Mila đột ngột choàng tỉnh.
Cô nhìn quanh: đã biến mất. Ánh nắng cam lọt qua khe cửa và len qua khe hở giữa các tấm trần. Đây đã là đêm thứ hai Alice xa mẹ, bị cầm tù tại một nơi xa lạ.
Trời đã ngừng mưa, lũ chim đang hót. Câu nói cuối cùng của người đàn ông đội mũ trùm màu đỏ vang lên trong đầu cô:
“Tất cả chúng ta đều có một thế thân trong thế giới thực.”
Ông ta nói như vậy nghĩa là sao? Nghe thật phi lý.
Mila ngồi dậy. Đầu cô vẫn còn quay, và căn cứ theo cơn đau ê ẩm toàn thân hiện tại, giấc ngủ đã không đủ để cho cô lại sức.
Cô khoác áo choàng, đội mũ trùm đầu của chiếc áo thun lên, rồi rời khỏi ngôi nhà đổ.
Bình minh giữa chốn đồng quê hiu quạnh không một bóng người.
Mila đi men theo con đường vắng vẻ. Sau những trận mưa lớn, không khí thoang thoảng hương thơm. Sẽ là một cuộc dạo chơi thú vị nếu cô không có những suy nghĩ đen tối đang đè nặng tâm trí. Cô đi được khoảng hai cây số thì thấy một chiếc xe tải nhỏ đang chạy về hướng thành phố. Cô vẫy nó lại và xin người lái xe cho đi quá giang.
Trong chuyến đi, cô nhớ lại cảnh người mẹ đeo mạng đen khóc lóc, bố đẻ của con gái cô ngồi đẽo một cái xương, và Alice nằm chết trong nôi. Cô cũng nhớ lại những lời nhắn nhủ của Pascal, rằng cô không được tin ai hết, và thời gian không còn nhiều. Một con virus đang phá hủy Nơi khác , nhưng Mila có cảm giác một thứ gì đó cũng có sức tàn phá tương tự đã xảy ra trong cuộc đời của ông ta.
“Chắc cô đang tự hỏi mình sẽ làm gì nếu có thể quay ngược thời gian...
Tất cả mọi người đều nghĩ đến chuyện đó, không trừ một ai. Những sai lầm trong quá khứ là liều thuốc của hiện tại. Mọi người đều nhìn lại phía sau và cho rằng các khó khăn của mình bắt nguồn những lựa chọn xa xưa, vốn không thể thay đổi được. Nhưng đó chỉ là cái cớ để phạm những sai lầm khác.
Khi về đến thành phố, Mila nhờ người lái xe thả mình xuống gần một trạm tàu điện ngầm. Từ đó cô đi tàu đến sở cảnh sát, với hy vọng rằng Simon Berish đã có mặt.
Mila đi vào trong trụ sở bằng một cánh cửa phụ, tranh thủ lúc đội lao công thay ca. Cô giấu mặt dưới phần mũ trùm của chiếc áo, nhưng trong không khí nhộn nhịp của buổi sáng thứ Hai này, chẳng ai buồn để ý đến cô. Nhờ vậy Mila xuống đến Minh Phủ một cách dễ dàng.
Khi bước vào sảnh những bước chân thất lạc, cô bắt gặp Berish đang nằm ngủ trên một chiếc ghế. Anh lập tức bật dậy.
- Em có ổn không? - Anh hỏi trong lúc tiến đến chỗ cô với vẻ mặt kích động. - Anh đã quay lại ngôi biệt thự và thấy xác của Lisca.
- Anh đã đúng. - Mila đáp gọn lỏn và luồn tay vào trong tóc. - Em thật ngu. Nhưng giờ thì em có hàng đống thứ để kể cho anh nghe đây.
Đó là điều cô làm trong suốt một tiếng đồng hồ sau đó, khi đã uống tách cà phê nóng bỏng mà Berish pha bằng máy của cơ quan. Cô xác nhận với anh rằng Timmy Jackson chính là con quái vật Unic, cô xin lỗi vì đã không nghe theo lời anh và rời khỏi ngôi nhà đó ngay lập tức - mặc dù trong thâm tâm cô biết Lisca đằng nào cũng sẽ tìm được cách để tấn công mình.
- Anh không hiểu nguồn cơn của tất cả những chuyện này. - Berish thừa nhận. - Tại sao Enigma lại xăm tên em trên người, nếu như đồng bọn của hắn hết lần này đến lần khác tìm cách giết em? Việc Alice bị bắt cóc cũng vô nghĩa, vì nếu em là mục tiêu, sao không trừ khử em ngay tại căn nhà bên hồ cho rồi?
Anh nói không sai. Rõ ràng hai chi tiết đó cực kỳ mâu thuẫn.
- Có lẽ vì đây là trò chơi của em. - Cô đáp.
Tiếp đó, Mila kể cho Berish nghe về Pascal, về việc cô nghĩ rằng ông ta là một nhà tội phạm học, và ông ta đã không phủ nhận chuyện đó.
- Chúng ta nên cố lần ra danh tính của Pascal. - Berish đề xuất, dù biết ông ta đã xóa sạch mọi dấu vết của mình. - Em cũng biết rồi đấy, người ta không thể biến mất hoàn toàn.
Đó là sự thật, Mila đã trải nghiệm điều đó nhiều lần trong những năm tháng tìm người mất tích tại Minh Phủ. Người ta có thể thay đổi diện mạo, thói quen, xóa dấu tay và mọi vết tích hữu cơ có thể tiết lộ ADN của mình, nhưng luôn có một điều gì đó nơi họ không bao giờ thay đổi, một điều mà họ không ngờ tới. Cô vẫn nhớ trường hợp một người phụ nữ đã có chồng con bỗng dưng mất tích suốt hai mươi năm. Cô đã nhận ra bà ta nhờ một cử chỉ vô thức mà bà ta vẫn còn giữ lại: chạm vào lông mày khi ngẫm nghĩ.
- Hiện tại, chúng ta không có bất kỳ manh mối nào. - Mila xác nhận, dù cô đã rất để ý tới các chi tiết. - Ông ta rất cẩn trọng.
Berish không mấy tin điều đó, nhưng anh tạm thời chưa muốn nêu lên những nghi ngờ của mình.
- Em còn nhớ gì về chuyến đi tới Nơi khác vừa rồi?
- Một con rắn màu ngọc lục bảo.
Mila cố tình lờ đi cuộc đoàn tụ gia đình bi thảm và tập trung vào việc tra cứu kho dữ liệu của Ban tìm kiếm người mất tích.
- Tại đó, em đã được cho xem các lá bài tarot. - Cô nói với Berish trong lúc tra cứu. - Chúng chứa hình ảnh của những người mất tích.
- Nhưng nếu con rắn có liên quan đến một vụ mất tích thì tại sao họ không đưa em xem khuôn mặt của người đó cho rồi? - Berish bình luận. - Có gì đó mách bảo anh rằng đây không phải là hướng điều tra đúng.
Bất chấp sự hoài nghi của Berish, Mila hoàn toàn tự tin. Nhưng rồi việc tìm kiếm của cô không mang lại kết quả nào.
- Có lẽ chúng ta phải bắt đầu bằng một chi tiết khác. - Berish đề nghị.
- Chúng ta có thể đi kiểm tra xem cái quán bar trên bến cảng có thực sự tồn tại hay không. - Mila đáp, cô không thấy mình còn lựa chọn nào khác.
Đó là một tòa nhà vô danh nằm ở cuối bến, đối diện với ụ sửa chữa tàu và nằm giữa những công trình thấp tầng được dùng làm nơi chứa tàu thuyền. Quán chẳng có bảng hiệu vì người ta chỉ tới đó để uống, và nó chỉ có khách quen.
- Mấy tay bợm nhậu không cần những thứ trang trí cầu kỳ đâu. Berish lên tiếng. - Họ chỉ cần biết ở đây mình có rượu để uống.
Bến tàu nằm ở cửa sông khiến quán bar trở thành nơi giao du giữa giới đi biển và đi sông.
Khi bước vào, họ được chào đón bằng tiếng chuông gió khe khẽ, khiến Mila nhớ đến âm thanh cô đã nghe thấy ở Nơi khác . Mọi thứ giống đến nỗi cô cảm thấy bất an.
Cái máy phát nhạc tự động gần nơi bố của con gái cô ngồi đẽo xương được đặt trong một góc, nhưng tại đây nó được gắn một tấm biển đề “Máy hỏng” Mila tự hỏi nó đã bị như thế từ bao giờ. Berish nói đúng: nơi này không cần âm nhạc.
Quả thực, mới 9 giờ 15 phút sáng, hầu hết những khách hàng lầm lì ngồi trước quầy rượu đều đang ru ngủ con quỷ trong mình. Họ không có nhu cầu tán gẫu hoặc kết bạn, tất cả những gì họ cần là được cô phục vụ trẻ tuổi đều đặn rót đầy ly.
Cô gái tóc nâu dài ăn mặc giản dị với quần jean và áo sơ mi ca rô. Cô chỉ ngoài hai mươi tuổi, nhưng những nếp nhăn trên khuôn mặt khiến cô già thêm cả chục tuổi.
- Xin chào. - Mila mở lời.
Cô gái sau quầy rượu bỗng tái mặt như thể đang chờ đợi chuyến viếng thăm của họ.
- Hai người tìm thấy rồi à? - Cô hỏi với giọng run rẩy.
Câu hỏi cho thấy họ đã đến đúng chỗ.
- Chúng ta trao đổi riêng với nhau vài phút được không? - Berish đề nghị.
- Hai người là cớm, đúng không? - Cô gái hỏi lại, sự nghi ngờ hiện rõ trên gương mặt.
- Vâng. - Anh cảnh sát đáp.
- Chỉ cần cho tôi biết người còn sống hay đã chết thôi. - Cô van vỉ.
- Là chị của cô à? - Mila đoán mò.
- Không phải, mẹ tôi.
Cô gái tên Laura Ortis, và chỉ trong chưa đầy năm phút, cô đã xua hết khách khứa trong quán ra ngoài để được tiếp riêng hai cảnh sát. Cô dẫn họ vào một căn phòng nhỏ, được ngăn thành nhiều ô riêng biệt. Mila chọn đúng cái ô mình đã ngồi cùng người mẹ đeo mạng.
- Chúng tôi chưa có tin tức gì. - Berish nói ngay để cô gái khỏi nuôi hy vọng. - Nhưng cô có thể giúp chúng tôi nắm rõ những gì đã xảy ra.
Sau khi ngồi xuống, Laura đặt trước mặt mình một gói Malboro và chiếc bật lửa hiệu Zippo han gỉ.
- Rose là một người thường xuyên gặp rắc rối. - Cô vừa nói vừa gõ gõ chiếc bật lửa xuống bàn. - Thường thì tôi là người đi giải quyết cho bà ta.
Căn cứ theo cử chỉ và giọng điệu của Laura thì rõ ràng mối quan hệ giữa hai mẹ con chẳng mấy tốt đẹp. Nội việc cô gái dùng chữ “bà ta” để chỉ mẹ mình cũng cho thấy điều đó, Mila nhủ thầm.
- Rose không thể tự lo cho bản thân. - Cô phục vụ nói tiếp và châm một điếu thuốc. - Bà ta thích lặn mất tăm vài tuần rồi xuất hiện trở lại trong đời tôi bất cứ khi nào mình muốn. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi bặt tin tức của bà ta suốt ba tháng.
- Cô có thể nói thêm một chút về bác ấy được không? - Berish đeo kính và rút quyển sổ nhỏ từ trong túi áo khoác ra.
Laura phả một bụm khói.
- Rose năm mươi sáu tuổi rồi, dù luôn bảo mọi người rằng mình chỉ ba sáu, và cư xử như mới mười sáu. Trước đây nơi này thuộc về bà ta, nhưng rồi bà để lại cho tôi và chỉ quay lại đây mỗi khi cần tiền. Rose chưa từng có chồng và luôn miệng tuyên bố rằng mình ở vậy nuôi con, trong khi tôi mới là người chăm sóc bà ta.
Chân dung người mẹ không lấy gì làm đẹp đẽ. Mila tự hỏi liệu Laura có cảm thấy thương mẹ chút nào, bất chấp mọi chuyện.
- Từ một năm nay, Rose khám phá ra một cách thức mới để hủy hoại bản thân: vùi mình vào mạng xã hội.
Lại nữa rồi , Mila nghĩ bụng. Nhưng cô không tin bà Rose bị rơi vào nanh vuốt của Due : các phụ nữ trung niên thường không thích trò chơi điện tử.
- Mẹ cô tìm kiếm điều gì trên đó?
- Anh chị cũng biết rồi: đó là nơi hoàn hảo cho những kẻ thích phô trương bản thân. Bà ta liên tục đăng hình và cả những thông tin cá nhân nữa, cứ như thể cuộc sống chết tiệt của mình chỉ xoay quanh cõi mạng. Tôi đã cố gắng bằng mọi cách nói cho bà ta hiểu rằng mọi chuyện sẽ đi đến một kết cục xấu. Nhưng Rose cứ cho rằng mình làm mọi người vui, bà ta không phân biệt được đâu là lời khen, đâu là sự chế giễu. Và những người khác luôn biết tranh thủ điều đó.
- Có mối liên hệ nào giữa một con rắn màu ngọc lục bảo với mẹ cô hay không? - Berish hỏi.
Laura cởi bớt nút áo sơ mi và kéo từ bên trong ra một mặt dây chuyền. Đó là một con kỳ nhông màu xanh.
- Kiểu như thế này á?
Berish đưa mắt nhìn Mila và cô gật đầu: nó khá tương đồng với con rắn cô đã trông thấy tại Nơi khác .
- Dạo sau này bà ta hay làm các món nữ trang để bán trên mạng. Khỏi phải nói chắc anh chị cũng hiểu chuyện đó chỉ vừa đủ để bà ta trang trải chi phí. Con rắn mà anh chị nhắc tới là tác phẩm đầu tiên. Chiếc nhẫn đó chưa bao giờ rời tay bà ta.
Mila nhớ lại cú cắn của con vật, nhưng lập tức xua đuổi hình ảnh đó ra khỏi đầu.
- Có phải cô nghĩ rằng mẹ mình đã mất tích không?
- Vâng. - Cô gái xác nhận.
- Vậy tại sao cô chưa báo cảnh sát?
- Tôi báo rồi mà! - Laura bực tức đáp. - Nhưng cho đến tận hôm nay không một ai xuất hiện.
Mila và Berish kín đáo nhìn nhau.
- Làm thế nào lại không có chút dấu vết gì của việc trình báo tại Minh Phủ nhỉ? - Cô hỏi nhỏ.
Berish lắc đầu, anh cũng không có câu trả lời.
- Có thể là do cái email đó. - Cô gái phỏng đoán.
- Email nào cơ?
- Nó xuất hiện trước khi tôi báo cảnh sát. Trong email, Rose viết là mình đã gặp gỡ một người đàn ông và đi sang Guadeloupe để tận hưởng tình yêu mới.
Mila đã hiểu ra sự tình: do email đó nên người cảnh sát tiếp nhận thông tin đã cho rằng đây là một vụ tự nguyện bỏ nhà ra đi và không cần phải chuyển cho Minh Phủ.
- Cô có chắc đó là email của mẹ mình không? - Mila chất vấn.
- Quyết định đi ra nước ngoài sống cùng một người đàn ông mới gặp có vẻ khá giống với bà ta. Email cũng được gửi từ tài khoản riêng của Rose. - Laura xác nhận. - Nhưng nếu anh chị hỏi liệu tôi có chắc nó được chính tay bà ta viết hay không, thì câu trả lời là không.
- Ý cô là sao?
- Đầu óc của Rose tưng tửng là vậy, nhưng bà ta có trí nhớ của loài voi. Thế mà trong email này lại có một số chi tiết không ăn khớp.
Laura rời phòng trong vài phút trước khi quay lại cùng với bản in của email mà mọi người đang nhắc đến. Nó được gửi từ tháng Mười hai năm ngoái.
“Laura cưng, tia nắng của mẹ,” cô gái đọc. “Một điều tuyệt vời đã đến với mẹ: mẹ đã gặp một người đàn ông lý tưởng. Chàng tên là Tom, và mẹ đã lập tức mê mệt chàng. Mẹ biết con đang nghĩ rằng đây lại là một trò điên khùng khác của mẹ. Nhưng lần này thì con đã nhầm, vì chàng cũng yêu mẹ điên cuồng. Con đừng có giận nhé, bọn mẹ đã quyết định chuyển sang Guadeloupe để sống cùng nhau. Con biết mẹ thích nắng đến thế nào rồi đấy. Mẹ luôn muốn dưỡng già trên một hòn đảo vùng Caribê, và giờ thì giấc mơ đó đã thành hiện thực. Ngay khi ổn định chỗ ở, mẹ sẽ viết cho con (mẹ không gọi điện đâu vì con sẽ lại mắng mỏ, và mẹ không muốn để cho con làm hỏng hạnh phúc của mẹ). Mẹ đã trao đổi với Tom, và chàng nghĩ sẽ rất tuyệt nếu con có thể sang thăm bọn mẹ vào đúng dịp sinh nhật con ngày 26 tháng Sáu. Chàng rất nóng lòng muốn gặp cô con gái riêng của bà xã. Mẹ mong con sẽ thấy vui với hạnh phúc của mẹ. Yêu con, Rose.”
Laura đặt tờ giấy xuống bàn và nhìn họ.
- Đấy, hai người thấy thế nào?
- Chi tiết không khớp là gì? - Berish hỏi.
- Rose không bao giờ nghĩ đến chuyện “dưỡng già”, kể cả khi say xỉn. Ngoài ra, đúng là Rose thích những hòn đảo vùng Caribê, nhưng bà rất sợ đi máy bay, và dù sở hữu một quán bar trên bến cảng, nội việc nhìn một con tàu thôi cũng đủ làm bà say sóng rồi.
- Tôi thấy như thế chưa đủ để loại trừ khả năng tự nguyện bỏ nhà ra đi. - Anh cảnh sát phản bác.
- Chưa hết đâu. Điều lạ lùng nhất là sinh nhật của tôi.
- Không phải cô sinh ngày 26 tháng Sáu sao?
- Đó là những gì được ghi trong giấy tờ thôi, bởi vì mẹ tôi đã quên làm khai sinh cho tôi suốt một tuần lễ. Tôi chào đời ngày 19, và hồi còn bé, sinh nhật tôi luôn được làm vào ngày này.
Mila đã nhận ra Laura đang muốn nói gì.
- Cô cho rằng mẹ mình đang gặp nguy hiểm và cố gửi cho cô một thông điệp mà chỉ cô mới hiểu.
- Ai đó đã ép buộc bà viết email này, - cô gái khẳng định, - để tôi không tìm kiếm nữa và cũng không báo cảnh sát. Nhưng Rose đã tìm được cách lồng vào đó những chi tiết không ăn khớp mà tôi có thể nhận ra. Email này là một lời kêu cứu.
Sau khi tìm kiếm trong vô vọng suốt ba tháng trời một ai đó chịu nghe câu chuyện của mình, Laura Ortis rất mừng rỡ khi được gặp họ. Cô gái thậm chí còn đưa cho hai người chìa khóa căn hộ của mẹ mình. Cô đã ghé qua đó, nhưng đôi mắt nhà nghề của các cảnh sát chắc chắn phải giỏi hơn cô trong việc phát hiện những điểm bất thường.
- Em nghĩ sao? - Berish hỏi Mila trong lúc họ băng qua khu phố Hà Lan cũ, nơi người phụ nữ mất tích từng sống.
Cô ngẫm nghĩ trong giây lát, rồi đáp với giọng cẩn trọng:
- Em rất muốn nói rằng có những tình tiết cho thấy câu chuyện của cô con gái là đáng tin. Nhưng nếu không bắt gặp manh mối con rắn trong trò chơi, em sẽ không thấy có lý do gì để tiến hành điều tra.
Trải qua biết bao nhiêu năm tháng ngồi tại Minh Phủ, cô đã nhiều lần xử lý những vụ mất tích mà thật ra chỉ là cuộc trốn chạy vì tình hoặc bắt cóc có sự đồng thuận của nạn nhân. Một số người thậm chí còn dàn cảnh cái chết của mình để khỏi phải tiết lộ một sự thật xấu xí với người thân, chẳng hạn như việc họ bị phá sản, không chung thủy hoặc chưa từng tốt nghiệp đại học.
Theo lời cô con gái thì bà Rose là một người lập dị. Nhưng quyết định đột ngột chuyển ra nước ngoài sống cùng một người đàn ông mới quen cũng không đến nỗi quá phi lý. Ngược lại, nó khá thường gặp.
Bà Rose sống trong một chung cư gồm có hồ bơi và các khối nhà ba tầng bao quanh được xây từ thời thập niên sáu mươi. Hiện tại thì hồ bơi không có nước và được sử dụng như sân tập trượt ván.
Mila và Berish đến nơi vào tầm 11 giờ, sau khi đã tạt qua Minh Phủ để lấy túi dụng cụ phát hiện máu và dấu tay. Vì lý do ngân sách, trụ sở chỉ cử đội khoa học hình sự đến những hiện trường vụ án đã được khẳng định, và dần dần các phòng ban bắt đầu tìm ra cách để tự xoay xở mà không có họ.
Căn hộ nhỏ nằm trên tầng hai. Mila và Berish nhận ra nó nhờ con số gắn trên cửa. Khi mở cửa bước vào, họ thấy dưới sàn nhà ngổn ngang nhiều tờ quảng cáo cũ.
- Thật vô lý khi Laura tiếp tục trả tiền thuê dù chẳng có ai sống ở đây. - Berish nhận xét trong lúc đưa găng tay cho Mila. - Chắc cô ấy nghĩ mẹ mình có thể quay về bất kỳ lúc nào.
- Hoặc là Laura đang chờ đợi ai đó điều tra vụ việc một cách nghiêm túc. - Mila đáp trong lúc đeo găng tay.
Hai người nhìn quanh để quyết định xem nên bắt đầu từ đâu.
Căn hộ được bài trí khá khiêm tốn: phòng khách với căn bếp mở, phòng ngủ có một tủ tường nhỏ và buồng tắm kín. Đồ nội thất là một mớ hỗn độn về phong cách, tạo nên tổng thể khá nhức mắt. Một sofa và một ghế bành được phủ bằng tấm khăn mang phong cách hippy, sàn trải thảm phương Đông, giường quây màn trang trí, rồi nào lư hương, nào tượng Phật với các kích cỡ khác nhau và cả một loạt đồ mỹ nghệ Trung Hoa được bày biện trong nhà.
Trên bàn ăn có một chiếc máy tính.
- Anh xem xét căn hộ, em lo cái máy tính. - Berish phân công.
May mắn là căn hộ chưa bị cắt điện, nên Mila có thể bước vào thế giới của Rose. Bà có tài khoản trên mọi mạng xã hội, việc truy cập cũng không cần mật mã hay biện pháp bảo vệ gì đặc biệt, do vậy cô dễ dàng khám phá thế giới ảo của người mất tích.
Điều đầu tiên đập vào mắt Mila là những lần truy cập trang cá nhân cuối cùng của bà Rose xảy ra cách đây ít nhất cũng đã ba tháng, trước thời điểm mất tích. Đối với một người nghiện mạng xã hội, chuyện này rất bất thường. Bởi vì Laura Ortis nói đúng: bà Rose chia sẻ gần như toàn bộ mọi thứ lên mạng. Mila biết nhiều người không có cuộc sống viên mãn nên tìm cách bù đắp bằng số lượt thích và người theo dõi. Tuy nhiên, ngoài tính viển vông của sự công nhận đó và nguy cơ của việc phơi bày bản thân trước con mắt hiếu kỳ của thiên hạ, người ta thường tự hỏi liệu những kẻ mắc chứng nghiện mạng xã hội thực sự có thể rời xa Internet được bao lâu.
Mila dừng lại trước một trong số nhiều tấm ảnh mà người phụ nữ mất tích đã đăng lên mạng.
Rose đứng tươi cười. Phía sau lưng bà là một trảng cỏ trên núi với nhiều con ngựa đang gặm cỏ. Bà đã tẩy tóc và trang điểm đậm, nhất là vùng mắt. Trên tay bà đeo một chiếc nhẫn lớn có gắn con rắn màu ngọc lục bảo, vật bất ly thân theo lời của cô con gái.
Trong lúc đó Berish mở các cánh cửa tủ và ngăn kéo.
- Em có tìm được gì hay ho không? - Anh hỏi vọng ra từ trong phòng ngủ.
- Có nhiều thứ lắm, nhưng không một dấu vết nào của gã Tom bí ẩn kia.
- Quần áo bị thiếu nhé. - Berish tuyên bố.
Trong tủ đồ chỏng chơ những chiếc mắc áo. Mọi thứ cho thấy người phụ nữ đã thực sự thu dọn đồ đạc để ra đi.
Việc tìm kiếm trên Internet không thu được kết quả gì. Mila tin rằng nếu có kẻ muốn dàn dựng vụ mất tích của Rose Ortis như một vụ tự ý bỏ nhà ra đi, thì hắn cũng không mấy khó khăn trong việc xóa sạch mọi sự hiện diện của mình trên mạng xã hội.
Có lẽ tốt hơn cô nên tập trung vào những bằng chứng vật chất. Mila nhập bọn với Berish.
Trước hết, cô tiến về phía một chiếc bàn phấn có gương, loại tương tự thứ mà Pascal đã dùng trong những nơi ẩn náu của mình. Xét về các món hóa trang, mỹ phẩm và sản phẩm làm đẹp, Rose Ortis quả là vô địch. Bà có mọi thứ, từ lông mi giả cho tới kính áp tròng, son môi đủ các tông màu và những món đồ mà Mila chưa từng thấy trước đây.
Cô ấn tượng nhất với bộ sưu tập nhiều lọ pha lê màu xanh được xếp thành hàng trên một cái kệ. Chúng rỗng không, nhưng chắc đã từng đựng nước hoa của Rose. Mila đoán mỗi khi dùng hết một lọ, thay vì vứt đi bà lại thêm nó vào bộ sưu tập.
- Trong này không có gì khả nghi. - Berish nói với cô từ trong bếp.
Chiếc tủ lạnh thường tiết lộ nhiều điều thú vị. Những ai dàn dựng một vụ tự nguyện bỏ đi để che giấu một tội ác nào đó - giết người hoặc trộm cắp chẳng hạn - thường rất giỏi trong việc thu dọn đồ đạc cá nhân, nhưng lại hay quên vứt bỏ thức ăn. Mức độ hư hỏng của thực phẩm cho phép phán đoán được điều gì đã xảy ra và thời điểm của vụ việc.
Mila đi vào trong buồng tắm. Cô mở bồn cầu, mở nắp chặn rác của cống thoát nước để xem liệu có ai vứt gì xuống đó phi tang hay không. Cô không quên xem xét các vòi nước và từng ô gạch. Không có bàn chải đánh răng và điều này củng cố giả thiết tự nguyện ra đi, nhưng ánh mắt cô bắt gặp một cái khăn mặt màu trắng.
Ở một góc khăn, cô phát hiện một vết nhỏ màu nâu.
- Anh lại mà xem này. - Cô gọi Berish. - Đây có thể là máu.
Berish xem xét cái khăn. Dĩ nhiên việc tìm thấy vết máu trên một chiếc khăn không phải là hiếm. Một con mắt không có kinh nghiệm sẽ chẳng thấy điều đó đáng lo ngại. Nhưng Berish và Mila có lý do để quan tâm đến nó.
- Hình dạng của nó không ổn chút nào. - Anh tuyên bố.
Nhờ kỹ thuật BPA - phân tích mẫu vết máu - người ta có thể phát hiện ra đủ thứ khi phân tích một hay nhiều vết máu. Vết máu trước mắt họ có hình dạng kéo dài, cho thấy máu không phải bị nhỏ xuống, mà bắn ra. Nó có thể phụ thuộc vào một số nguyên nhân: khoảng cách từ điểm xuất phát, tốc độ khi va chạm với cái khăn mặt, lực tác động của vật thể đã gây ra thương tích.
Mọi người đều thấy rõ những vết máu do một người sơ suất khi cạo râu để lại khác xa những vết máu do súng bắn.
Vết máu họ đang quan sát gợi ý về một lực tác động mạnh.
- Cũng đáng để thử. - Berish khẳng định.
Họ lấy các thứ cần thiết từ trong túi dụng cụ mang theo.
- Chúng ta cần biết liệu Rose có được ai thăm viếng trước khi biến mất hay không. Anh kiểm tra vết máu với luminol nhé, em sẽ tìm kiếm dấu vân tay. - Mila đề xuất.
Hai người tự chia dụng cụ cho nhau.
Berish cầm theo một bình xịt và một máy ảnh rồi giam mình trong buồng tắm để tìm các vết máu. Có thể chúng đã được xóa đi, nhưng việc sử dụng các sản phẩm tẩy rửa vệ sinh thông thường không ngăn được việc phát hiện ra chúng nhờ một loại hóa chất có tên 3-aminophthalhydrazide. Nó có thể phát hiện máu ở nồng độ pha loãng 1 phần 5 triệu. Tuy vậy, hiệu ứng phát quang của phương pháp phát hiện vết máu này không kéo dài, do đó để thu thập bằng chứng người ta cần phải chụp ảnh trước khi nó chấm dứt.
Nhiệm vụ của Mila ít phức tạp hơn và có nhiều cơ may thành công hơn. Ai cũng để lại dấu tay, cô đã được dạy như thế tại trường cảnh sát. Và thường thì người ta không nhận ra nó. Dấu tay có thể được phát hiện trên bề mặt của một đồ vật ngay cả sau một thời gian dài. Dĩ nhiên kết quả cũng tùy theo loại vật liệu, nhưng trong trường hợp này Mila chỉ việc lựa chọn vì cô có cả một căn hộ đầy đồ đạc.
Cô đã quên mất công việc tìm kiếm dấu tay có thể gây phấn khích như thế nào. Một dấu tay tiềm ẩn là manh mối đầu tiên để xác định danh tính của một người lạ. Thường thì trong hình hoa văn xoắn ốc để lại bởi sự đụng chạm của một đầu ngón tay, người ta có thể cảm nhận được một chút về chủ nhân của nó. Chẳng hạn như, hành động cầm nắm đó mạnh hay nhẹ, có bị ảnh hưởng bởi sự cấp bách hay sợ hãi không. Cũng giống như những nhà di truyền học đoán được ngoại hình của người khác chỉ bằng cách xem xét ADN của họ.
Cũng giống như Berish, Mila không có những dụng cụ tinh vi cho công việc tìm dấu vết sơ bộ này. Cô phải bằng lòng với phương pháp truyền thống, vốn chỉ cho phép họ kiểm tra một cách hời hợt. Nhưng đối với những gì họ hy vọng tìm thấy, như vậy là đủ.
Đầu tiên, cô dùng “bột nhận dạng” - thường là gốc nhôm, có từ tính hoặc phát quang - và chải nó bằng cọ. Thứ bột này sẽ bám vào các chất nước hoặc dầu, qua đó tiết lộ hoa văn của dấu vân tay.
Mila kiểm tra những bề mặt nhẵn, nhưng không thấy dấu tay nào xuất hiện. Điều này cho thấy ai đó đã cẩn thận xóa chúng đi. Như vậy nghĩa là người này có gì đó cần giấu giếm.
Cô lặp lại thao tác trên các vật liệu khác, kết quả vẫn như thế.
Lạ thật, cô nghĩ thầm. Trên nhựa, thủy tinh hoặc kim loại, người ta ưa dùng cyanoacrylate hơn, nhưng cô lại không có buồng xông ở đây.
Điều đáng quan tâm là cô không tìm thấy cả dấu tay của kẻ đột nhập lẫn dấu tay của chủ nhân căn hộ. Cô bèn đi kiểm tra các lọ nước hoa. Lại một kết quả thất vọng khác.
Berish bước ra khỏi buồng tắm với bộ dạng tiu nghỉu: anh cũng không phát hiện được gì.
- Không có dấu vân tay. - Cô tuyên bố.
- Nếu ai đó đã lau dọn căn hộ, tức là đã xảy ra chuyện gì bất thường. - Berish đáp, khẳng định kết luận của Mila.
- Còn một điều này nữa. - Cô nói thêm. - Cứ như thể chưa ai từng sống ở đây vậy. Chúng ta giống như hai người đầu tiên đặt chân lên sao Hỏa.
Cảnh sát thường dùng từ “tay quỷ” để gọi những điểm bất hợp lý có nguy cơ ảnh hưởng đến logic của một cuộc điều tra.
- Không thể nào. - Berish thốt lên.
Một đốm nâu không có dấu vết tiềm ẩn, đó là tất cả những gì họ có.
Mila lập tức nghĩ đến một sự dàn cảnh tinh vi hơn nhiều so với thứ mà các đồng nghiệp của cô đã đối mặt ở trang trại Anderson, khi họ tìm thấy máu của các nạn nhân nhưng không tìm được thi thể.
Một trò lừa gạt khác của Enigma.
- Em có một linh cảm xấu. - Cô cựu cảnh sát nói. - Không chỉ Rose Ortis chưa từng đến Guadeloupe, mà bà ta cũng chưa hề chuyển đi từ đây.
- Vậy đề xuất của em là gì?
- Có lẽ anh nên để Hitch nhập cuộc.
Hovawart không phải là giống chó chuyên phát hiện tử thi, nhưng chúng có khứu giác đặc biệt nhạy bén. Người ta thường nhờ đến chúng để tìm nạn nhân mất tích sau các thảm họa tự nhiên. Nhưng dù thế nào thì Hitch cũng là lựa chọn duy nhất của họ.
Trong khi Berish đi về nhà đón chú chó, Mila cân nhắc các hệ lụy của vụ việc.
Cô hoàn toàn không biết vai trò của Rose Ortis trong trò chơi của Enigma là gì, cũng như kẻ muốn hãm hại một phụ nữ có vẻ vô tội như vậy. Điều duy nhất cô đoan chắc là bà đã có một kết thúc bất hạnh. Bản năng mách bảo Mila điều đó, cộng với nội dung của email kia. Laura tin rằng mẹ mình gặp nguy hiểm, nhưng cô gái nghĩ nhiều hơn đến một vụ bắt cóc. Về phần mình, Mila biết việc quản lý con tin rất phức tạp và chỉ có những kẻ chuyên nghiệp mới tiến hành loại tội ác nhiều rủi ro đó, dĩ nhiên với điều kiện nó liên quan đến một mối lợi về kinh tế.
Thế nhưng Rose Ortis lại không giàu. Do vậy khả năng duy nhất là bà đã chết.
Một phụ nữ độc thân có lối sống phóng túng là con mồi hoàn hảo cho những kẻ thú tính. Bất hạnh thay, với những chi tiết ít ỏi thu được, họ không thể thiết lập phương thức ra tay cũng như chữ ký của hung thủ. Nhưng mọi kẻ giết người, dù là có tổ chức đến đâu đi nữa, đều phạm sai lầm một cách có chủ ý. Đó là một phần bản chất của chúng.
Về chủ đề này, cô nhớ bố của Alice từng nhắc đến nghịch lý “con lừa của Buridan”.
Jean Buridan là một triết gia của thế kỷ XIV. Ông ta kể câu chuyện về một con lừa phân vân giữa một đống rơm và một xô nước do không biết phải bắt đầu từ đâu, đến nỗi chết vì đói lẫn khát. Các nhà tội phạm học - cũng như một vài nhà kinh tế học - thường sử dụng ví dụ này để lý giải cho “tư duy kinh tế” của con người mà theo đó, khác với loài vật, một người luôn biết phải lựa chọn điều gì, và sự lựa chọn của anh ta được quyết định bởi mức độ hữu ích.
Dù sao thì, những cá nhân duy nhất không làm được phép tính mang tính thực dụng này là những kẻ thú tính. Chúng thường bị dẫn dắt bởi một nhu cầu phi lý.
Mila biết nhiều kẻ trong số chúng, sau khi giết chóc, bỗng cảm thấy có nhu cầu lấy đi một món đồ thuộc về nạn nhân, hay “bái vật”, theo tiếng lóng của cảnh sát, cho dù hành động đó có nguy cơ khiến chúng bị phát hiện. Đó là một nhu cầu không thể chối từ.
Nó cho phép bọn chúng được sống lại tội ác đã thực hiện một cách kín đáo, trong trí tưởng tượng của mình.
Cô còn nhớ một tên sát nhân đã cởi áo sơ mi của người phụ nữ mình vừa siết cổ, và sau khi giặt sạch nó, hắn đem tặng cho nhân tình. Cô ả này không hề biết và cứ thế mặc chiến lợi phẩm trước mắt bạn bè người thân. Điều đó càng làm tăng sự tự mãn của kẻ giết người.
Trong khi quan sát căn hộ của Rose Ortis, cô không loại trừ khả năng hung thủ có thể lấy đi một món lưu niệm nào đó. Nhưng việc dàn cảnh một vụ bỏ nhà ra đi đã làm cho việc tìm kiếm món đồ đó trở nên bất khả thi.
Đến đây thì Berish gõ cửa căn hộ và Mila ra mở cửa. Hitch bước vào căn hộ, lững thững dạo quanh một cách biếng nhác.
- Cứ để cho nó làm quen. - Anh cảnh sát nói. - Nó không làm công việc này đã một thời gian rồi.
Trong khi hai người quan sát chú chó khám phá mọi thứ, Mila nhận ra cô đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào thử nghiệm. Hitchcock có lẽ đã quá già cho nhiệm vụ này.
- Chúng ta phải cho nó một thứ gì để đánh hơi. - Berish nói.
- Nước hoa của Rose có được không? Chắc chắn phải còn sót lại một chút trong mấy cái lọ màu xanh đằng kia.
Berish lắc đầu, cắt ngang sự hào hứng của cô.
- Chúng ta có vết máu, đúng không nào? Tại sao ta không dùng nó?
- Anh nghĩ một vết máu nhỏ như vậy cũng đủ à?
Berish nhìn Mila và đáp:
- Hãy tin ở nó.
Họ gọi Hitch đến và cho nó đánh hơi cái khăn mặt tìm được trong buồng tắm. Con chó rà mõm vào đó rồi lùi ra xa, trước khi quay lại để đánh hơi một lần nữa. Nó lặp lại hành động bốn lần, rồi tiến đến cửa ra vào của căn hộ và đưa chân cào nhẹ.
- Nó muốn chúng ta ra ngoài. - Mila reo lên, hy vọng lại khấp khởi trong lòng.
Không nói không rằng, Berish mở cửa.
Hitch hạ mõm sát đất và dẫn họ đến cầu thang của tòa nhà. Tại đó, nó tỏ ra phân vân và đổi hướng hai, ba lần.
- Anh đoán nó đã bị nhầm lẫn. - Chủ nhân của chú chó thốt lên với giọng ngờ vực.
- Điều gì khiến anh nghĩ như vậy?
- Anh hiểu nó mà. Chưa kể, dù có đi theo hướng nào thì giờ đây mùi hương cũng đã bị nhiễu quá nhiều.
Mila tự hỏi vì sao Berish lại chấp nhận cho chú chó vào cuộc nếu anh thiếu tin tưởng như vậy.
Họ đi theo cầu thang xuống tầng trệt và tiến đến trước một cánh cửa bằng kim loại, có lẽ mở vào phòng đặt máy sưởi.
Sau khi đã chắc chắn không có ai quanh đó, Berish phá cửa. Hitch lập tức lao vào bên trong như thể đã tìm được sự khẳng định mà mình đang tìm kiếm.
Hai người bám theo con chó. Hóa ra đây là phòng đặt máy lọc nước của hồ bơi, vốn không còn được sử dụng đã nhiều năm nay.
- Nó đã đánh hơi thấy gì đó. - Berish khẳng định khi chứng kiến sự hào hứng đột ngột của Hitch.
Mila thầm mong con chó không nhầm lẫn.
Trong khi đó, Hitch tiến lại gần một cánh cửa có khe hở rộng phía dưới. Nhận ra ý định của con chó, Berish cố ngăn nó lại, nhưng bất chấp kích thước lớn của mình, nó đã chui qua khe hở, biến mất khỏi tầm nhìn của họ.
- Khỉ gió. - Berish văng tục trước khi lấy đà và tống một cú đá thật mạnh vào núm cửa.
Một không gian nhỏ hiện ra trước mắt họ, với đủ thứ đường ống trên trần và dây điện lòi ra từ trong tường gạch.
Con chó đang di chuyển tới lui một cách bứt rứt trong đó.
Berish tiến đến gần để trấn an và cho nó chút thức ăn.
- Giỏi lắm, anh bạn già. - Anh nói với nó, trước khi quay về phía Mila. - Ở đây chẳng có gì.
Tuy vậy, từ trên ngưỡng cửa, cô còn đang mải nhìn chằm chằm bức tường phía bên phải.
- Chuyện gì thế? - Berish hỏi.
Cô giơ tay chỉ vào ba con số được khắc trên lớp gạch.
- Lần này thì chúng ta chỉ có vĩ độ. - Cô thốt lên, không hiểu phần còn lại nằm ở đâu. - Em nghĩ chúng ta nên xem có gì phía sau những con số này.
Berish có vẻ không mấy tin tưởng, nhưng anh vẫn bước ra ngoài, trước khi quay lại cùng một thanh sắt.
- Giữ nó lại. - Anh hất hàm chỉ con chó.
Mila túm lấy cổ dề của Hitch trong lúc chủ nhân của nó đục tường. Mỗi lần thanh sắt đập vào gạch, một tiếng động đinh tai lại vang vọng khắp căn hầm. Những mảng tường rơi xuống, lỗ hổng càng lúc càng to ra. Cuối cùng, họ trông thấy một thứ gì đó phía sau bức tường.
Một chiếc va li màu đen, rất lớn, bị khóa lại bằng một ổ khóa.
Khi cái lỗ trên tường đủ to, Berish nắm lấy quai của chiếc va li để nhấc nó ra ngoài. Chiếc va li nặng nề rơi thịch xuống sàn.
Anh cảnh sát đưa mắt nhìn Mila như chờ đợi sự đồng thuận của cô. Khi cô gật đầu, anh dùng thanh sắt phá tung ổ khóa.
Berish nâng nắp va li lên, nín thở chờ đợi điều tồi tệ nhất.
Tuy vậy, trong đó chỉ có quần áo và các vật dụng cá nhân được xếp gọn ghẽ của bà Rose.
Bà ta là người đã xếp chúng, Mila nhủ thầm. Kẻ nào đó đã lừa cho bà tin rằng chuyến đi kia là thật, nhưng chỉ để làm bà im miệng.
Khi lục lọi trong đống đồ đạc, Berish tìm thấy chiếc nhẫn có con rắn màu ngọc lục bảo, một cái búa dính đầy máu đã khô và thứ gì đó trông giống như những mảnh óc. Trên đó họ thậm chí còn tìm thấy những sợi tóc đã tẩy màu.
Hitch bắt đầu sủa điên cuồng khiến Mila rất vất vả trong việc giữ nó lại. Họ đã có bằng chứng cần tìm, nhưng cuộc truy lùng hung thủ chỉ mới bắt đầu.
Những phát hiện sau cùng đáng lo ngại hơn cả: một tạp chí khiêu dâm, thứ rõ ràng không liên quan gì với nạn nhân. Bên trong tạp chí, ai đó đã cắt bỏ những phần khuôn mặt của các cô gái trong ảnh.
Những cái mắt, mũi, miệng và tai bị khoét mất với sự chính xác của một nhà giải phẫu. Và một sự biến thái không thể gọi tên.