Tảng ra về, từ chối lời mời ăn bữa cơm dưa muối của nhà chùa. Ông dặn sư bà chăm sóc cho Tuệ Liên và rồi lên ngựa đi suốt đêm về Vạn Kiếp. Trong lòng ông, trĩu nặng những nỗi niềm.

Giờ thì Trần Quốc Tảng đang ngồi ở An Bang, cách không xa Vân Đồn. Biển đêm trước mặt ông mênh mông. Trời bắt đầu nhờ nhờ sáng. Trần Quốc Tảng đứng dậy. Ông truyền đám lính gia nô đang ngồi chờ ở phía xa chuẩn bị thuyền. Trông vẻ ngơ ngác của lính, Hưng Nhượng vương nhẹ giọng:

– Đừng có đoán già đoán non, ta ra Vân Đồn mừng tuổi Đức ông Nhân Huệ

Mấy khắc cuối cùng của năm, Trần Khánh Dư đã bắt đầu say. Rượu đã chảy tràn trong các bát lớn. Tiếng quân sĩ reo hò tung hô Quan gia muôn tuổi và Quốc công Tiết chế muôn tuổi vang vang. Đỗ Niêm nhắc người mang lên một bát thang giải rượu nhưng Trần Khánh Dư gạt đi. Đã uống là phải say, mà còn gì vui hơn là say trong những khắc chuyển từ năm cũ qua năm mới. Còn gì vui hơn là say để quên đi mình vừa già thêm một tuổi. Binh lửa vừa yên, giặc giã đã chạy, mà kế li gián của chúng cũng bị phá tan tành. "Nào chư tướng, uống đi chứ, uống và truyền cho binh lính cùng uống, trừ những ai đang phiên gác và sắp vào phiên gác”. Vị vương có số phận long đong vào bậc nhất trong hoàng tộc cười kha kha, bá cổ Hoàng Chí Hiển và hát nhăng mấy câu bỡn cợt. Câu hát huê tình.

Đã biết Nhân Huệ vương từ lâu, nhưng Hoàng Chí Hiển và Đỗ Niêm chưa bao giờ nghe ông nhắc đến một người đàn bà nào. Người ta thấy ông lúc hào hứng lúc dửng dưng với những trò hội hè kiểu "Tiệc rượu mo nang” hay những nơi hát xướng. Những thương khách buôn hàng lậu bày trò đưa gái đẹp đến dinh gặp ông tướng cai quản Vân Đồn là coi như hỏng việc, thế nào cũng bị tống cổ ra. Đừng tưởng ông tướng trấn thủ Vân Đồn này là người "thương hoa tiếc ngọc” mà cứ thế dẫn gái đẹp tới là làm ông vừa lòng. Trần Khánh Dư luôn thích mọi sự đều theo ý mình, không thể để kẻ khác ép uổng được. Chỉ có cực ít người biết sở thích của Nhân Huệ vương. Ông thích chơi những đồ lạ trong thiên hạ. Kỳ hoa dị thạch từ những miền đất xa. Vũ khí quái dị của những môn phái võ, kể cả thất truyền. Và đặc biệt là sách. Trần Khánh Dư có một chiếc tủ quý bày hàng trăm cuốn sách mà đến Trần Ích Tắc cũng phải thèm khát. Năm xưa, khi Trần Khánh Dư bị cách tuột quan chức, Trần Ích Tắc đã mò đến gạ gẫm ông nhượng lại cho tủ sách này. Chắc Ích Tắc nghĩ phen này Trần Khánh Dư sạt nghiệp, chỉ còn nước mang đồ quý và gia sản cha ông ra bán để sống. Hắn nhầm to. Trần Khánh Dư đã lặng lẽ có trong tay một đội thuyền buôn than từ lâu rồi. Đội thuyền đó, tiếng là buôn than, nhưng còn buôn nhiều thứ khác nữa. Họ buôn muối ngược lên ngàn, buôn ngà voi sừng tê và thuốc quý xuống biển bán cho thương lái nước ngoài. Những thứ đó, đều được giấu vào lẫn trong thuyền than. Người bán than thì nghèo, nhưng buôn than như đội thuyền của Trần Khánh Dư thì giàu nứt đố đổ vách. Mà đội thuyền còn giàu, thì ông chủ của đội thuyền còn giàu đến đâu! Giá lúc đó, Trần Khánh Dư cứ xem có cô quận chúa, hay công chúa nào rồi xin Thượng hoàng Thái Tông và Quan gia Thánh Tông cho cưới thì bây giờ chắc ông cũng êm ấm lắm rồi. Giời xui đất khiến thế nào ông lại gặp phu nhân của Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn ở tiệc rượu mo nang. Một đằng là lãng tử đốt tiền không tiếc, một đằng là người mộng mơ vớ phải ông chồng hiền lành tốt tính nhưng chẳng biết chiều vợ... Chuyện vỡ lở, Trần Khánh Dư mất sạch. Rồi chẳng ngờ một ngày ông lại được Quan gia Nhân Tông trao quyền nhờ mấy câu của Đức ông Hưng Đạo. Từ bấy đến nay, đã kịp qua một phen binh lửa. Chiến tranh làm con người ta thay đổi thực nhiều. Mà phải nói thế này mới đúng, chiến tranh làm lộ ra bộ mặt thực của con người. Có những kẻ khi thường thì nói toàn lời hay ho, coi thiên hạ như cỏ rác. Tới khi gặp giặc thì cuống quýt ra hàng, quên hết những hoa ngôn lộng ngữ ngày trước. Có những kẻ khi thường tưởng là bạn, cùng gác chân mà nói chuyện tri âm. Tới khi vào trận thì đó lại chính là kẻ dẫn đường cho giặc. Có những lúc, Trần Khánh Dư tự nghĩ rằng giá như mình đừng lớn lên, cứ mãi là thằng bé bảy, tám tuổi chạy loanh quanh trong vườn thái ấp Chí Linh thì thực là hay. Hoặc giả, có khi được hóa làm cánh chim bằng sải cánh trên tít mấy từng trời lại còn vui hơn làm Phó Đô tướng chỉ huy thủy quân kiêm quản trấn thủ Vân Đồn!...

Lúc Hưng Nhượng vương tới nơi thì Trần Khánh Dư đã say lướt khướt rồi. Ông đang lảo đảo khoác vai Đỗ Niêm và Hoàng Chí Hiển, miệng hát váng lên một bài ca của bọn giặc biển nào đó. Một bài ca thường được bọn giặc biển gào lên trong phong ba bão tố qua giọng say của Đức ông Nhân Huệ mang vẻ hoạt kê rất lạ. Nhưng lính hầu đố dám cười. Lúc này mà trêu vào ông Phó Đô tướng có mà ăn đòn như chơi. Trần Khánh Dư hát xong lại ngồi bệt xuống chiếu, và tự rũ ra cười vì giọng hát của mình. Ông mắng Hoàng Chí Hiển và Đỗ Niêm: "Hai cái thằng đần này sao không cười hở? Ta hát vớ vẩn như vậy mà không cười, rõ phí”. Rồi, nhìn mặt của "hai thằng đần" cứ nghệt ra vì không biết đáp lại thế nào, Trần Khánh Dư càng sằng sặc. Đúng khi ấy, lính canh vào trình "Đức ông Hưng Nhượng tới”. Trần Khánh Dư cứ thế chạy chân đất ra đón Trần Quốc Tảng. Ông luôn mồm kêu: "thằng cháu quý hóa ra đây uống rượu với ta" "thằng cháu quý hóa ra đây xem ta hát nào”...

Bữa rượu năm mới kéo tới giờ Thìn mới dừng. Dừng nghĩa là tất cả ngần ấy người trên chiếu rượu đều đã say gục xuống. Nhưng thực ra tới đầu giờ Mão thì đã ai nói nấy tự nghe, còn lính hầu thì trốn biệt ra xa vì sợ "vạ lây cháy thành”. Vốn trong quân thủy vẫn lưu truyền một câu chuyện về những kẻ mang họa vì trót ở gần Nhân Huệ vương khi ông đang say! Ấy thế mà mới qua giờ Tỵ, Trần Khánh Dư đã ngồi bật lên khi bị lay dậy. Phạm Chính vừa thân chinh đến trình Đức ông một tin quan trọng: Một chiếc thuyền nhỏ vừa bị lính tuần chặn lại. Đám người trên thuyền kháng lệnh và bị bắn chết gần hết. Chỉ có hai người nằm úp mặt xuống sàn thuyền giả chết, đợi lũ kia bị bắn gục mới ngóc lên xin hàng là được tha. Tất thuyền đều mặc trang phục Tống. Khám trong người một xác chết, tìm thấy một bức mật thư của Trần Ích Tắc gửi Đức ông Tĩnh Quốc. Theo lời khai của hai kẻ còn sống, họ là đạo sĩ thuê người đưa đường sang Đại Việt tìm bắt một phản đồ. Họ không biết gì về bức thư mà gã kia mang theo... Phạm Chính thì thầm:

– Bẩm Đức ông, tiểu tướng đang cho nhốt họ riêng để tránh thông cung.

Trần Khánh Dư gật gù:

– Cho họ ăn no. Đợi ta tới gặp họ xem sao. Bảo Hoàng Phủ Tín chờ lệnh ta.

Phạm Chính ngần ngừ một chút rồi thì thào:

– Bẩm Đức ông, trên thuyền có khoai...

Trần Khánh Dư giật mình:

– Khoai trắng hay khoai vàng?

Phạm Chính càng nói nhỏ hơn:

– Bẩm, khoai vàng.

Rồi Phạm Chính xòe mười ngón tay ra trước mặt và gật gật đầu với Trần Khánh Dư. Nhân Huệ vương càng khẩn trương:

– Thằng chèo hả, nó tự xử hay lính tuần bắt? nói:

Phạm Chính ngoảnh nhìn trước sau rồi mới

– Tiểu tướng trông sắc mặt nó nên tự tra soát.

Trần Khánh Dư thở nhẹ ra

– À, ngươi làm khéo đấy!

Trần Khánh Dư khoát tay cho Phạm Chính lui ra và quay vào căn lều nhỏ vốn dành cho lính canh được ông chọn ngồi uống rượu Trần Quốc Tảng đã trở dậy. Vị vương tử thứ ba của Đức ông Tiết chế đang ngồi khoanh chân nhắm mắt như nhập định. Trước mặt ông là một bát nước trong. Trần Khánh Dư toan quay ra thì Quốc Tảng mở mắt và cười:

– Chú lại có món phát tài đầu năm hay sao mà sắc diện hồng hào thế?

Trần Khánh Dư hừ một tiếng, không ra phản đối cũng chẳng ra đồng tình. Ông hỏi sang chuyện khác:

– Cháu có nghĩ năm nay có nhiều sự biến không?

Hưng Nhượng vương tủm tỉm, quyết không bỏ cuộc:

– Món hời này xem ra hơi khó xơi!

Trần Khánh Dư phát cáu:

– Bỏ cái kiểu khôn quá đầu thiên hạ đi, ông Hưng Nhượng!

Trần Quốc Tảng phá ra cười:

– Đấy nhé, chú không giấu được cháu đâu! Có món gì vậy chú, khó thì cháu giúp, hưởng thì cháu xin một phần...

Trần Khánh Dư trợn mắt nhìn Quốc Tảng:

– Tài nhỉ? Giờ ta mới hiểu vì sao trong thiên hạ đồn rằng Hưng Nhượng vương có tài "ngồi trong màn trướng mà nghe được việc ngoài trăm dặm [16] ”...

Những câu đối đáp ông chẳng bà chuộc giữa hai vị vương gia cứ như không hề ăn nhập vào câu chuyện đang nói dở. Ấy vậy mà người trong cuộc lại nhờ đó mà thêm hiểu được nhau. Rồi Trần Khánh Dư nghiêm mặt:

– Lính tuần vừa tóm được thư của Ả Trần [17] gửi Tĩnh Quốc đại vương trên một con thuyền nhỏ.

Trần Quốc Tảng hơi giật mình:

– Cháu nhìn sắc mặt chú rồi đoán bừa mấy câu, hóa ra có chuyện lớn quá. Ý chú thế nào?

– Ta định lại về Vạn Kiếp một chuyến để hỏi ý cha cháu. Dù gì, trong thì ông ấy là trưởng tộc, ngoài là Quốc công Tiết chế. Trần Quốc Tảng lắc đầu:

– Theo cháu, không nên thế chú ạ.

Trần Khánh Dư cướp lời:

– Anh lại định xui ta về gặp ông Chiêu Minh chứ gì. Ta không thích ông ấy. Ông ấy không có khí độ như anh Trưởng. Trần Quốc Tảng nheo mắt:

– Chú đừng nhắc lại mấy cái chuyện tranh chấp làm gì. Việc nước là trọng.

– Thì đành là trọng. Ta cũng chẳng ưa gì cái cách ông anh đại vương ngồi một chỗ nuông hư thằng con thứ của ông ta [18] . Nhưng bức thư này lọt vào tay ông Chiêu Minh, chưa biết ông Tĩnh Quốc có yên ổn nổi mà ngồi một chỗ nữa không.

– Thưa chú, Đức ông Thái sư là quan đầu triều, dẫu thế nào cũng...

Trần Quốc Tảng bỏ lửng câu nói, ngoảnh nhìn ra phía ngọn núi xa. Trần Khánh Dư cũng trông theo:

– Thôi thì, theo lời của cháu vậy. Mong rằng hai vua và ông Chiêu Minh sẽ chờ ý cha cháu rồi mới định đoạt...

Trần Quốc Tảng ngoảnh lại, chậm rãi nói từng chữ:

– Chú đừng nóng, còn phải xem nội dung bức thư thế nào đã chứ...

Trần Khánh Dư kéo tay Trần Quốc Tảng:

– Nào, đi xem thằng bán nước ấy viết gì nào. Mà... công nhận thằng Ích Tắc viết chữ đẹp lắm nhé!

Hai vị vương gia cùng bước, người trước, người sau. Phía ngoài, Phạm Thuần Dụng và Hoàng Chí Hiển đang đứng đợi. Phạm Thuần Dụng chắp tay lạy hai vương rồi cất lời:

– Bẩm, anh của tiểu tướng nhận mệnh xong là phóng ngựa đi ngay, chỉ dặn tiểu tướng và cư sĩ Hoàng Chí Hiển đợi ở đây.

Trần Khánh Dư thì đã biết, nhưng Trần Quốc Tảng hơi sững lại. Ông vẫy Hoàng Chí Hiển lại gần, nhìn thật kỹ vẻ thanh thản trên gương mặt còn trẻ nhưng đầy từng trải rồi hỏi:

– Ngươi là phó tướng của Hoài Văn đúng không? Hoàng Chí Hiển cúi đầu:

– Trình Đức ông, chúng tôi là anh em kết nghĩa đồng sinh đồng tử.

Trần Quốc Tảng lặng người đi. Ông thấu hiểu điều đau xót.

– Ta hiểu, ta cũng mất một huynh đệ kết nghĩa đồng sinh đồng tử khi chiến trận đã tàn.

Hoàng Chí Hiển không nói gì nữa. Ngày đầu tiên của năm mới mà chỉ ôn lại những chuyện mất mát thì không nên, nhất là khi nói với một vương gia. Thế nhưng, chàng trai trẻ ngỡ ngàng khi thấy vị vương gia vốn được coi là khó hiểu nhất trong số tứ vị vương tử của Hưng Đạo vương lại đưa tay nắm lấy tay mình. Hưng Nhượng vương dắt Hoàng Chí Hiển đi ra phía biển. Và, trong một phút bâng khuâng. Trần Quốc Tảng kể cho Hoàng Chí Hiển nghe về buổi chiều trong chùa Kim Liên và phút gặp gỡ ni cô Tuệ Liên - người con gái cuối cùng có cơ hội gần gũi với Đỗ Vĩ.

Câu chuyện ấy, Hưng Nhượng vương chưa từng kể với ai. Câu chuyện ấy động đến góc thẳm sâu trong lòng Hoàng Chí Hiển.

Thân mẫu của Hoài Văn vương đã từng ướm hỏi Hoàng Chí Hiển. Bà muốn nhận Thoan làm nghĩa nữ và đứng ra gả cô cho Hoàng Chí Hiển. Nhưng Hoàng Chí Hiển không nhận lời. Viên phó tướng dưới lá cờ sáu chữ rất thương Thoan. Thương theo kiểu một viên tướng thương những cô nhi quả phụ của những người lính đã ngã xuống trong đội quân mà mình nắm giữ. Còn gá nghĩa ư? Có thật nhiều những lý do mà Hoàng Chí Hiển không muốn đối mặt. Chủ tướng vừa nằm xuống, và trong lòng người con gái kia biết đến bao giờ mới nguôi được hình ảnh chàng dũng tướng mặt đẹp như ngọc tung hoành giết giặc...

Trông sắc diện thay đổi không ngừng trên mặt chàng trai trẻ, Hưng Nhượng vương chợt chạnh lòng. Binh lửa thật tàn nhẫn. Lẽ ra, chàng trai này đang ở tuổi của những khát khao, mơ ước. Công danh là một, êm ấm là hai... Thế mà trên gương mặt kia hằn những dấu vết của biến động và mất mát. Và bộ quần áo là thuần một màu nâu sồng, màu của nhà Phật. Trần Quốc Tảng cũng có nghe sơ qua câu chuyện về cuộc đời Hoàng Chí Hiển. Tất cả người nhà họ Hoàng đã bị giặc sát hại. Thân thích bây giờ chỉ còn những người từng theo Hoài Văn vương xông trận. Ông chưa hiểu rõ ý khi Hoàng Chí Hiển chọn trở thành một cư sĩ [19] . Để né tránh một mối duyên? Để chuyên tâm thấu hiểu cõi Bồ đề? Để thông tay xa cõi tục?... Trần Quốc Tảng nửa muốn hỏi thẳng, nửa lại ngần ngừ. Kiến văn của ông, sở học của ông, đủ để tranh luận và chia sẻ với chàng trai. Vậy mà Hưng Nhượng vương thấy khó nói làm sao.

Hai người, một vị vương gia và một chàng trai trẻ cứ thế đứng nhìn trân trân ra phía biển. Cho tới khi Phạm Thuần Dụng hắng giọng mấy lần, họ mới giật mình trông lại.

Phạm Thuần Dụng chắp tay:

– Bẩm, Đức ông Nhân Huệ dặn tiểu tướng đưa vương gia và cư sĩ đây tới chỗ Đức ông.

Phạm Thuần Dụng phóng ngựa đi trước dẫn lối, Trần Quốc Tảng và Hoàng Chí Hiển cùng giục ngựa theo sau. Binh lửa mới yên nhưng năm mới lại thực bôn ba làm sao. Trên đường, Hoàng Chí Hiển bất ngờ quay sang nói với trong tiếng gió:

– Bẩm Đức ông, sáng nay cháu có ngắm mây gió ngoài biển. Xem ra vẫn còn thấy sặc mùi binh đạo...

Trần Quốc Tảng lại thêm chút ngỡ ngàng. Con người trẻ trung này đã rèn tập để thấu được lẽ huyền vi hay có cơ duyên mà thông linh cùng trời đất? Sao anh ta có thể nói ra những điều liên quan đến vận nước mà nhẹ nhàng đến vậy? Nhẹ nhàng đến nỗi một người như ông - vốn được vài vị ẩn tăng chân truyền phép xem thiên tượng - cũng phải giật mình. Con người này mà không tận dụng thì thật là uổng phí. Bất giác, Trần Quốc Tảng trông sang Hoàng Chí Hiển. Ông sẽ tiến cử anh ta với Hưng Ninh vương Trần Tung. Mà cũng có thể là tiến cử với Phạm Ngũ Lão. Nếu tu đạo, Hoàng Chí Hiển có thể là bậc chân tu. Nếu giúp nước, Hoàng Chí Hiển sẽ là trang hào kiệt vang danh thiên hạ. Hoài Văn vương Quốc Toản thực là biết nhìn người, biết dùng người. Tiếc là Quốc Toản mất sớm quá...

Miên man suy nghĩ, Trần Quốc Tảng mang cả một vẻ mặt bâng khuâng khi tiến vào trạm chính của lính tuần biển. Hoàng Chí Hiển theo sau ông, trông cũng trĩu những nỗi niềm. Đón họ là một Nhân Huệ vương đang ha hả cười như đang đóng trò gì đó:

–Năm mới được đón vương điệt tới đây, thực là vạn hạnh quá!

Trần Quốc Tảng lập tức hiểu ý và hưởng ứng liền:

– Tiểu điệt vâng mệnh phụ thân ra đây, trước thăm Vương thúc, sau là ủy lạo quân sĩ Vân Đồn.

Trần Khánh Dư càng ra vẻ hào hứng hơn:

– Người đâu, mau mang rượu ra để Đức ông Hưng Nhượng chuyển mệnh của Quốc công Tiết chế...

Hai vị vương lại phải diễn trò giao đãi để tránh tai mắt giặc. Giữa những lúc thế này, thực khó đặt trọn lòng tin vào ai. Trong đám sĩ tốt xung quanh, biết đâu có kẻ hai lòng...

Trông bên ngoài, khó ai ngờ rằng trong ngực áo Nhân Huệ vương là bức mật thư của Trần Ích Tắc gửi Tĩnh Quốc đại vương, để khuyên Trần Quốc Khang khởi binh đòi ngôi đại bảo và trả thù cho đứa con trai Trần Kiện bị gia tướng của Hưng Đạo vương là Nguyễn Địa Lô bắn chết.

Cũng khó ai ngờ rằng, ngoài biển kia, vẫn còn ba con thuyền nữa đều mang những mật thư như vậy. Một thuyền bị cướp biển giết sạch, một thuyền bị sóng gió đánh chìm. Hai bức thư sẽ tan trong biển. Nhưng một bức, chỉ vài ngày nữa sẽ tới tay Tĩnh Quốc đại vương, người đang vâng mệnh vua "ngồi yên” mà giữ Diễn Châu...

« Lùi
Tiến »